TIN TỨC VỀ THUẾ

Quảng Nam: Huyện Đại Lộc lắp camera chống thất thu thuế tài nguyên

Quảng Nam: Huyện Đại Lộc lắp camera chống thất thu thuế tài nguyên

Đại Lộc (Quảng Nam) là một huyện được thiên nhiên ưu đãi với nhiều tài nguyên, khoáng sản. Tuy nhiên, việc kê khai, nộp thuế còn chưa tương xứng với thực tế, dẫn đến thất thu. Trước thực tế đó, cơ quan thuế phối hợp với chính quyền địa phương lắp đặt camera để quản lý, chống thất thu thuế.

>>>Xem thêm  THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<

Theo Cục Thuế Quảng Nam, huyện Đại Lộc hiện có 17 doanh nghiệp được UBND tỉnh cấp Giấy phép khai thác cát, sỏi còn hiệu lực. Trong đó, Chi cục Thuế huyện Đại Lộc đang quản lý kê khai, nộp thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường theo phân cấp đối với 5 doanh nghiệp; Cục Thuế Quảng Nam quản lý 5 doanh nghiệp; có 3 doanh nghiệp thuộc diện vãng lai (doanh nghiệp trong, ngoài tỉnh có mỏ tại Đại Lộc); có 1 doanh nghiệp chưa khai thác, 3 doanh nghiệp không khai thác do thiếu hồ sơ liên quan đến bến bãi tập kết, bến thủy nội địa và nhân dân không cho khai thác vì gây ảnh hưởng đến sạt lở đất sản xuất.

Qua rà soát của Cục Thuế Quảng Nam, kết quả kê khai thuế tài nguyên từ hoạt động khai thác tài nguyên cát từ năm 2018 đến hết tháng 4/2019, sản lượng khai thác được các doanh nghiệp kê khai thuế tăng, tuy nhiên không tương xứng với tình hình thực tế. Cụ thể, năm 2018 tổng sản lượng khai thác được kê khai thuế là 472.963,2 m3, tăng 103% so với năm 2017. 4 tháng đầu năm 2019 sản lượng kê khai thuế là 75.366,6 m3, so với cùng kỳ, tăng 21,9%.

Theo Chi cục Thuế huyện Đại Lộc, hiện nay bên cạnh doanh nghiệp tự giác kê khai thuế từ hoạt động khai thác tài nguyên, khoáng sản trên địa bàn, còn có doanh nghiệp không tự giác kê khai thuế, nộp thuế, thậm chí tìm mọi cách để cố tình trốn thuế. Việc khai thác và cung cấp, nhất là cung cấp cát cho xây dựng nhà ở của hộ gia đình trong huyện, kể cả địa bàn thuộc TP. Đà Nẵng, nhưng không xuất hóa đơn, không kê khai thuế đang diễn ra hằng ngày.

Trước tình hình đó, thực hiện chỉ đạo của UBND tỉnh Quảng Nam và Cục Thuế Quảng Nam về việc thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp nhằm tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước về tài nguyên khoáng sản cát, sỏi, cũng như quản lý thuế đối với hoạt động khai thác cát, sỏi trên sông Vu Gia, Thu Bồn, UBND huyện Đại Lộc đã tổ chức hội nghị đối với các doanh nghiệp khai thác khoáng sản trên địa bàn.

Với vai trò là cơ quan thường trực chống thất thu thuế, Chi cục Thuế huyện Đại Lộc cũng đã phối hợp với chính quyền địa phương thành lập Tổ kiểm tra liên ngành việc chấp hành các quy định trong hoạt động khoáng sản đối với các tổ chức, cá nhân trên địa bàn, tiến hành kiểm tra việc sử dụng phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ trên khâu lưu thông và tại một số địa điểm khai thác cát.

Về phía Cục Thuế tỉnh Quảng Nam, để công tác quản lý thuế đối với hoạt động khai thác tài nguyên được thống nhất, đúng hướng, cục thuế cũng đã có chỉ đạo cụ thể về công về quản lý thuế đối với hoạt động khoáng sản. Theo chỉ đạo này, Chi cục Thuế huyện Đại Lộc đã lắp đặt camera, đầu ghi, màn hình tại trụ sở Chi cục Thuế, kết nối internet với Công ty Thành Sơn (tại Hà Nha, xã Đại Đồng) để giám sát.

Kết quả sau khi lắp camera cho thấy, tháng 1/2019 đã kê khai thuế 4.863m3, tăng 255% so với tháng 12/2018; so với bình quân tháng trong năm 2018 tăng 30%; bình quân 4 tháng năm 2019 (4.542m3) so với bình quân 4 tháng năm 2018 (3.750m3) tăng 21% .

Với kết quả trên cho thấy, việc lắp đặt camera kết nối internet từ nơi khai thác, vận chuyển tới trụ sở cơ quan thuế đã đem lại hiệu quả tích cực. Đây là giải pháp cấp thiết, hữu hiệu cần làm ngay và mở rộng trong toàn tỉnh, góp phần chống thất thu cho ngân sách./.

Khánh Lê - Nhật Minh
Tổng cục Thuế thông báo tuyển dụng 434 công chức năm 2019

Tổng cục Thuế thông báo tuyển dụng 434 công chức năm 2019

Tổng cục Thuế vừa có thông báo tuyển dụng 434 công chức thuế đợt 1 năm 2019. Theo thông báo, các chỉ tiêu tuyển dụng công chức đợt này sẽ được Tổng cục Thuế tuyển cho các địa phương là: TP. Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai, Tây Ninh và Bà Rịa – Vũng Tàu.
 
 

Trong tổng số 434 chỉ tiêu được tuyển dụng đợt này, ngạch chuyên viên là 8 chỉ tiêu; ngạch kiểm tra viên thuế là 353 chỉ tiêu; ngạch chuyên viên làm công nghệ thông tin là 11 chỉ tiêu; ngạch văn thư là 4 chỉ tiêu; ngạch kiểm tra viên trung cấp thuế là 38 chỉ tiêu; ngạch cán sự làm công nghệ thông tin là 5 chỉ tiêu và ngạch văn thư trung cấp là 15 chỉ tiêu.

Điều kiện chung được đăng ký tuyển dụng: tất cả các thành phần nam, nữ không phân biệt dân tộc, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo. Cụ thể, có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam; tuổi đời đủ 18 tuổi trở lên; có đơn dự tuyển, có lý lịch rõ ràng; có văn bằng, chứng chỉ phù hợp; có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt; đủ sức khoẻ để thực hiện nhiệm vụ.

Những người không được tham dự tuyển dụng là: không cư trú tại Việt Nam; mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự; đang chấp hành hoặc đã chấp hành xong bản án, quyết định về hình sự của tòa án mà chưa được xóa án tích; đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh, cơ sở giáo dục…

Xem thông tin tuyển dụng chi tiết và mẫu đơn đăng ký tuyển dụng tại đây:

Văn Tuấn
 
Chấm dứt hoạt động một số đại lý làm thủ tục hải quan

Chấm dứt hoạt động một số đại lý làm thủ tục hải quan

Tổng cục Hải quan vừa ban hành các quyết định chấm dứt hoạt động một số đại lý hải quan và thu hồi mã số nhân viên đại lý làm thủ tục hải quan tại Hà Nội, Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh, Bà Rịa – Vũng Tàu, Hải Phòng do không đáp ứng quy định của Luật Hải quan 2015, Thông tư 12/2015/TT-BTC.

Cụ thể, tại quyết định 1638/QĐ-TCHQ, Tổng cục Hải quan chấm dứt hoạt động đại lý làm thủ tục hải quan đối với Công ty cổ phần SAIGONSHIP Đà Nẵng, địa chỉ Khu công nghiệp dịch vụ thủy sản Thọ Quang, phường Thọ Quang, quận Sơn Trà, TP. Đà Nẵng do công ty có văn bản đề nghị ngừng hoạt động này.

Tại quyết định 1676/QĐ-TCHQ, Tổng cục Hải quan chấm dứt hoạt động đại lý làm thủ tục hải quan đối Công ty TNHH Melody Logistics, địa chỉ: 83/10A Nguyễn Thượng Hiền, phường 5, quận Bình Thạnh, TP. Hồ Chí Minh do không thực hiện nghiêm túc và đầy đủ chế độ báo cáo với cơ quan hải quan trong 3 lần liên tiếp theo quy định tại Điều 13 Thông tư số 12/2015/TT-BTC.

Đồng thời với 2 quyết định nêu trên, Tổng cục Hải quan đã ban hành hàng loạt quyết định thu hồi mã số nhân viên đại lý làm thủ tục hải quan do chấm dứt hợp đồng lao động với công ty chủ quản.

Cụ thể là thu hồi mã số nhân viên đại lý làm thủ tục hải quan của ông Nguyễn Đăng Long, Công ty TNHH Dịch vụ kho vận PTL (tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu); ông Trần Minh Sơn, Công ty cổ phần thương mại và dịch vụ Móng Cái (TP. Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh); ông Nguyễn Ngọc Chung, Công ty TNHH Thành Phố Hàng Không (quận Long Biên, TP. Hà Nội); ông Lê Trần Hoàng Trinh, Công ty TNHH Liên doanh kho vận giao nhận Gia Định (khu công nghiệp Sóng Thần 1, Dĩ An, Bình Dương); bà Võ Thị Xuân Hiền, Công ty TNHH Xuất nhập khẩu và vận tải quốc tế An Xun (quận 4, TP. Hồ Chí Minh); ông Nguyễn Đình Tú, Công ty TNHH Container (quận Hải An, TP. Hải Phòng); ông  Phan Minh Huy, Công ty TNHH Melody Logistics (quận Bình Thạnh, TP.Hồ Chí Minh)…/.

Ngọc Linh
 
Tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính đối với công chức thanh tra thuế

Tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính đối với công chức thanh tra thuế

Tổng cục Thuế vừa có công văn yêu cầu các cục thuế tiếp tục đẩy mạnh, tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính, phòng ngừa vi phạm, nâng cao hiệu quả hoạt động công vụ và uy tín của người làm công tác thanh tra, kiểm tra.
>>>Xem thêm  THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<

Cụ thể, các cục thuế tổ chức quán triệt, thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các nội dung nêu tại chỉ thị 769/CT-TTCP, như: Chấp hành nghiêm quy định về những việc công chức, viên chức không được làm theo quy định pháp luật; thực hiện nghiêm Chỉ thị số 10/CT-TTg ngày 22/4/2019 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường xử lý, ngăn chặn có hiệu quả tình trạng nhũng nhiễu, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp trong giải quyết công việc.

Tiếp tục quán triệt và thực hiện nghiêm pháp luật về công vụ, công chức, pháp luật về thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng; thực hiện nghiêm quy trình chuyên môn nghiệp vụ; siết chặt kỷ luật, kỷ cương, tăng cường trách nhiệm, nâng cao đạo đức nghề nghiệp của công chức, viên chức thanh tra trong thực thi công vụ, nhiệm vụ.

Các cục thuế thực hiện tốt quy chế làm việc của cơ quan, đơn vị; quy tắc ứng xử của cán bộ thanh tra, nhất là trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu, của công chức, viên chức thanh tra trong tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống, trong thực hiện nhiệm vụ thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng; sử dụng có hiệu quả thời gian làm việc, tài sản công; cụ thể hóa nhiệm vụ, trách nhiệm của từng công chức, viên chức…

Bên cạnh đó, Tổng cục Thuế yêu cầu các cục thuế tiếp tục triển khai hiệu quả các nội dung liên quan tới phòng ngừa sai phạm nội bộ ngành Thuế, các kỹ năng kiểm tra nội bộ, khiếu nại tố cáo và phòng chống tham nhũng; cảnh báo các hành vi tham nhũng của công chức thuế trong hoạt động công vụ...

>>>Xem thêm  Cục Thuế Đà Nẵng phấn đấu thu vượt ít nhất 5% dự toán năm 2019; Triển khai hợp nhất 106 chi cục thuế thành 49 chi cục thuế khu vực<<<

Đức Minh
Cục Thuế Đà Nẵng phấn đấu thu vượt ít nhất 5% dự toán năm 2019

Cục Thuế Đà Nẵng phấn đấu thu vượt ít nhất 5% dự toán năm 2019

Báo cáo của Cục Thuế Đà Nẵng cho biết, số thu cục thuế ước thực hiện 6 tháng đầu năm 2019 đạt 12.765,2 tỷ đồng, đạt 54,4% dự toán năm và tăng 11% (so với cùng kỳ năm 2018). Cục Thuế Đà Nẵng sẽ phấn đấu thu vượt ít nhất 5% dự toán năm 2019.

>>>Xem thêm  THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<

 

Thu 6 tháng ước đạt 54,4% dự toán

Ông Trương Công Khoái - Phó Cục trưởng Cục Thuế Đà Nẵng cho biết, thu ngân sách do cục thuế thực hiện ước 6 tháng đầu năm 2019 đạt 12.765,2 tỷ đồng, đạt 54,4% dự toán năm và tăng trưởng 11% (so với cùng kỳ năm 2018).

Nếu loại trừ các yếu tố tăng, giảm thu do chính sách và các khoản thu đột biến, thì tổng thu nội địa không kể tiền sử dụng đất ước thực hiện tăng 13,9%.

Một số lĩnh vực thu, sắc thuế tăng thu so với cùng kỳ như: Khu vực doanh nghiệp nhà nước Trung ương ước thực hiện là 781,1 tỷ đồng, đạt 68,2% dự toán và tăng 39%; khu vực công thương nghiệp và dịch vụ ngoài quốc doanh ước thực hiện là 2.862,9 tỷ đồng, đạt 48% dự toán và tăng 16,9%.

Có 3 khoản thu tăng 30% đến trên 40% là: Thuế thu nhập cá nhân ước thực hiện 1.492,6 tỷ đồng, đạt 60,9% dự toán và tăng 42,5%; lệ phí trước bạ ước thực hiện 664,1 tỷ đồng, đạt 53,1% dự toán và tăng 35%; thuế bảo vệ môi trường ước thực hiện 946,3 tỷ đồng, đạt 45,6% dự toán và tăng 39,6%.

Bên cạnh các khoản thu, sắc thuế tăng cao, thì một số lĩnh vực thu, sắc thuế giảm thu so với cùng kỳ như: Thu tiền sử dụng đất ước thực hiện 2.058,6 tỷ đồng, đạt 82,3% dự toán và bằng 93,1%; thu tiền cho thuê mặt đất, mặt nước ước thực hiện 471,3 tỷ đồng, đạt 58,9% dự toán và bằng 87,9% cùng kỳ; thu khác ngân sách ước thực hiện 247,9 tỷ đồng, đạt 41,3% dự toán và bằng 70,9%.

Cục Thuế Đà Nẵng cũng cho biết, một số khoản thu có số nộp thấp so với cùng kỳ như: Tiền phạt bằng 73%, khoản thu hồi các khoản chi năm trước bằng 30%, thu tiền bán tài sản bằng 4%…

Triển khai quyết liệt các đề án chống thất thu

Trước tình hình thực tế trên đây, đại diện Cục Thuế Đà Nẵng cho biết, trong quý III/2019, đơn vị sẽ tiếp tục giao nhiệm vụ thu ngân sách đến các phòng thuộc cục thuế và các chi cục thuế quận, huyện; chú trọng công tác theo dõi, nắm bắt tình hình kinh doanh, đánh giá tình hình kê khai nộp thuế của doanh nghiệp trên địa bàn để có giải pháp thu phù hợp.

“Chúng tôi cũng sẽ triển khai quyết liệt các biện pháp quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế, phấn đấu đạt chỉ tiêu thu tiền thuế nợ và tỷ lệ nợ giao; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra thuế theo kế hoạch, đảm bảo số lượng và chất lượng công tác thanh tra, kiểm tra; chú trọng và nâng cao hiệu quả về mức truy thu bình quân trên mỗi cuộc thanh tra, kiểm tra thuế” - ông Khoái nói.

Ngoài việc tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và thu hồi nợ thuế, Cục Thuế Đà Nẵng cho biết sẽ triển khai quyết liệt các kế hoạch chống thất thu thuế theo đề án của TP. Đà Nẵng về chống thất thu thuế đối với các lĩnh vực, ngành nghề có rủi ro cao về thuế.

Đẩy mạnh cải cách hành chính và hiện đại hoá công tác quản lý thuế, trong đó, tập trung triển khai các nội dung trong chương trình cải cách và hiện đại hoá của ngành; triển khai mạnh mẽ công tác rà soát các thủ tục hành chính thuế để đề nghị sửa đổi, bổ sung cho phù hợp nhằm đơn giản hóa các thủ tục hành chính thuế.

“Chúng tôi sẽ tiếp tục kiện toàn, củng cố tổ chức bộ máy, tăng cường công tác cán bộ, đảm bảo vận hành quy trình quản lý thuế được thông suốt, hiệu lực, hiệu quả; tăng cường kỷ cương, kỷ luật hành chính, thường xuyên giáo dục chính trị, tư tưởng cho công chức, người lao động, phấn đấu hoàn thành vượt ít nhất 5% dự toán được giao” - ông Khoái nói./.

Năm 2019 phấn đấu thu đạt tối thiểu 24.651 tỷ đồng

Trên cơ sở ước thu ngân sách nhà nước 6 tháng đầu năm 2019, Cục Thuế Đà Nẵng ước tổng thu nội địa cả năm 2019 là 24.651,6 tỷ đồng, đạt 105% dự toán và bằng 106,3% so với cùng kỳ. Tổng thu nội địa không kể tiền sử dụng đất ước thực hiện 21.651,6 tỷ đồng, đạt 103,2% dự toán và bằng 117,4% so với cùng kỳ. Như vậy, nếu mục tiêu trên đạt được, thì số thu năm 2019 của Cục Thuế Đà Nẵng tiếp tục đạt và vượt dự toán được giao, đóng góp quan trọng vào số thu chung của toàn hệ thống thuế trong năm 2019.

Công Phương - Nhật Minh
Phát triển các kỹ năng kế toán nhằm hướng đến thông tin tài chính hữu ích

Phát triển các kỹ năng kế toán nhằm hướng đến thông tin tài chính hữu ích

Để đáp ứng các yêu cầu đổi mới kế toán của Việt Nam phù hợp với tiến trình hội nhập quốc tế, một trong những nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu đó là việc nâng cao các kỹ năng, kiến thức của người làm kế toán. “Người làm kế toán cần có các kỹ năng để xử lý dữ liệu và trình bày các dữ liệu đó trên Báo cáo tài chính (BCTC), biến các con số khô khan trở thành các con số biết nói” đây là lời chia sẻ của ông Trịnh Đức Vinh – Phó Cục trưởng Cục Quản lý giám sát kế toán và kiểm toán (Bộ Tài chính).

>>>Xem thêm  Tổng kế toán Nhà nước sẽ là nền móng trong công cuộc cải cách quản lý tài chính công tại Việt Nam<<

 

Ông đánh giá như thế nào khi chế độ kế toán (CĐKT) coi trọng phương pháp ghi chép sổ thông qua các giao dịch?

Ông Trịnh Đức Vinh: Trước đây chúng ta thường nghĩ rằng, kế toán chủ yếu là việc ghi chép (BOOKEEPING) các giao dịch kinh tế phát sinh tại đơn vị. Nhiệm vụ của kế toán là tổng hợp, phân tích thông tin và trình bày BCTC, tuy nhiên trong nhiều trường hợp, việc trình bày BCTC chưa được nhấn mạnh là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu của người làm kế toán. Kèm theo đó, do còn mang nặng yêu cầu quản lý Nhà nước, kế toán được hướng đến mục đích đảm bảo số thu ngân sách hơn là phục vụ chính công tác quản trị, điều hành của bản thân DN (DN). Vì vậy, chế độ kế toán (CĐKT) hướng đến coi trọng phương pháp ghi chép, lập các bút toán định khoản, phương pháp kế toán chịu ảnh hưởng nặng nề của các quy định về thuế, như: Yêu cầu các DN phải thực hiện hệ thống tài khoản thống nhất về số hiệu, tên gọi; Một số loại chứng từ kế toán, hệ thống sổ kế toán và các hình thức sổ kế toán phải theo mẫu và quy trình bắt buộc… với những lý do đó người làm công tác kế toán chưa nhận thức được vai trò tiên quyết của kế toán là phục vụ việc ra quyết định quản lý điều hành của chủ DN (nhà đầu tư) hơn là phục vụ mục đích thuế. Do vậy, chưa thoát ra được cái bóng của người ghi sổ (BOOKEEPER).

Ngay cả trên bình diện quốc tế, trước đây Ủy ban Chuẩn mực kế toán (CMKT) quốc tế (IASB) cũng đặt tên cho Chuẩn mực của mình là CMKT quốc tế (IAS) nhưng nay đã và đang chuyển đổi thành Chuẩn mực BCTC quốc tế (IFRS). Việc đổi tên gọi Chuẩn mực quốc tế không đơn thuần chỉ là việc thay tên đổi họ cho một hệ thống Chuẩn mực, vấn đề cốt lõi là muốn nhấn mạnh đến mục đích của Chuẩn mực là cung cấp thông tin trên BCTC chứ không phải là ghi chép kế toán.

Tôi cho rằng, việc ghi chép ban đầu trên sổ kế toán, tập hợp các thông tin trên hóa đơn đầu vào là công đoạn đầu tiên và chỉ đóng vai trò thứ yếu, chưa thể coi là tất cả công việc cần phải làm, sản phẩm cuối cùng của người làm kế toán chính là BCTC. Việc công bố BCTC sẽ được sử dụng công khai và có hiệu quả, theo tôi đây chính là thành công của người làm kế toán.

Trong bối cảnh hiện nay, người làm kế toán đã có sự thay đổi như thế nào trong công tác kế toán, thưa ông?

Trong bối cảnh tin học hóa diễn ra mạnh mẽ, hầu hết các DN đã sử dụng phần mềm cho công tác kế toán. Các phần mềm ngày càng hiện đại, càng giúp tiết kiệm công sức của người làm kế toán, làm thay nhiệm vụ của một BOOKEEPER, người làm công tác kế toán không còn phải lập các bút toán định khoản như trước đây, khi làm kế toán thủ công. Vì vậy, kỹ năng định khoản lập các bút toán kế toán không còn được xem trọng, dần chuyển thành kỹ năng nhập dữ liệu là chính.

Tôi chia sẻ rằng, kế toán trước đây cũng như ngày nay hướng đến việc cung cấp thông tin tài chính hữu ích cho người sử dụng BCTC nên người làm kế toán cần phải được trang bị các kỹ năng và kiến thức để lập và trình bày BCTC một cách hợp lý và trung thực. Trong quá trình lập BCTC, phần lớn thời gian được dùng để thu thập và xử lý dữ liệu, đây mới là công việc chính của người làm kế toán, việc nhập dữ liệu không phải là công việc mất nhiều thời gian, kỹ năng và công sức, thậm chí không cần đến người làm công tác kế toán phải đích thân nhập dữ liệu. Trên thực tế, thông tin tài chính ban đầu lại không xuất phát từ phòng kế toán mà đến từ các bộ phận kỹ thuật, kinh doanh, nghiên cứu thị trường, tổ chức..., người làm kế toán căn cứ vào các thông tin thô (các số liệu khô khan chưa có ý nghĩa và chưa có giá trị sử dụng), được các bộ phận liên quan cung cấp để xử lý thành thông tin tài chính hữu ích (các thông tin có giá trị sử dụng cho việc ra quyết định kinh tế).

? Với tình hình trên, ông đưa ra những lời khuyên nào cho người làm kế toán để đáp ứng với yêu cầu đổi mới và hội nhập, thưa ông?

Ông Trịnh Đức Vinh: Theo tôi, để đáp ứng yêu cầu đổi mới về lĩnh vực kế toán tại Việt Nam hiện nay, người làm kế toán cần phải trang bị những kỹ năng và kiến thức như sau:

Thứ nhất, do yếu tố quyết định đối với phương pháp kế toán là bản chất và cách thức vận hành của giao dịch kinh tế nên người làm kế toán cần phải có các kiến thức về các giao dịch kinh tế và bản chất của các giao dịch. Bên cạnh đó, người làm kế toán cũng cần nắm vững các nguyên tắc kế toán thì mới có thể lựa chọn các nguyên tắc kế toán phù hợp khi phản ánh các giao dịch kinh tế phát sinh và biết cách vận dụng các nguyên tắc lý thuyết của chuẩn mực kế toán vào từng tình huống cụ thể của thực tiễn đơn vị.

Thứ hai, nhiều quy định của Chuẩn mực yêu cầu sử dụng các kỹ năng tính toán tài chính, như tính dòng tiền chiết khấu, xác định giá trị hợp lý, giá trị có thể thu hồi, ước tính tổn thất...; Ngoài ra, do nhiệm vụ của kế toán là cung cấp thông tin hữu ích cho việc ra quyết định quản lý của chủ DN nên người làm kế toán phải có được các kiến thức về tài chính, nắm được kỹ năng tổng hợp và phân tích thông tin tài chính quá khứ và dự báo trong tương lai.

Thứ ba, người làm kế toán phải hiểu được yêu cầu của người sử dụng BCTC để có thể cung cấp thông tin tài chính hữu ích. Như trên tôi đã nói, phần lớn dữ liệu đầu vào cho kế toán không xuất phát từ bộ phận kế toán, như vậy người làm kế toán cần biết cách lấy dữ liệu, tức là đưa ra yêu cầu cụ thể đối với các bộ phận liên quan (bộ phận kỹ thuật, kinh doanh, chiến lược, thẩm định giá...) để họ có thể cung cấp được dữ liệu theo đúng yêu cầu cho việc lập và trình bày BCTC.

Thứ tư, khi đã có dữ liệu được cung cấp, người làm kế toán cần có các kỹ năng để xử lý dữ liệu và trình bày các dữ liệu đó trên BCTC, biến các con số khô khan trở thành các con số biết nói.

Thứ năm, thực hiện nghĩa vụ với ngân sách Nhà nước luôn là một nhiệm vụ không thể thiếu của DN, vì vậy người làm kế toán phải có các kiến thức về kê khai, quyết toán thuế.

Tôi cho rằng, tất cả các kỹ năng nêu trên đều có vai trò và vị trí của nó, tuy nhiên các kỹ năng lập và trình bày BCTC, các hiểu biết về bản chất và cách thức vận hành của các giao dịch kinh tế đóng vai trò then chốt vì thiếu nó, người làm công tác kế toán không thể cung cấp được thông tin tài chính hữu ích cho người sử dụng BCTC phục vụ việc ra các quyết định quản lý, điều hành – mục đích chính của công tác kế toán. Các kỹ năng ghi sổ kế toán (lập các bút toán định khoản), kê khai thuế đóng vai trò thứ yếu, chỉ mang tính chất hỗ trợ cho mục đích chính của công tác kế toán.

Xin cảm ơn ông!

PL

Tổng kế toán Nhà nước sẽ là nền móng trong công cuộc cải cách quản lý tài chính công tại Việt Nam

Tổng kế toán Nhà nước sẽ là nền móng trong công cuộc cải cách quản lý tài chính công tại Việt Nam

Kế toán công là công cụ quan trọng để quản lý hiệu quả các nguồn lực tài chính của một quốc gia đồng thời hỗ trợ Chính phủ đưa ra các quyết định tài chính quan trọng, đây là nội dung được ông Tạ Anh Tuấn – Tổng Giám đốc Kho bạc Nhà nước nêu tại Hội thảo "Kế toán Việt Nam - Tương lai và Triển vọng" do Hội Kế toán và Kiểm toán Việt Nam tổ chức mới đây.

>>>Xem thêm  Quyết liệt cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước<<

Bước đầu xây dựng Đề án Tổng kế toán Nhà nước tại Việt Nam

Phát biểu tại Hội thảo, ông Tạ Anh Tuấn cho biết: Trong những năm gần đây, quá trình cải cách kế toán công đã, đang diễn ra mạnh mẽ tại rất nhiều quốc gia và trở thành xu thế chung hướng đến áp dụng phương pháp kế toán dồn tích cho toàn bộ khu vực công và lập Báo cáo tài chính Chính phủ nhằm mục tiêu cải thiện chất lượng quản lý tài chính công.

Với yêu cầu ngày càng phức tạp của công tác quản lý tài chính nhà nước, yêu cầu phản ánh đầy đủ, kịp thời cũng như công khai và minh bạch thông tin tài chính nhà nước ở Việt Nam, đòi hỏi phải nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác kế toán nhà nước, để vừa đảm bảo vận dụng một cách phù hợp, linh hoạt những nguyên tắc, thông lệ và chuẩn mực kế toán công quốc tế, vừa đảm bảo phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam. Do đó, tại Quyết định số 138/2007/QĐ-TTg ngày 21/8/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược phát triển Kho bạc Nhà nước (KBNN) đến năm 2020 và Quyết định số 108/2009/QĐ-TTg ngày 26/8/2009 của Thủ tướng Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cơ cấu tổ chức KBNN thuộc Bộ Tài chính, Chính phủ đã giao cho hệ thống KBNN chức năng Tổng KTNN (nay là Quyết định số 26/2015/QĐ-TTg ngày 08/7/2015 của Thủ tướng Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cơ cấu tổ chức của Kho bạc Nhà nước trực thuộc Bộ Tài chính).

“Tổng KTNN được hiểu là mô hình tổ chức, vận hành các yếu tố cấu thành KTNN (với 3 yếu tố nòng cốt là: khung pháp lý, tổ chức bộ máy và nguồn nhân lực; hệ thống thông tin), thực hiện kế toán tại các đơn vị thuộc khu vực Nhà nước nhằm đạt mục tiêu tổng hợp và lập Báo cáo tài chính nhà nước (BCTCNN) cho từng địa phương và cho toàn quốc”, ông Tạ Anh Tuấn chia sẻ.

Với sự quan tâm của toàn bộ hệ thống Kho bạc Nhà nước, tình hình triển khai Đề án Tổng KTNN đã đạt được một số kết quả bước đầu quan trọng như việc: Xây dựng khung pháp lý; Xây dựng hệ thống thông tin Tổng KTNN; Tổ chức bộ máy và nguồn nhân lực triển khai thực hiện Tổng KTNN.

Tập trung nguồn lực triển khai Đề án Tổng Kế toán Nhà nước

Ông Tạ Anh Tuấn cho biết: Xác định Tổng Kế toán là nhiệm vụ trọng tâm trong Chiến lược phát triển của KBNN giai đoạn tới, phát huy các kết quả đã đạt được trong thời gian qua, toàn bộ hệ thống KBNN đã và đang tập trung toàn bộ nguồn lực để triển khai Đề án Tổng KTNN, với các nhiệm vụ sau:

Thứ nhất, nhiệm vụ trước mắt (lập thành công BCTCNN đầu tiên). Với nhiệm vụ này, trong năm 2019, chính thức vận hành Hệ thống thông tin Tổng KTNN; triển khai thí điểm lập BCTCNN; hoàn thành BCTCNN tỉnh đầu tiên, trình UBND tỉnh để báo cáo HĐND tỉnh (tháng 11/2019); đến tháng tháng 5/2020, hoàn thành BCTCNN toàn quốc đầu tiên, trình Chính phủ để báo cáo Quốc hội.

Thứ hai, có định hướng cải cách trung và dài hạn. Về định hướng này, tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý: một mặt, cần hoàn thiện các chế độ kế toán chưa được ban hành; rà soát, sửa đổi các văn bản pháp lý hiện hành để cải thiện chất lượng nguồn thông tin đầu vào của BCTCNN; mặt khác, ban hành theo lộ trình Chuẩn mực kế toán công của Việt Nam trên cơ sở phù hợp với thông lệ quốc tế và phù hợp với đặc thù riêng của Việt Nam để tiến tới từng bước áp dụng kế toán dồn tích thống nhất trong khu vực kế toán nhà nước.

Nâng cấp Hệ thống thông tin Tổng KTNN theo hướng kết nối/giao diện với hệ thống thông tin của các cơ quan, đơn vị thuộc khu vực nhà nước, kết nối với mạng lưới của Chính phủ điện tử, tiến tới xây dựng hệ thống dữ liệu tài chính nhà nước tập trung để cung cấp số liệu tài chính nhà nước nhanh chóng, chính xác, góp phần rút ngắn thời gian lập BCTCNN xuống còn khoảng 6-9 tháng.

Cùng với đó nâng cao chất lượng, hiệu quả nguồn nhân lực làm công tác kế toán trong khu vực nhà nước thông qua cải cách tổ chức bộ máy kế toán khu vực nhà nước; tiến hành đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, năng lực chuyên môn.

Ngoài ra, tiếp tục đẩy mạnh công tác truyền thông để tạo được sự ủng hộ từ các cấp quản lý, các Bộ, ngành, địa phương cũng như sự chia sẻ của dư luận về những khó khăn, thách thức trong những năm đầu lập BCTCNN.

Tổng KTNN, cụ thể là BCTCNN, là một nội dung mới, lần đầu tiên được thực hiện ở Việt Nam và tương đối phức tạp với phạm vi ảnh hưởng rộng đến hầu hết các cơ quan, đơn vị, tổ chức thuộc khu vực nhà nước. Đây có thể được xem là nền móng quan trọng, làm tiền đề cho các giai đoạn hoàn thiện tiếp theo, góp phần vào công cuộc cải cách quản lý tài chính công tại Việt Nam để tiến đến một nền tài chính ngày càng công khai, minh bạch, phù hợp với thông lệ quốc tế.

PL

Triển khai hợp nhất 106 chi cục thuế thành 49 chi cục thuế khu vực

Triển khai hợp nhất 106 chi cục thuế thành 49 chi cục thuế khu vực

Theo quyết định của Bộ trưởng Bộ Tài chính, trong đợt triển khai này sẽ thực hiện hợp nhất 106 chi cục thuế thuộc 16 cục thuế tỉnh, thành phố để thành lập 49 chi cục thuế khu vực, giảm 57 chi cục thuế. Đây là thông tin được Tổng cục Thuế công bố chiều 13/6.

>>>Xem thêm  THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<< 

Giảm 57 chi cục thuế sau khi hợp nhất

Báo cáo tại hội nghị, ông Vũ Xuân Bách - Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ (Tổng cục Thuế) cho biết, đây là lần thứ 3 Tổng cục Thuế triển khai việc hợp nhất các chi cục thuế quận, huyện thành chi cục thuế khu vực thuộc cục thuế tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

Ông Bách cho biết, đợt triển khai này sẽ tiến hành tại 16 tỉnh, thành phố. “Đây là đợt triển khai lớn nhất từ trước đến nay. Theo quyết định của Bộ trưởng Bộ Tài chính, trong đợt triển khai này sẽ thực hiện hợp nhất 106 chi cục thuế thuộc 16 cục thuế tỉnh, thành phố để thành lập 49 chi cục thuế khu vực, giảm 57 chi cục thuế” - ông Bách thông tin.

Nói về lý do lựa chọn 16 đơn vị để triển khai trong đợt này, ông Bách cho biết, sau khi rà soát, căn cứ vào đề án của các đơn vị, Tổng cục Thuế xét thấy đơn vị nào có phương án triển khai thuận lợi, được tỉnh ủy, UBND tỉnh đồng thuận, nhất trí triển khai thì Tổng cục Thuế sẽ lựa chọn để thực hiện.

Ông Bách cho biết thêm, để triển khai hợp nhất các chi cục thuế quận, huyện thành các chi cục thuế khu vực, có rất nhiều công việc phải làm, trong đó quan trọng nhất là các cục thuế phải xây dựng phương án chuyển tổ chức đảng của chi cục thuế về trực thuộc đảng bộ cục thuế tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương để thống nhất công tác chỉ đạo, điều hành, cũng như công tác tổ chức cán bộ của ngành trong thời gian tới.

“Để các chi cục thuế khu vực đi vào hoạt động, các cục thuế phải thực hiện rất nhiều công việc liên quan, thông thường như các đợt triển khai trước đây, các cục thuế phải mất khoảng 1 tháng để triển khai. Khi các đơn vị hoàn thành công tác triển khai, cần báo cáo về Tổng cục Thuế để đăng ký ngày trao quyết định, cũng như đăng ký thời điểm chi cục thuế khu vực chính thức đi vào hoạt động để bộ phận công nghệ thông tin thực hiện các nghiệp vụ kỹ thuật cần thiết” - ông Bách nói.

Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, ông Bùi Văn Nam - Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế cho biết, việc sắp xếp, hợp nhất các chi cục thuế quận, huyện thuộc cục thuế tỉnh thành các chi cục thuế khu vực thuộc cục thuế tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương là chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước, Bộ Tài chính. Do đó, yêu cầu các cục thuế thực hiện nghiêm túc. Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc thì báo cáo Tổng cục Thuế để có giải pháp tháo gỡ kịp thời. Ông Nam cũng lưu ý, việc triển khai sắp xếp, bố trí nhân sự phải thực hiện công khai, minh bạch, không gây xáo trộn, đảm bảo sau khi hợp nhất, các chi cục thuế khu vực hoạt động hiệu quả 

 Các chi cục thuế hợp nhất sẽ chính thức đi vào hoạt động từ 1/8

Phát biểu tại buổi làm việc, đại diện các cục thuế triển khai lần này cho biết, hiện các đơn vị đã thực hiện công việc cần thiết để triển khai hợp nhất chi cục thuế quận, huyện trực thuộc thành chi cục thuế khu vực thuộc cục thuế tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, khi Tổng cục Thuế chỉ đạo, sẽ triển khai ngay.

Phát biểu tại buổi làm việc, ông Trần Văn Phước - Cục trưởng Cục Thuế An Giang cho biết, đơn vị đã báo cáo tỉnh ủy, UBND tỉnh và đã được tỉnh ủy, UBND tỉnh thống nhất triển khai.

“Hiện nay mọi công tác chuẩn bị đã hoàn thất, căn cứ vào các tiêu chí được Tổng cục Thuế hướng dẫn, chúng tôi đã lựa chọn các nhân sự cụ thể cho chức danh chi cục trưởng chi cục thuế khu vực, cũng như cấp đội. Việc lựa chọn nhân sự là công khai, minh bạch” - ông Phước nói.

Cũng theo đại diện Cục Thuế An Giang, các công việc việc khác như: Chuyển đảng bộ cục thuế về đảng ủy khối các cơ quan tỉnh vẫn đang được cục thuế báo cáo, xin ý kiến Ban Thường vụ tỉnh ủy để triển khai. Công tác chuyên môn khác không gặp vướng mắc, do đó, cục thuế dự kiến sẽ công bố quyết định thành lập chi cục thuế khu vực vào cuối tháng 7/2019, chính thức triển khai từ 1/8/2019.

Ông Nguyễn Duy Thể - Cục trưởng Cục Thuế Bắc Kạn cũng cho biết, trong đợt triển khai này, Cục Thuế Bắc Kạn sẽ tiến hành sắp xếp, hợp nhất 6 chi cục thuế để thành lập 2 chi cục thuế khu vực, giảm 4 chi cục thuế so với hiện nay. Hiện mọi công tác chuẩn bị cho việc hợp nhất cũng đã hoàn tất, kể cả phương án nhân sự cấp chi cục trưởng chi cục thuế khu vực, cũng như cấp đội thuế.

Ông Mai Sơn - Cục trưởng Cục Thuế Hà Nội cho biết, hiện cục thuế đã nhận được quyết định thành lập các chi cục thuế khu vực của Bộ trưởng Bộ Tài chính. “Đến nay Cục Thuế Hà Nội đã chuẩn bị các bước cho việc hợp nhất như thành lập ban chỉ đạo, báo cáo Thành ủy, UBND để triển khai, phân công nhiệm vụ cho các đầu mối, quán triệt đến toàn thể cán bộ, công chức… Dự kiến, chúng tôi sẽ công bố quyết định thành lập chi cục thuế khu vực vào ngày 15/7/2019, chính thức đi vào hoạt động từ 1/8/2019” - ông Sơn nói.

Phương án sắp xếp, hợp nhất của 16 cục thuế

- Cục Thuế An Giang: Hợp nhất 8 chi cục thuế thành 4 chi cục thuế khu vực (giảm 4 chi cục thuế).

- Cục Thuế Bắc Kạn hợp nhất 6 chi cục thuế thành 2 chi cục thuế khu vực (giảm 4 chi cục thuế);.

- Cục Thuế Điện Biên hợp nhất 4 chi cục thuế thành 2 chi cục thuế khu vực (giảm 2 chi cục thuế).

- Cục Thuế Hà Nội hợp nhất 6 chi cục thuế thành 3 chi cục thuế khu vực (giảm 3 chi cục thuế).

- Cục Thuế Hậu Giang hợp nhất 4 chi cục thuế thành 2 chi cục thuế khu vực (giảm 2 chi cục thuế).

- Cục Thuế Khánh Hòa hợp nhất 5 chi cục thuế thành 2 chi cục thuế khu vực (giảm 3 chi cục thuế).

- Cục Thuế Sơn La hợp nhất 12 chi cục thuế thành 6 chi cục thuế khu vực (giảm 6 chi cục thuế).

- Cục Thuế Quảng Ngãi hợp nhất 2 chi cục thuế thành 1 chi cục thuế khu vực (giảm 1 chi cục thuế).

- Cục Thuế Long An hợp nhất 12 chi cục thuế thành 5 chi cục thuế khu vực (giảm 7 chi cục thuế).

- Cục Thuế Phú Thọ hợp nhất 2 chi cục Thuế thành 1 chi cục thuế khu vực (giảm 1 chi cục thuế).

- Cục Thuế Quảng Bình hợp nhất 6 chi cục thuế thành 3 chi cục thuế khu vực (giảm 3 chi cục thuế).

- Cục Thuế Kon Tum hợp nhất 2 chi cục thuế thành 1 chi cục thuế khu vực (giảm 1 chi cục thuế).

- Cục Thuế Tiền Giang hợp nhất 9 chi cục thuế thành 4 chi cục thuế khu vực (giảm 5 chi cục Thuế).

- Cục Thuế Phú Yên hợp nhất 4 chi cục thuế thành 2 chi cục thuế khu vực (giảm 2 chi cục thuế).

- Cục Thuế Nghệ An hợp nhất 20 chi cục thuế thành 9 chi cục thuế khu vực (giảm 11 chi cục thuế).

- Cục Thuế Lâm Đồng hợp nhất 4 chi cục thuế thành 2 chi cục thuế khu vực (giảm 2 chi cục thuế).

>>>Xem thêm  Tiếp tục cắt giảm 28 chi cục thuế tại 9 địa phươngQuý III/2019, phải hoàn thành hợp nhất chi cục thuế khu vực<<<

Nhật Minh

Hơn 44.000 tỷ đồng hoàn thuế bằng phương thức điện tử

Hơn 44.000 tỷ đồng hoàn thuế bằng phương thức điện tử

Theo báo cáo của Tổng cục Thuế, tổng số doanh nghiệp (DN) đã được hoàn thuế giá trị gia tăng (GTGT) bằng phương thức điện tử là 5.288, đạt tỷ lệ 94,7% số DN thuộc diện được hoàn thuế. Tổng số hồ sơ đã giải quyết hoàn là 7.260 hồ sơ. Tổng số tiền đã giải quyết hoàn là hơn 44.074 tỷ đồng

>>>Xem thêm  Thành lập Công ty tại Hội An<<< 

Kể từ khi dịch vụ hoàn thuế điện tử chính thức được triển khai (4/8/2017) đến nay, hệ thống đã mở rộng cung cấp dịch vụ nộp thuế điện tử cho người nộp thuế tại 63 tỉnh, thành phố.

Báo cáo cho thấy, đến ngày 31/5/2019, 5.288 DN đã tham gia hoàn thuế điện tử (tổng số DN thuộc diện được hoàn thuế là 5.582 DN), đạt tỷ lệ 94.73%; số hồ sơ tiếp nhận là 10.027 hồ sơ (tổng số 10.429 hồ sơ), đạt tỷ lệ 96,14%; tổng số hồ sơ hệ thống đã giải quyết hoàn là 7.260 hồ sơ, với tổng số tiền đã giải quyết hoàn là hơn 44.074 tỷ đồng.

Về khai thuế điện tử, báo cáo cho thấy, hệ thống khai thuế điện tử đã được triển khai tại 63/63 tỉnh, thành phố và 100% chi cục thuế trực thuộc. Tính đến ngày 31/5/2019 có 721.353 DN tham gia sử dụng dịch vụ khai thuế điện tử, đạt 99,98 % trên tổng số DN đang hoạt động, với số lượng hồ sơ khai thuế điện tử đã tiếp nhận là 6.660.202 hồ sơ.

Hiện Tổng cục Thuế cũng đã hoàn thành kết nối nộp thuế điện tử với 50 ngân hàng thương mại. Dịch vụ nộp thuế điện tử cũng đã được triển khai tại 63 cục thuế trực thuộc. Tính đến 31/5/2019, số lượng DN đã đăng ký tham gia sử dụng dịch vụ với cơ quan thuế là 714.202 DN, đạt tỷ lệ 99,33% trên tổng số DN đang hoạt động.

Số lượng DN hoàn thành đăng ký dịch vụ với ngân hàng là 705.753 DN, chiếm tỷ lệ 97,82% trên tổng số DN đang hoạt động, với số tiền thuế đã nộp là 298.088 tỷ đồng.

Cùng với việc đưa các ứng dụng công nghệ thông tin vào áp dụng trong việc khai thuế và nộp thuế, Tổng cục Thuế cũng đẩy mạnh triển khai cung cấp dịch công trực tuyến. Báo cáo cho thấy, số lượng thủ tục hành chính được cung cấp trực tuyến hiện nay là 133/304 đạt mức 3 trở lên.

Cả Tổng cục Thuế và 63 cục thuế đều đã có trang thông tin điện tử, cung cấp đầy đủ thông tin thuế.

Các nhóm dịch vụ công từ mức độ 3 trở lên gồm: kê khai hóa đơn qua mạng; kê khai sử dụng biên lai phí, lệ phí qua mạng; khai thuế qua mạng; nộp thuế điện tử; hoàn thuế điện tử; hệ thống cấp mã chống giả hóa đơn./.

>>>Xem thêm Thủ tục và quy trình hoàn thuế GTGT điện tửCục Thuế Hà Nội: Khẩn trương đưa hóa đơn điện tử vào cuộc sống <<<

NHẬT MINH

Tháng 5: thu ngân sách nội địa tăng thêm 88.200 tỷ đồng

Tháng 5: thu ngân sách nội địa tăng thêm 88.200 tỷ đồng

Với con số này, lũy kế 5 tháng đầu năm tổng số thu ngân sách do ngành thuế thực hiện ước đạt 508.608 tỷ đồng, bằng 43,5% dự toán, tăng 14,1% so với cùng kỳ năm 2017.

>>>Xem thêm  DỊCH VỤ THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<< 

Tại cuộc họp giao ban đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ tháng 5 diễn ra ngày 7/6, Tổng cục Thuế cho biết, với 88.200 tỷ đồng (tương đương 7,6% dự toán) huy động được trong tháng 5 thì luỹ kế 5 tháng đầu năm 2018, tổng số thu ngân sách do ngành thuế thực hiện ước đạt 508.608 tỷ đồng, bằng 43,5% dự toán pháp lệnh, tăng 14,1% so với cùng kỳ năm 2018. Trong đó, thu từ dầu thô ước đạt 23.371 tỷ đồng, bằng 52,4% dự toán; thu nội địa ước đạt 485.236 tỷ đồng, bằng 43,2% dự toán, tăng 15% so với cùng kỳ năm trước. Số thu không kể tiền sử dụng đất, cổ tức và lợi nhuận còn lại, thu từ xổ số kiến thiết ước đạt 405.588 tỷ đồng, bằng 42,7% dự toán, tăng 17% so với cùng kỳ năm 2018. Tuy nhiên, nếu không kể các khoản thu từ chênh lệch thu chi của NHNN thì thu nội địa trừ tiền SD đất, cổ tức và lợi nhuận còn lại và xổ số 5 tháng đầu năm chỉ đạt 42% dự toán, và tăng 12,2% so với cùng kỳ (đã loại trừ các khoản thu đột biến và tăng thu do chính sách).
 
Phân tích chi tiết hơn, Tổng cục Thuế cho hay, trong tổng số 18 khoản thu, sắc thuế được giao huy động, có 11 khoản đã đạt khá (trên 43%) so với dự toán và hầu hết các đều có mức tăng trưởng thu so với cùng kỳ. Một số khoản thu lớn ghi nhận tiến độ khá như: thuế TNCN ước đạt 48,2%, tăng 18%; lệ phí trước bạ đạt 44,3%, tăng 20,8%; thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên, khoáng sản đạt 98,6%, tăng 18,3%; thu từ xổ số đạt 61,6%, tăng 12,6%; thu từ khu vực sản xuất kinh doanh (DNNN, DN có vốn ĐTNN, DN ngoài quốc doanh) tăng 14,5% so với cùng kỳ. Theo đó, số thu ngân sách trung ương lũy kế 5 tháng ước đạt 235.000 tỷ đồng, bằng 41,5% dự toán, tăng 20,5% so với cùng kỳ. Thu ngân sách địa phương ước đạt 273.608 tỷ đồng, bằng 45,5% dự toán, tăng 9,1% so với cùng kỳ n ăm tr ư ớc.
 
Với kết quả này, Tổng cục Thuế nhận định, về tổng thể nhiệm vụ thực hiện dự toán thu NSNN của ngành thuế đã đảm bảo được tiến độ đề ra. Đặc biệt, trong nỗ lực quyết liệt chỉ đạo và tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ quản lý thu ngân sách, trên cơ sở chỉ tiêu cụ thể đã được Tổng cục Thuế giao, cơ quan thuế các cấp đã có nhiều giải pháp rà soát, đôn đốc nguồn thu và tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, thu hồi nợ thuế.
 
Cụ thể trong 5 tháng đầu năm, ngành thuế đã thực hiện 22.714 cuộc thanh tra, kiểm tra, đạt 26,07% kế hoạch, đồng thời kiểm tra được 138.364 hồ sơ khai thuế tại cơ quan thuế. Tổng số tiền kiến nghị xử lý qua thanh tra, kiểm tra là  13.536 tỷ đồng, tăng 13,13% so với cùng kỳ năm 2018, trong đó: tổng số thuế tăng thu qua thanh tra, kiểm tra là 4.045,27 tỷ đồng; giảm khấu trừ là 670,48 tỷ đồng; giảm lỗ là 8.820,45 tỷ đồng. Tổng số tiền thuế nộp vào ngân sách là 2.122,58 tỷ đồng, đạt 52,47% số thuế tăng thu qua thanh tra, kiểm tra, tăng 6,37% so với cùng kỳ năm 2018. Cũng trong khoảng thời gian này, Tổng cục Thuế đã chỉ đạo theo dõi, giám sát chặt chẽ tình hình thực hiện đôn đốc và cưỡng chế nợ, qua đó áp dụng kịp thời các biện pháp quản lý đối với các đối tượng thuộc diện nhằm đôn đốc ngay tiền nợ thuế vào NSNN. Đến thời điểm 31/5/2019, cơ quan thuế đã thu được 13.390 tỷ đồng tiền thuế nợ, bằng 34,5% nợ đến 90 ngày và trên 90 ngày tại thời điểm 31/12/2018, trong đó: thu bằng biện pháp quản lý nợ là 10.246 tỷ đồng, bằng biện pháp cưỡng chế nợ thuế là 3.144 tỷ đồng.
 
 Cùng với nỗ lực đảm bảo tiến độ thực hiện dự toán thu NSNN, Tổng cục Thuế đã tăng tốc triển khai các giải pháp cải cách thủ tục hành chính theo đúng tinh th ần chỉ đạo của Chính phủ tại Nghị quyết 01, 02 và Chương trình hành động của Bộ Tài chính. Theo đó, số lượng thủ tục hành chính thuế được cung cấp trực tuyến đạt mức 3 trở lên là 133/304 thủ tục. Số lượng DN hoàn thành đăng ký dịch vụ nộp thuế điện tử với ngân hàng là 705.753 DN, chiếm tỷ lệ 97,82% tổng số DN đang hoạt động, với số tiền thuế đã nộp là 298.088 tỷ đồng. Cũng tính từ đầu năm đến ngày 31/5/2019, tổng số DN tham gia hoàn thuế điện tử là 5.288, chiếm 94.73% trên tổng số DN hoàn thuế. Tổng số hồ sơ đã tiếp nhận là 10.027, đạt tỷ lệ 96,14%; trong đó hệ thống đã giải quyết hoàn thuế điện tử 7.260 hồ sơ, với tổng số tiền đã giải quyết hoàn là hơn 44.074 tỷ đồng. Riêng về hóa đơn điện tử, kể từ thời điểm triển khai tháng 9/2015 đến ngày 31/5/2019, đã có 6.257.294 hóa đơn, tương ứng với doanh thu hơn 65.843 tỷ đồng và số thuế hơn 6.257 tỷ đồng của 219 DN được cơ quan thuế xác thực. Cùng thời điểm này đã có 34.230 cá nhân đăng ký tài khoản giao dịch và có 75.419 tờ khai, nộp thuế điện tử đối với cho thuê nhà, chuyển nhượng nhà đất (thuế TNCN và lệ phí trước bạ). Việc khai, nộp thuế điện tử đối với lệ phí trước bạ ô tô, xe máy đang gấp rút hoàn thiện quy chế phối hợp, quy trình nghiệp vụ và ứng dụng công nghệ thông tin để triển khai trong thời gian sớm nhất.
 
 Với một công việc trọng tâm quan trọng khác là thực hiện sắp xếp tinh gọn bộ máy theo Nghị quyết 18-NQ/TW của Trung ương và Quyết định 41/2018/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, bằng nhiều giải pháp đẩy nhanh tiến độ, toàn ngành đang tiếp tục triển khai hợp nhất chi cục thuế tại 9 Cục Thuế: Hưng Yên, Hà Nam, Đắk Lắk, Đà Nẵng, Lạng Sơn, Sóc Trăng, Thừa Thiên - Huế, Ninh Thuận và Thái Nguyên; đồng thời, trình Bộ Tài chính các đề án sáp nhập chi cục thuế khu vực tại 16 địa phương khác, đảm bảo đạt được yêu cầu theo tiến độ và mục tiêu đã đề ra.
 
 Trên nền tảng những kết quả đã đạt được và những mặt công tác còn chưa đạt yêu cầu, các nhiệm vụ trọng tâm được Tổng cục Thuế nhấn mạnh trong thời gian tới tiếp tục là tiếp tục thực hiện dự toán thu NSNN theo đúng các mức phấn đấu đã đề ra. Trong đó chú trọng các chỉ tiêu về cân đối ngân sách trung ương; đẩy mạnh và tăng cường hiệu quả mọi mặt công tác quản lý và tiếp tục đẩy nhanh tiến độ cải cách thủ tục hành chính thuế theo chương trình, kế hoạch hành động để nâng cao hiệu quả quản lý và tạo thuận lợi nhiều hơn nữa cho người nộp thuế. Tháng 6 cũng là thời điểm sơ kết, đánh giá tình hình nhiệm vụ nửa đầu năm của toàn ngành nên Tổng cục Thuế yêu cầu các vụ, đơn vị, các cục thuế đẩy nhanh triển khai các nhiệm vụ đã được phân công, đảm bảo cả về tiến độ và chất lượng công việc. Liên quan tới kỳ họp thứ 7, Quốc hội khoá XIV đang diễn ra, Tổng cục Thuế chỉ đạo toàn ngành chủ động cập nhật tình hình từ nghị trường, kịp thời xây dựng các nội dung phục vụ tốt cho công tác chất vấn tại kỳ họp và phản biện xã hội; đồng thời đẩy mạnh công tác truyền thông để định hướng tốt cho dư luận./.

>>>xem thêm  Thu thuế từ khối doanh nghiệp FDI có mức tăng trưởng mạnhBộ Công thương: Tiếp tục áp thuế chống bán phá giá tạm thời nhôm từ Trung Quốc<<<

TM

Thu thuế từ khối doanh nghiệp FDI có mức tăng trưởng mạnh

Thu thuế từ khối doanh nghiệp FDI có mức tăng trưởng mạnh

Đại diện Cục Thuế Ninh Thuận cho biết, đến 31/5/2019, tổng thu nội địa do cơ quan này thực hiện đạt 1.184 tỷ đồng, bằng 49,3% dự toán tỉnh giao, tăng 10,3% (so với cùng kỳ năm 2018). Riêng thu từ DN có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đạt 137%, tăng 164%.

8/8 chi cục thuế thu ngân sách đạt và vượt tiến độ dự toán

Ông Đoàn Hạnh Phúc – Phó Cục trưởng Cục Thuế Ninh Thuận cho biết, 5 tháng đầu năm, đơn vị thu ngân sách được 1.184 tỷ đồng, đạt 49,3% dự toán tỉnh giao, tăng 10,3%. Hầu hết các chỉ tiêu thu chính đều vượt kế hoạch và tăng trưởng khá cao so với cùng kỳ.

>>>Xem thêm  THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<< 

Cụ thể, thu từ khối doanh nghiệp (DN) nhà nước địa phương đạt 55%, tăng 25%; thu từ DN có vốn đầu tư nước ngoài đạt 137%, tăng 164%; thu thuế thu nhập cá nhân đạt 56%, tăng 36%; thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản đạt 78%, tăng 58%; thu thuế bảo vệ môi trường tăng 52%…

Có được kết quả trên, đại diện Cục Thuế Ninh Thuận cho rằng, cục đã chỉ đạo các đơn vị trực thuộc thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ trong thực hiện nhiệm vụ công tác thuế như: tập trung xử lý thu hồi nợ đọng tiền thuế; rà soát đưa vào quản lý nguồn thu mới đối với các dự án: hồ chứa nước Sông Than, hệ thống thủy lợi Tân Mỹ, đường cao tốc Bắc – Nam; thuế thu nhập cá nhân các chuyên gia nước ngoài tham gia xây dựng các dự án điện gió, điện mặt trời.

“Cùng với đó, chúng tôi đẩy mạnh công tác giám sát kê khai thuế của người nộp thuế nhằm đảm bảo 100% hồ sơ khai quyết toán thuế thu nhập DN, thuế thu nhập cá nhân năm 2018 được rà soát, đối chiếu khi thực hiện quyết toán” - ông Phúc nói.

Ngoài ra, Cục Thuế Ninh Thuận cũng đã tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra các đối tượng có số thuế truy thu lớn; phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh triển khai đối chiếu sản lượng khoáng sản khai quyết toán thuế của từng mỏ khai thác; phối hợp Kho bạc Nhà nước tỉnh đối chiếu giá trị công trình xây dựng kê khai thuế với giá trị nghiệm thu, thanh quyết toán của các chủ đầu tư..., nhằm phát hiện kịp thời các trường hợp khai sai, khai thiếu để xử lý truy thu nộp ngân sách.

Phấn đấu 6 tháng thu đạt trên 50% dự toán

Chia sẻ thêm về kết quả đạt được trong 5 tháng đầu năm, ông Đoàn Hạnh Phúc cho biết, hầu hết các đơn vị được giao thu đều có số thu đạt và vượt kế hoạch. 5/8 chi cục thuế có số thu đạt từ 59% đến 95% so với dự toán băn; có 3/8 chi cục thuế thu đạt từ 41% đến 48% dự toán.

Cụ thể, Chi cục Thuế huyện Thuận Bắc thu đạt 95,7% kế hoạch (đã gần hoàn thành kế hoạch cả năm); Chi cục Thuế huyện Ninh Hải thu đạt 75,8% kế hoạch; Chi cục Thuế huyện Ninh Phước thu đạt 64,6% kế hoạch; Chi cục Thuế huyện Thuận Nam thu đạt 63,5% kế hoạch; Chi cục Thuế huyện Bác Ái thu đạt 59,5% kế hoạch…

"Song song với công tác thu ngân sách, việc đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính thuế, điện tử hóa công tác quản lý thuế cũng được Cục Thuế Ninh Thuận trú trọng và đẩy mạnh. Cụ thể, đến nay số chứng từ nộp điện tử, số thuế nộp điện tử và số doanh nghiệp nộp thuế điện tử đều đạt trên 95%, đáp ứng tinh thần các Nghị quyết số 19 của Chính phủ đề ra" - ông Phúc nói.

Đại diện Cục Thuế Ninh Thuận cho biết, cục đang chỉ đạo các chi cục và phòng chuyên môn tăng cường rà soát nguồn thu mới phát sinh; xử lý hồ sơ hoàn thuế thu nhập cá nhân, hồ sơ miễn, giảm tiền thuê đất đảm bảo đúng thời gian, đúng chính sách pháp luật.

Đồng thời, cơ quan thuế phối hợp Sở Công thương, Chi cục Hải Quan tỉnh đẩy nhanh hoàn thuế giá trị gia tăng phát sinh trong quá trình đầu tư của các dự án điện gió, điện mặt trời theo chỉ đạo của UBND tỉnh, nhằm tạo điều kiện cho nhà đầu tư có thêm nguồn vốn thúc đẩy dự án sớm đi vào hoạt động kinh doanh, tạo nguồn thu tăng thêm cho ngân sách.

Bên cạnh đó, đơn vị tiếp tục phối hợp các các cơ quan, cơ quan đơn vị liên quan thực hiện tốt đề án tăng thu từ lĩnh vực đất đai đến năm 2020, kế hoạch thu tiền sử dụng đất năm 2019; tiếp tục rà soát, xử lý nợ tiền cấp quyền khai thác khoáng sản đối với các dự án khai thác titan theo chỉ đạo của UBND tỉnh khi thực hiện chủ trương tạm dừng triển khai theo Nghị quyết số 115/NQ-CP của Chính phủ.

“Ngoài ra, chúng tôi tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy trình quản lý, các quy chế phối hợp theo cơ chế “một cửa” và “một cửa liên thông” tại cơ quan thuế các cấp để đảm bảo phù hợp với chính sách thuế hiện hành, rút ngắn được thời gian giải quyết, nâng cao chất lượng phục vụ người nộp thuế” – ông Phúc nói./.

>>>Xem thêm  Bộ Công thương: Tiếp tục áp thuế chống bán phá giá tạm thời nhôm từ Trung QuốcQuản lý thuế thương mại điện tử: Hoàn thiện chính sách để chống thất thu<<<

Nguyễn Dương - Nhật Minh

Quản lý thuế thương mại điện tử: Hoàn thiện chính sách để chống thất thu

Quản lý thuế thương mại điện tử: Hoàn thiện chính sách để chống thất thu

Trước tình hình phát triển mạnh mẽ của hoạt động thương mại điện tử (TMĐT), Tổng cục Thuế cho biết đang từng bước hoàn hiện chính sách thuế đối với hoạt động này để đảm bảo quản lý thuế chặt chẽ, hiệu quả.

>>>Xem thêm  THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<< 

Phần lớn doanh nghiệp không tự giác

Kinh doanh TMĐT, kinh doanh dựa trên nền tảng số hiện nay đang đặt ra vấn đề cần phải có cơ chế pháp lý để quản lý thuế đối với hoạt động này. Một bất cập hiện nay là hóa đơn giấy vẫn là chứng từ được sử dụng chủ yếu trong các giao dịch TMĐT. Hóa đơn gắn với quản lý thuế giá trị gia tăng (GTGT), tuy nhiên, hiện nay với tỷ lệ trên 90% là hóa đơn giấy, gần 10% là hóa đơn điện tử, nhưng chưa có quy định bắt buộc doanh nghiệp (DN) chuyển dữ liệu hóa đơn về cơ quan thuế, nên công tác quản lý thuế gặp nhiều khó khăn, đặc biệt trong công tác quản lý kê khai.

Tổng cục Thuế cũng cho biết, một thách thức khác mà kinh tế số mang đến, đó là khó xác định được đúng bản chất giao dịch để tính thuế đối với các giao dịch kinh doanh trong nền kinh tế số. Ví dụ, như hình thức kinh doanh vận tải hành khách qua hợp đồng điện tử là loại hình kinh doanh công nghệ, hay hợp đồng điện tử? Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, không chỉ về mặt pháp lý, mà còn về nghĩa vụ thuế phát sinh tương ứng với từng hình thức giao dịch. Ông Lưu Đức Huy - Vụ trưởng Vụ Chính sách (Tổng cục Thuế) cho biết, hiện vẫn tồn tại hai nhóm quan điểm. Theo quan điểm của Hiệp hội Taxi, thì đây là loại hình vận tải taxi công nghệ; tuy nhiên theo quy định pháp luật về giao thông vận tải, thì đây là loại hình kinh doanh vận tải theo hợp đồng. 

Một khó khăn khác là quản lý thu thuế nhà thầu đối với các giao dịch TMĐT xuyên biên giới vẫn còn bất cập, nhất là đối với các thu nhập phát sinh từ các trang mạng xã hội như: Google, Facebook, Youtube… Tổng cục Thuế cho biết, các DN và cá nhân này đều có tốc độ tăng trưởng nhanh. Một số DN có doanh thu mỗi năm hàng trăm tỷ đồng. Các cá nhân có phát sinh thu nhập hàng năm hàng chục tỷ đồng và các khoản thu nhập này đều được chuyển về Việt Nam cho người thụ hưởng thông qua các ngân hàng thương mại tại Việt Nam. Tuy nhiên chỉ có một số DN thực hiện kê khai nộp thuế, số còn lại là các nhà thầu nước ngoài, tổ chức, cá nhân có phát sinh thu nhập nhưng vẫn chưa kê khai, nộp thay thuế GTGT và thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) đối với thu nhập phát sinh của Google và Facebook tại Việt Nam.

Quy định rõ trách nhiệm phối hợp quản lý thuế TMĐT

Trước những bất cập về cơ chế chính sách trong quản lý thuế đối với hoạt động kinh doanh TMĐT, Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế đang từng bước hoàn thiện cơ sở pháp lý, cũng như đưa ra các giải pháp để quản lý thuế một cách hiệu quả. Một trong những nội dung quan trọng tại  dự thảo Luật Quản lý thuế (sửa đổi) đang được Chính phủ trình Quốc hội Khóa XIV xem xét thông qua vào kỳ họp thứ 7 này, là dự luật đã bổ sung các nội dung liên quan đến việc quản lý thuế đối với hoạt động kinh doanh TMĐT nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý thuế trong lĩnh vực TMĐT.

“Dự thảo luật đã bổ sung quy định cho phép các nhà cung cấp ở nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam, có hoạt động TMĐT thì nhà cung cấp ở nước ngoài có nghĩa vụ đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế tại Việt Nam. Tổng cục Thuế sẽ xây dựng quy trình đăng ký thuế đơn giản, mở trên website của Tổng cục Thuế hệ thống ứng dụng để hướng dẫn tổ chức, cá nhân nước ngoài có hoạt động kinh doanh trên mạng phát sinh thu nhập tại Việt Nam được thực hiện đăng ký thuế, được cấp mã số thuế và kê khai, nộp thuế qua mạng” - ông Huy cho biết.

Ngoài ra, dự thảo Luật Quản lý thuế (sửa đổi) cũng bổ sung quy định về hóa đơn, chứng từ khi bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo hướng ban hành quy định áp dụng hóa đơn điện tử đối với DN, hộ kinh doanh khi bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ để giảm chi phí cho người nộp thuế, đồng thời hạn chế rủi ro trong công tác quản lý thuế, tăng hiệu quả quản lý doanh thu, phục vụ mục tiêu tăng cường việc thanh toán không dùng tiền mặt.

Dự thảo luật cũng quy định trách nhiệm của một số bộ, ngành liên quan đến quản lý thuế hoạt động TMĐT như: Bộ Công thương, Bộ Thông tin và Truyền thông, Ngân hàng Nhà nước, Bộ Giao thông vận tải. Đặc biệt, dự thảo luật cũng quy định nhiệm vụ, trách nhiệm của ngân hàng thương mại trong việc khấu trừ, nộp thay nghĩa vụ thuế phải nộp theo quy định pháp luật về thuế của tổ chức, cá nhân ở nước ngoài có hoạt động kinh doanh TMĐT có phát sinh thu nhập từ Việt Nam.

Ngày 12/6/2018, Quốc hội đã thông qua Luật An ninh mạng, Điều 26 của luật này quy định, DN trong nước và ngoài nước cung cấp dịch vụ trên mạng viễn thông, mạng internet, các dịch vụ gia tăng trên không gian mạng tại Việt Nam... phải lưu trữ dữ liệu tại Việt Nam. DN ngoài nước quy định tại khoản này phải đặt chi nhánh hoặc văn phòng đại diện tại Việt Nam. Đây sẽ là cơ sở pháp lý để cơ quan thuế phối hợp cùng các cơ quan, đơn vị liên quan quản lý tốt hơn nữa hoạt động kinh doanh TMĐT, kinh doanh dựa trên nền tảng số và các dịch vụ khác.

>>>Xem thêm  Bộ Công thương: Tiếp tục áp thuế chống bán phá giá tạm thời nhôm từ Trung QuốcThông tư số 215/2013/TT-BTC hướng dẫn về cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế<<<

Nguyễn Dương - Nhật Minh

Việt Nam cần ban hành một bộ chuẩn mực kế toán công

Việt Nam cần ban hành một bộ chuẩn mực kế toán công

Ông Filly Sissoko, Giám đốc Khối Quản trị, khu vực Đông Á và Thái Bình Dương của WB cho rằng, việc ban hành những chuẩn mực kế toán công đầu tiên tại Việt Nam là phù hợp với “Định hướng Chiến lược Kế toán và Kiểm toán đến năm 2020, và tầm nhìn đến năm 2030”. WB cũng đề xuất với Chính phủ Việt Nam cần ban hành một bộ chuẩn mực kế toán công, dựa trên cơ sở các chuẩn mực kế toán công quốc tế

>>>Xem thêm  THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<< 

Chương trình AAA được Tổng cục Kinh tế Liên bang Thụy Sĩ (SECO) và Bộ Các vấn đề Toàn cầu của Canada (GAC) đồng tài trợ và ủy thác qua Ngân hàng Thế giới (WB), với mục tiêu hỗ trợ Việt Nam cải cách công tác quản lý tài chính công ở cấp trung ương và địa phương. 

PV: Xin ông cho biết thực trạng và xu hướng chung của việc áp dụng chuẩn mực kế toán công trên thế giới hiện nay?

Ông Fily Sissoko: Hiện nay trên thế giới, quá trình chuyển sang áp dụng kế toán dồn tích trong khu vực công đang là xu thế tất yếu. 25% các quốc gia đã và đang công khai báo cáo quyết toán tài chính của họ trên cơ sở dồn tích. Con số này dự kiến sẽ đạt 65% trong 5 năm tới.

Tại khu vực Đông Á, các quốc gia In-đô-nê-xia, Ma-lay-xia, Phi-líp-pin và Sing-ga-po đã ban hành chuẩn mực kế toán công tuân thủ với chuẩn mực kế toán công quốc tế (IPSAS). Các nhà hoạch định chính sách, các tổ chức xã hội dân sự, các cơ quan giám sát, các tổ chức đầu tư và các tổ chức xếp hạng tín nhiệm cũng ngày càng đòi hỏi thông tin tài chính công chất lượng cao.

Bên cạnh đó, có một thực tế là các cơ chế báo cáo và thống kê ngân sách từ trước đến nay vẫn được sử dụng trong phân tích tài khóa và tài chính cho khu vực công chưa thể hiện hết được thông tin đầy đủ như trên bảng cân đối tài sản. Điều này được khẳng định qua báo cáo Giám sát Tài khóa tháng 10/2018 của Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF), với ghi nhận rằng bảng cân đối tài sản khu vực công trình bày được bức tranh toàn diện nhất về tài sản ròng của khu vực này.

Bảng cân đối tài sản tập hợp được toàn bộ tài sản có và tài sản nợ dồn thuộc kiểm soát của Chính phủ, thể hiện được toàn bộ những gì Nhà nước sở hữu và nợ, qua đó mang đến bức tranh tài khóa toàn diện hơn để làm căn cứ cho các quyết định, ngoài những thông tin về nợ và bội chi.

Phối hợp cùng các đối tác phát triển khác, Ngân hàng Thế giới đang làm việc với Hội đồng Chuẩn mực Kế toán công Quốc tế hỗ trợ các quốc gia chuyển đổi sang chuẩn mực kế toán khu vực công quốc tế (IPSAS) trên cơ sở dồn tích.

Việc áp dụng chuẩn mực kế toán công sẽ mang lại lợi ích gì, cụ thể đối với Việt Nam, thưa ông?

Chúng tôi tin rằng việc áp dụng những chuẩn mực kế toán tiên tiến như chuẩn mực kế toán công dồn tích IPSAS sẽ đem lại những lợi ích lớn lao cho Việt Nam. Tôi xin nêu ra hai lý do chính:

nợ và các nghĩa vụ dự phòng.

Chuẩn mực kế toán tiên tiến sẽ cung cấp phương tiện và công cụ để các nhà hoạch định chính sách có góc nhìn toàn diện về tài sản ròng của khu vực công; toàn bộ tài sản có và tài sản nợ ở cấp trung ương và địa phương.

Thứ hai, công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình sẽ được tăng cường. Chúng tôi tin rằng báo cáo tài chính chất lượng cao sẽ giúp nâng cao lòng tin của người dân và thị trường tài chính đối với các thể chế ở khu vực công, đồng thời giúp Việt Nam thực hiện kế hoạch cải thiện định mức tín nhiệm của Nhà nước.

Các bằng chứng thực nghiệm trên thế giới cho thấy thông tin tài chính chất lượng cao là yếu tố được các tổ chức xếp hạng tín nhiệm và tổ chức đầu tư cân nhắc, đồng thời đem lại cơ hội thảo luận chính sách theo cách minh bạch và toàn diện hơn về cách thức quản lý tài sản ròng của khu vực công theo hướng bền vững hơn.

>>>Xem thêm Bộ Tài chính phối hợp chặt chẽ với WB xây dựng và ban hành các chuẩn mực kế toán công <<<

Từ những kinh nghiệm quốc tế hiện nay, ông có chia sẻ những gì để Việt Nam áp dụng thành công chuẩn mực kế toán công, thưa ông?

Kinh nghiệm của chúng tôi ở các quốc gia khác cho thấy, đây là một quá trình lâu dài đòi hỏi lãnh đạo có quyết tâm chính trị cao và chuyên môn sâu sát để có thể xác định rõ mục tiêu cải cách, xây dựng các nhóm cải cách chuyên trách, quản lý chi phí và xây dựng một kế hoạch hành động cho quá trình chuyển đổi (có cân nhắc đến trình độ phát triển của hệ thống kế toán hiện hành), đồng thời tăng cường năng lực của đội ngũ cán bộ.

WB luôn sẵn sàng phối hợp với Bộ Tài chính Việt Nam triển khai việc xây dựng và ban hành chuẩn mực kế toán công tại Việt Nam, chúng tôi mong muốn giúp Chính phủ Việt Nam nâng cao xếp hạng tín nhiệm quốc gia, qua đó cải thiện năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, góp phần thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam”

Ông Filly Sissoko.

Do quy mô và mức độ tham vọng của cải cách, chúng tôi khuyến nghị nên cải cách theo lộ trình từng bước, bắt đầu bằng những chuẩn mực kế toán ít phức tạp. Chuẩn mực IPSAS 33 (dành cho các đơn vị lần đầu tiên áp dụng chuẩn mực kế toán công dồn tích IPSAS) cũng là cơ chế tốt về áp dụng một số ngoại lệ trong quá trình chuyển đổi và những điều khoản có thể tác động đến cách trình bày hợp lý báo cáo tài chính.

Theo đó, các đơn vị lần đầu tiên áp dụng IPSAS trên cơ sở dồn tích sẽ có 3 năm để ghi nhận tài sản có và tài sản nợ cụ thể. Điều khoản này cho phép các đơn vị có đủ thời gian để xây dựng các mô hình ghi nhận và đo lường tài sản có và tài sản nợ trong giai đoạn chuyển đổi. Một khía cạnh quan trọng khác cần cân nhắc là quy trình xây dựng chuẩn mực. Quy trình này cần được củng cố và về sau cần có sự tham gia của tất cả các bên liên quan, bao gồm khu vực tư nhân.

Có thể nói lộ trình dự kiến của Bộ Tài chính là khá rõ ràng, về phía WB sẽ có những hoạt động gì để thúc đẩy quá trình này được tốt hơn?

Có thể nói thời gian qua, Bộ Tài chính đã phối hợp hết sức chặt chẽ với WB trong quá trình chuẩn bị báo cáo xây dựng lộ trình và kế hoạch hành động nhằm ban hành những chuẩn mực kế toán khu vực công đầu tiên tại Việt Nam.

Ngân hàng Thế giới, cùng các đối tác phát triển khác như Tổng cục Kinh tế Liên bang Thụy Sỹ (SECO) và Bộ Các vấn đề toàn cầu Ca-na-đa (GAC) đã và đang tích cực hỗ trợ Bộ Tài chính Việt Nam nâng cao năng lực cán bộ thông qua các hoạt động đào tạo, hội thảo và hỗ trợ kỹ thuật của tư vấn trong nước và quốc tế, trong phạm vi Chương trình Hỗ trợ Tư vấn và Phân tích về Quản lý Tài chính công (Chương trình AAA) giai đoạn 2016-2020.

Đây là sự trợ giúp hết sức kịp thời vì cơ chế báo cáo tài chính công lành mạnh sẽ hỗ trợ và xây dựng nên cơ chế báo cáo tài chính công chất lượng cao ở Việt Nam, thông qua nhiệm vụ ban hành báo cáo tài chính Nhà nước hợp nhất cho năm tài khóa 2018 vào giữa năm 2020. Chúng tôi cũng rất phấn khởi khi được biết Bộ Tài chính đang bắt đầu quá trình ban hành và triển khai các chuẩn mực kế toán công Việt Nam (VPSAS).

Đây thực sự là nỗ lực chung của cả hai bên và chúng tôi đánh giá cao lòng tin và quan hệ hợp tác Ngân hàng Thế giới đã xây dựng được không chỉ với Bộ Tài chính mà cả với các bên liên quan khác tham gia những cải cách quan trọng này. Chúng tôi luôn sẵn sàng tiếp tục hỗ trợ theo nhu cầu trong suốt quá trình triển khai.

Xin cảm ơn ông! 

>>>Xem thêm  Sẽ sớm có “bức tranh toàn cảnh” về hệ thống chuẩn mực kế toán công tại Việt Nam<<<

Bộ Công thương: Tiếp tục áp thuế chống bán phá giá tạm thời nhôm từ Trung Quốc

Bộ Công thương: Tiếp tục áp thuế chống bán phá giá tạm thời nhôm từ Trung Quốc

Ngày 29/5, Bộ Công Thương ban hành Quyết định số 1480/QĐ-BCT áp dụng biện pháp chống bán phá giá (CBPG) tạm thời đối với một số sản phẩm nhôm thanh đùn ép có xuất xứ từ Trung Quốc.

>>>Xem thêm  THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<< 

Theo đó, mức thuế CBPG tạm thời được áp dụng cho các doanh nghiệp xuất khẩu nhôm thanh đùn ép của Trung Quốc là từ 2,46% đến 35,58%. Số lượng nhà sản xuất Trung Quốc bị điều tra trong vụ việc là 17 công ty.

Bộ Công Thương bắt đầu tiến hành vụ việc điều tra vào tháng 01/2019 trên cơ sở kết quả thẩm định Hồ sơ yêu cầu áp dụng biện pháp CBPG của đại diện ngành sản xuất trong nước nộp vào tháng 10 năm 2018.

Trải qua gần 5 tháng điều tra sơ bộ theo đúng quy định của Tổ chức Thương mại thế giới, Luật Quản lý ngoại thương và các quy định liên quan, Bộ Công Thương đã xem xét và đánh giá kỹ lưỡng thiệt hại của ngành sản xuất trong nước, mức độ bán phá giá của các doanh nghiệp sản xuất của Trung Quốc cũng như xem xét, tính toán tác động đối với các ngành sản xuất hạ nguồn và người tiêu dùng các sản phẩm nhôm thanh.

Kết quả thẩm tra, đánh giá cho thấy ngành sản xuất nhôm trong nước đã chịu thiệt hại nặng nề trong thời gian vừa qua, thể hiện ở các chỉ số như hầu hết các doanh nghiệp đều thua lỗ, nhiều dây chuyền sản xuất phải ngừng hoạt động và một số lượng lớn lao động đã phải nghỉ việc.

Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng trên là do nhôm Trung Quốc đang được bán phá giá, trong một số trường hợp giá bán còn thấp hơn cả chi phí sản xuất sau khi bị nhiều nước ngăn chặn bằng các rào cản thương mại, kể cả các biện pháp chống bán phá giá.

Năm 2018, lượng nhôm thanh đùn ép nhập khẩu vào Việt Nam từ Trung Quốc lên tới 62 nghìn tấn, gần gấp đôi lượng nhập khẩu năm 2017. Số liệu này chưa bao gồm lượng lớn nhôm nhập khẩu vào Việt Nam được đưa vào các khu chế xuất để sản xuất hàng xuất khẩu. Trong khi đó, lượng nhập khẩu từ các nước còn lại liên tục giảm qua các năm và đến 2018 chỉ còn chưa đến 5 nghìn tấn.

Cũng trong năm 2018, Mỹ đã tiến hành điều tra lẩn tránh thuế đối với một số sản phẩm nhôm đùn ép nhập khẩu từ Việt Nam. Kết luận sơ bộ của vụ việc này vừa được công bố cách đây 2 tuần cho thấy sản phẩm nhôm đùn ép của Việt Nam xuất khẩu vào Mỹ đang lẩn tránh thuế chống bán phá giá và thuế chống trợ cấp mà Mỹ đã áp với hàng Trung Quốc trước đó.

Chính vì vậy, Mỹ tuyên bố áp thuế suất lên tới 374,15% đối với các sản phẩm này của Việt Nam. Đáng lưu ý, trong số các sản phẩm nhôm đùn xuất xứ từ Việt Nam bị kết luận là lẩn tránh thuế có một số mã HS thuộc phạm vi áp dụng biện pháp chống bán phá giá tạm thời theo Quyết định 1480/QĐ-BCT của Bộ Công Thương.

Việc Mỹ áp thuế chống lẩn tránh thuế đối với các sản phẩm nhôm từ Việt Nam có thể gây thiệt hại nghiêm trọng cho các doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu nhôm chân chính của Việt Nam cả về lợi nhuận lẫn uy tín khi các công ty này vốn đã phải chịu sức ép cạnh tranh từ hàng nhập khẩu từ Trung Quốc, đặc biệt trong bối cảnh xung đột thương mại Mỹ-Trung ngày càng diễn biến căng thẳng và chưa có hồi kết.

Việc áp dụng biện pháp chống bán phá giá tạm thời đối với một số sản phẩm nhôm thanh đùn ép sẽ giúp giảm bớt áp lực cho các doanh nghiệp sản xuất trong nước và đồng thời góp phần ngăn chặn dòng hàng hóa “lẩn tránh” qua Việt Nam.

Có thể thấy mức thuế CBPG tạm thời dao động từ 2,46% đến 38,58% đã phản ánh sự cân nhắc của Bộ Công Thương đối với lợi ích của người tiêu dùng và các ngành công nghiệp hạ nguồn sử dụng sản phẩm nhôm thanh. Các doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu nước ngoài với các sản phẩm đúng quy cách, chất lượng và giá bán đúng quy luật thị trường được xác định biên độ bán phá giá thấp.

Trong khi đó, hàng hóa trôi nổi chất lượng thấp bán phá giá sẽ bị ngăn chặn với mức thuế CBPG tạm thời tương đối cao. Chính phủ cũng rất quan tâm và chỉ đạo kịp thời cho các cơ quan liên quan theo dõi, ngăn chặn nhôm nhập khẩu chất lượng thấp, giá rẻ gây ảnh hưởng tiêu cực tới ngành sản xuất nhôm trong nước cũng như chất lượng các công trình xây dựng.

Trong thời gian tới, để đưa ra kết luận cuối cùng về vụ việc, Bộ Công Thương sẽ tiếp tục làm việc với các bên liên quan, thẩm tra xác minh số liệu và tổ chức phiên tham vấn công khai để tất cả các bên có cơ hội bày tỏ ý kiến của mình, đồng thời đánh giá tác động toàn diện của vụ việc đến các bên liên quan, bao gồm cả người tiêu dùng cuối cùng. Vụ việc dự kiến sẽ kết thúc điều tra vào Quý IV năm 2019.

>>>Xem thêm  Bổ sung quy định về nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuấtCách kê khai thuế gtgt hàng nhập khẩu<<<

Bộ Tài chính phối hợp chặt chẽ với WB xây dựng và ban hành các chuẩn mực kế toán công

Bộ Tài chính phối hợp chặt chẽ với WB xây dựng và ban hành các chuẩn mực kế toán công

Đề án Xây dựng và ban hành các chuẩn mực kế toán công Việt Nam thuộc Chương trình Hỗ trợ tư vấn và phân tích quản lý tài chính công tại Việt Nam (AAA). Chương trình AAA được Tổng cục Kinh tế Liên bang Thụy Sĩ (SECO) và Bộ Các vấn đề Toàn cầu của Canada (GAC) đồng tài trợ và ủy thác qua Ngân hàng Thế giới (WB), với mục tiêu hỗ trợ Việt Nam cải cách công tác quản lý tài chính công ở cấp trung ương và địa phương. Ông Fily Sissoko, Giám đốc Khối Quản trị, khu vực Đông Á và Thái Bình Dương của WB đã có những chia sẻ với cổng TTĐT Bộ Tài chính về việc áp dụng chuẩn mực kế toán công sẽ mang lại lợi ích gì cho Việt Nam.

>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG <<< 

Ông Fily Sissoko, Giám đốc Khối Quản trị, khu vực Đông Á và Thái Bình Dương của WB

Xin ông cho biết thực trạng và xu hướng chung của việc áp dụng chuẩn mực kế toán công trên thế giới hiện nay?

Ông Fily Sissoko: Hiện nay trên thế giới, quá trình chuyển sang áp dụng kế toán dồn tích trong khu vực công đang là xu thế tất yếu. 25% các quốc gia đã và đang công khai báo cáo quyết toán tài chính của họ trên cơ sở dồn tích. Con số này dự kiến sẽ đạt 65% trong 5 năm tới. Tại khu vực Đông Á, các quốc gia In-đô-nê-xia, Ma-lay-xia, Phi-líp-pin và Sing-ga-po đã ban hành chuẩn mực kế toán công tuân thủ với chuẩn mực kế toán công quốc tế (IPSAS). Các nhà hoạch định chính sách, các tổ chức xã hội dân sự, các cơ quan giám sát, các tổ chức đầu tư và các tổ chức xếp hạng tín nhiệm cũng ngày càng đòi hỏi thông tin tài chính công chất lượng cao. Bên cạnh đó, có một thực tế là các cơ chế báo cáo và thống kê ngân sách từ trước đến nay vẫn được sử dụng trong phân tích tài khóa và tài chính cho khu vực công chưa thể hiện hết được thông tin đầy đủ như trên bảng cân đối tài sản. Điều này được khẳng định qua báo cáo Giám sát Tài khóa tháng 10/2018 của Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF), với ghi nhận rằng bảng cân đối tài sản khu vực công trình bày được bức tranh toàn diện nhất về tài sản ròng của khu vực này. Bảng cân đối tài sản tập hợp được toàn bộ tài sản có và tài sản nợ dồn thuộc kiểm soát của Chính phủ, thể hiện được toàn bộ những gì Nhà nước sở hữu và nợ, qua đó mang đến bức tranh tài khóa toàn diện hơn để làm căn cứ cho các quyết định, ngoài những thông tin về nợ và bội chi.

Phối hợp cùng các đối tác phát triển khác, Ngân hàng Thế giới đang làm việc với Hội đồng Chuẩn mực Kế toán công Quốc tế hỗ trợ các quốc gia chuyển đổi sang chuẩn mực kế toán khu vực công quốc tế (IPSAS) trên cơ sở dồn tích.

? Việc áp dụng chuẩn mực kế toán công sẽ mang lại lợi ích gì, cụ thể đối với Việt Nam, thưa ông?

Ông Fily Sissoko: Chúng tôi tin rằng việc áp dụng những chuẩn mực kế toán tiên tiến như chuẩn mực kế toán công dồn tích IPSAS sẽ đem lại những lợi ích lớn lao cho Việt Nam. Tôi xin nêu ra hai lý do chính:

Thứ nhất, ra quyết định và quản lý rủi ro tài khóa tốt hơn. Việt Nam là nền kinh tế thu nhập trung bình đang vươn dậy với tốc độ tăng trưởng đầy ấn tượng. Để chuyển đổi đầy đủ sang nền kinh tế thị trường và trở thành quốc gia có thu nhập cao, các bạn cần có năng lực ra quyết định và quản lý rủi ro tài khóa tốt hơn, đặc biệt liên quan đến vấn đề nợ và các nghĩa vụ dự phòng. Chuẩn mực kế toán tiên tiến sẽ cung cấp phương tiện và công cụ để các nhà hoạch định chính sách có góc nhìn toàn diện về tài sản ròng của khu vực công; toàn bộ tài sản có và tài sản nợ ở cấp trung ương và địa phương.

Thứ hai, công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình sẽ được tăng cường. Chúng tôi tin rằng báo cáo tài chính chất lượng cao sẽ giúp nâng cao lòng tin của người dân và thị trường tài chính đối với các thể chế ở khu vực công, đồng thời giúp Việt Nam thực hiện kế hoạch cải thiện định mức tín nhiệm của Nhà nước. Các bằng chứng thực nghiệm trên thế giới cho thấy thông tin tài chính chất lượng cao là yếu tố được các tổ chức xếp hạng tín nhiệm và tổ chức đầu tư cân nhắc, đồng thời đem lại cơ hội thảo luận chính sách theo cách minh bạch và toàn diện hơn về cách thức quản lý tài sản ròng của khu vực công theo hướng bền vững hơn.

? Từ những kinh nghiệm quốc tế hiện nay, ông có chia sẻ những gì để Việt Nam áp dụng thành công chuẩn mực kế toán công, thưa ông?

Ông Fily Sissoko: Kinh nghiệm của chúng tôi ở các quốc gia khác cho thấy, đây là một quá trình lâu dài đòi hỏi lãnh đạo có quyết tâm chính trị cao và chuyên môn sâu sát để có thể xác định rõ mục tiêu cải cách, xây dựng các nhóm cải cách chuyên trách, quản lý chi phí và xây dựng một kế hoạch hành động cho quá trình chuyển đổi (có cân nhắc đến trình độ phát triển của hệ thống kế toán hiện hành), đồng thời tăng cường năng lực của đội ngũ cán bộ. Do quy mô và mức độ tham vọng của cải cách, chúng tôi khuyến nghị nên cải cách theo lộ trình từng bước, bắt đầu bằng những chuẩn mực kế toán ít phức tạp. Chuẩn mực IPSAS 33 (dành cho các đơn vị lần đầu tiên áp dụng chuẩn mực kế toán công dồn tích IPSAS) cũng là cơ chế tốt về áp dụng một số ngoại lệ trong quá trình chuyển đổi và những điều khoản có thể tác động đến cách trình bày hợp lý báo cáo tài chính.Theo đó, các đơn vị lần đầu tiên áp dụng IPSAS trên cơ sở dồn tích sẽ có 3 năm để ghi nhận tài sản có và tài sản nợ cụ thể. Điều khoản này cho phép các đơn vị có đủ thời gian để xây dựng các mô hình ghi nhận và đo lường tài sản có và tài sản nợ trong giai đoạn chuyển đổi. Một khía cạnh quan trọng khác cần cân nhắc là quy trình xây dựng chuẩn mực. Quy trình này cần được củng cố và về sau cần có sự tham gia của tất cả các bên liên quan, bao gồm khu vực tư nhân.

? Có thể nói lộ trình dự kiến của Bộ Tài chính là khá rõ ràng, về phía WB sẽ có những hoạt động gì để thúc đẩy quá trình này được tốt hơn?

Ông Fily Sissoko: Có thể nói thời gian qua, Bộ Tài chính đã phối hợp hết sức chặt chẽ với WB trong quá trình chuẩn bị báo cáo xây dựng lộ trình và kế hoạch hành động nhằm ban hành những chuẩn mực kế toán khu vực công đầu tiên tại Việt Nam. Ngân hàng Thế giới, cùng các đối tác phát triển khác như Tổng cục Kinh tế Liên bang Thụy Sỹ (SECO) và Bộ Các vấn đề toàn cầu Ca-na-đa (GAC) đã và đang tích cực hỗ trợ Bộ Tài chính Việt Nam nâng cao năng lực cán bộ thông qua các hoạt động đào tạo, hội thảo và hỗ trợ kỹ thuật của tư vấn trong nước và quốc tế, trong phạm vi Chương trình Hỗ trợ Tư vấn và Phân tích về Quản lý Tài chính công (Chương trình AAA) giai đoạn 2016 – 2020. Đây là sự trợ giúp hết sức kịp thời vì cơ chế báo cáo tài chính công lành mạnh sẽ hỗ trợ và xây dựng nên cơ chế báo cáo tài chính công chất lượng cao ở Việt Nam, thông qua nhiệm vụ ban hành báo cáo tài chính Nhà nước hợp nhất cho năm tài khóa 2018 vào giữa năm 2020. Chúng tôi cũng rất phấn khởi khi được biết Bộ Tài chính đang bắt đầu quá trình ban hành và triển khai các chuẩn mực kế toán công Việt Nam (VPSAS). Đây thực sự là nỗ lực chung của cả hai bên và chúng tôi đánh giá cao lòng tin và quan hệ hợp tác Ngân hàng Thế giới đã xây dựng được không chỉ với Bộ Tài chính mà cả với các bên liên quan khác tham gia những cải cách quan trọng này. Chúng tôi luôn sẵn sàng tiếp tục hỗ trợ theo nhu cầu trong suốt quá trình triển khai.

Xin cảm ơn ông!

PL

Triển khai Nghị quyết 18 về sắp xếp tinh gọn bộ máy: hệ thống thuế đã cắt giảm 1.500 đầu mối

Triển khai Nghị quyết 18 về sắp xếp tinh gọn bộ máy: hệ thống thuế đã cắt giảm 1.500 đầu mối

Thực hiện Nghị quyết 18-NQ/TW của Trung ương về tổ chức, sắp xếp, tinh gọn bộ máy và Quyết định số 41/2018/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về chức năng, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Thuế, ngành thuế đã tích cực triển khai và đã đạt được những kết quả bước đầu.

>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG <<< 

Theo đó, tại khối Văn phòng cơ quan Tổng cục Thuế đã giải thể 27 đầu mối cấp phòng, tương ứng giảm 27 trưởng phòng và tương đương; giảm 56 phó trưởng phòng. Tại các cục thuế địa phương đã thực hiện cắt giảm 63 đầu mối cấp phòng, tương ứng giảm 63 trưởng phòng. Tại cấp chi cục thuế, nhờ triển khai sắp xếp tổ chức bộ máy theo mô hình mới nên đã giảm khoảng 30% đầu mối cấp đội, tương ứng giảm 1.500 đội trưởng và tương đương. Tính đến ngày 15/5, đã có 15 địa phương thực hiện hợp nhất 88 chi cục thuế thành 42 chi cục thuế khu vực, giảm 46 chi cục thuế. Như vậy, hiện nay ngành thuế còn 665 chi cục thuế cấp huyện. 

Theo đánh giá của Tổng cục Thuế, có được kết quả tích cực là do ngành thuế nhận được sự chỉ đạo xuyên suốt từ Trung ương đến các địa phương trong việc hướng dẫn các đơn vị sắp xếp, sáp nhập bàn giao tài sản, trụ sở làm việc và công việc chuyên môn. Bên cạnh đó, các đơn vị đã chủ động rà soát, sắp xếp lại tổ chức theo đúng tinh thần Nghị quyết số 18-NQ/TW và chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Tài chính về tinh gọn bộ máy, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Sau khi sắp xếp, chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận đã được quy định rõ ràng; không chồng chéo, không bỏ sót. Quy mô của từng bộ phận hợp lý, tương xứng với khối lượng công việc được phân công và đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính trong giai đoạn mới. Về cơ bản, các đơn vị sau khi hợp nhất vẫn đảm bảo hoàn thành tốt nhiệm vụ thu ngân sách trên địa bàn. Bên cạnh đó, việc sắp xếp các chi cục thuế không gây khó khăn, phiền hà cho người nộp thuế khi thực hiện nghĩa vụ với NSNN.

Cùng với thuận lợi, trong quá trình triển khai hợp nhất đã phát sinh một số khó khăn trong việc sắp xếp lãnh đạo cấp đội trưởng thuộc chi cục thuế khu vực được thành lập từ việc hợp nhất chi cục thuế TP với chi cục thuế huyện, thị xã. Bởi theo tiêu chuẩn, chức danh lãnh đạo cấp đội tại các chi cục thuế TP phải có bằng tốt nghiệp đại học phù hợp với yêu cầu chuyên ngành của vị trí dự kiến bổ nhiệm.  Về công tác ấn chỉ, hiện tại phần mềm quản lý tại chi cục thuế khu vực tồn tại 2 mã số của các chi cục thuế sáp nhập, do đó khi lập hóa đơn (tự in hóa đơn) để bán cho các cá nhân, thì tên là chi cục thuế khu vực, nhưng mã số vẫn theo chi cục thuế cũ. Về nhân sự sau sắp xếp, sáp nhập có trường hợp 2 địa phương cùng tổ chức hội nghị và luôn yêu cầu cấp trưởng dự họp, dẫn đến không có người thay thế. Cùng với đó, việc bố trí phương tiện đi lại trong điều kiện địa bàn quản lý rộng gặp khá nhiều khó khăn, ảnh hưởng đến việc chỉ đạo triển khai quản lý thu thuế của chi cục thuế khu vực. Ngoài ra, việc thành lập chi cục thuế khu vực trên cơ sở sáp nhập 2 hoặc 3 chi cục thuế, nên có một bộ phận công chức hàng ngày phải di chuyển khá xa, từ nhà đến nơi làm việc (từ huyện này sang huyện kia) trong khi điều kiện chưa bố trí được nhà công vụ dẫn đến khó khăn cho cán bộ, công chức thực hiện nhiệm vụ. 

Để khắc phục, Tổng cục Thuế đã chỉ đạo thủ trưởng cơ quan thuế các cấp tiếp tục làm tốt công tác động viên, giáo dục chính trị tư tưởng đối với công chức trong toàn hệ thống. Đồng thời, nghiên cứu đề xuất cấp có thẩm quyền xem xét có chế độ đãi ngộ đối với những công chức dôi dư do sắp xếp lại tổ chức, công chức xin nghỉ hưu trước tuổi. Thời gian tới, Tổng cục Thuế sẽ đề xuất với các cơ quan chức năng tập trung biên chế cho các địa bàn trọng điểm, có số thu lớn; cắt giảm biên chế ở các cục thuế nhỏ. Để sắp xếp lại đội ngũ công chức, viên chức theo đúng ngành nghề đào tạo, Tổng cục Thuế đang kiến nghị Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ sớm ban hành danh mục vị trí việc làm để có cơ sở hoàn thiện bản mô tả vị trí việc làm, triển khai áp dụng trong toàn ngành.

Đại diện Tổng cục Thuế cũng cho biết, theo lộ trình trong quý II này, sẽ tiếp tục hoàn thiện, thẩm định đề án và trình Bộ Tài chính ban hành các quyết định để thành lập chi cục thuế khu vực tại 15 cục thuế. Trong quý III sẽ tiếp tục triển khai thành lập chi cục thuế khu vực đối với 20 cục thuế; quý IV sẽ triển khai thành lập chi cục thuế khu vực đối với 22 địa phương còn lại, đảm bảo hoàn thành mục tiêu đã đề ra. 

Trung Kiên
Tapchithue

Tỷ giá hạch toán tháng 06/2019

Tỷ giá hạch toán tháng 06/2019

BỘ TÀI CHÍNH

KHO BẠC NHÀ NƯỚC

Số: 2589/TB-KBNN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Hà Nội, ngày 31 tháng 05 năm 2019

 

THÔNG BÁO

Tỷ giá hạch toán ngoại tệ tháng 06 năm 2019

 

- Căn cứ Quyết định số 26/2015/QĐ-TTg ngày 08/7/2015 của Thủ tướng Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Kho bạc Nhà nước trực thuộc Bộ Tài chính;

- Căn cứ Thông tư số 328/2016/TT-BTC ngày 26/12/2016 của Bộ Tài chính hướng dẫn thu và quản lý các khoản thu ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước;

Kho bạc Nhà nước thông báo tỷ giá hạch toán kế toán và báo cáo thu chi ngoại tệ tháng 06 năm 2019, áp dụng thống nhất trên phạm vi cả nước như sau:

1/ Tỷ giá hạch toán giữa đồng Việt Nam với đôla Mỹ (USD) tháng 06 năm 2019 là 1 USD = 23.053 đồng.

2/ Tỷ giá hạch toán giữa đồng Việt Nam với các ngoại tệ khác của tháng 06 năm 2019 được thực hiện theo phụ lục đính kèm công văn này.

3/ Tỷ giá hạch toán trên được áp dụng trong các nghiệp vụ:

- Quy đổi và hạch toán thu chi ngân sách nhà nước bằng ngoại tệ kể cả các khoản thu hiện vật có gốc bằng ngoại tệ.

- Quy đổi và hạch toán sổ sách kế toán của Kho bạc Nhà nước.

Đề nghị các cơ quan tài chính, Kho bạc Nhà nước và các đơn vị thụ hưởng ngân sách nhà nước căn cứ vào tỷ giá được thông báo để hạch toán và báo cáo thu chi ngoại tệ theo chế độ quy định./.

 

Nơi nhận:

- VPQH, VPCP, VP CTN;

- Viện KSNDTC, Toà án NDTC;

- VP TW Đảng, Ban đối ngoại TW Đảng;

- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc

CP, cơ quan TW của các đoàn thể;

- Tổng cục Thuế;

- Tổng cục Hải quan;

- NH PT VN;

- Kiểm toán nhà nước;

- KBNN các tỉnh, thành phố trực thuộc TW;

- STC các tỉnh, thành phố trực thuộc TW;

- Các Cục, Vụ trực thuộc BTC;

- Lưu: VT; QLNQ (220).

KT. TỔNG GIÁM ĐỐC

PHÓ TỔNG GIÁM ĐỐC

(Đã ký)

 

 

Trần Thị Huệ

  

(Kèm theo Thông báo số 2589/TB-KBNN ngày 31/05/2019 của Kho bạc Nhà nước)

Kho bạc Nhà nớc thông báo tỷ giá giữa Việt Nam đồng với các loại ngoại tệ áp dụng trong thống kê kể từ ngày 1/3/2016 cho đến khi có thông báo mới như sau:

TÊN NƯỚC

TÊN NGOẠI TỆ

Ký hiệu ngoại tệ

Ngoạitệ/VNĐ

Bằng số

Bằng chữ

SLOVAKIA

SLOVAKKORUNA

09

SKK

1,070

MOZAMBIQUE

MOZAMBICAN METICAL

10

MZN

375

NICARAGUA

CORDOBA ORO

11

NIO

701

CHÂU ÂU

EURO

14

EUR

25,614

GUINÉ - BISSAU

GUINEA BISSAU PESO

15

GWP

-

HONDURAS

LEMPIRA

16

HNL

943

ALBANIA

LEK

17

ALL

210

BA LAN

ZLOTY

18

PLN

5,988

BULGARIA

LEV

19

BGN

13,098

LIBERIA

LIBERIAN DOLLAR

20

LRD

122

HUNGARY

FORINT

21

HUF

79

SNG (NGA)

RUSSIAN RUBLE (NEW)

22

RUB

353

MÔNG CỔ

TUGRIK

23

MNT

9

RUMANI

LEU

24

RON

5,412

TIỆP KHẮC

CZECH KORUNA

25

CZK

994

TRUNG QUỐC

YAN RENMINBI

26

CNY

3,341

CHDCND TRIỀU TIÊN

NORTH KOREAN WON

27

KPW

177

CUBA

CUBAN PESO

28

CUP

23,053

LÀO

KIP

29

LAK

3

CAMPUCHIA

RIEL

30

KHR

6

PAKISTAN

PAKISTAN RUPEE

31

PKR

157

ARGENTINA

ARGENTINE PESO

32

ARS

517

ANH VÀ BẮC IRELAND

POUND STERLING

35

GBP

29,181

HÔNG KÔNG

HONGKONG DOLLAR

36

HKD

2,937

PHÁP

FRENCH FRANC

38

FRF

3,103

THỤY SĨ

SWISS FRANC

39

CHF

22,825

CHLB ĐỨC

DEUTSCH MARK

40

DEM

10,384

NHẬT BẢN

YEN

41

JPY

211

BỒ ĐÀO NHA

PORTUGUESE ESCUDO

42

PTE

25,614

GUINÉE

GUINEA FRANC

43

GNF

3

SOMALIA

SOMA SHILING

44

SOS

40

THÁI LAN

BAHT

45

THB

725

BRUNEI DARUSSALAM

BRUNEI DOLLAR

46

BND

16,705

BRASIL

BRAZILIAN REAL

47

BRL

5,792

THỤY ĐIỂN

SWEDISH KRONA

48

SEK

2,419

NA UY

NORWEGIAN KRONE

49

NOK

2,629

ĐAN MẠCH

DANISH KRONE

50

DKK

3,441

LUCXEMBOURG

LUXEMBOURG FRANC

51

LUF

505

ÚC

AUSTRALIAN DOLLAR

52

AUD

15,899

CANADA

CANADIAN DOLLAR

53

CAD

17,076

SINGAPORE

SINGAPORE DOLLAR

54

SGD

16,705

MALAYSIA

MALAYSIAN RINGGIT

55

MYR

5,502

ALGÉRIE

ALGERIAN DINAR

56

DZD

193

YEMEN

YEMENI RIAL

57

YER

92

IRAQ

IRAQI DINAR

58

IQD

19

LIBYA

LEBANESE DINAR

59

LYD

16,466

TUNISIA

TUNISIAN DINAR

60

TND

7,710

BỈ

BELGIAN FRANC

61

BEF

25,614

MAROC

MOROCCAN DIRHAM

62

MAD

2,369

COLOMBIA

COLOMBIAN PESO

63

COP

7

CÔNG GÔ

CFA FRANC BEAC

64

XAF

37

ANGOLA

KWANZA REAJUSTADO

65

AOR

70

HÀ LAN

NETHERLANDS GUILDER

66

NLG

25,614

MALI

CFA FRANC BEAC

67

XOF

39

MYANMA

KYAT

68

MMK

15

AI CẬP

EGYPTIAN POUND

69

EGP

1,378

SYRIA

SYRIAN POUND

70

SYP

45

LI BĂNG

LIBIAN POUND

71

LBP

15

ETHIOPIA

ETHIOPIAN BIRR

72

ETB

801

IRELAND

EURO

73

EUR

25,614

THỔ NHĨ KỲ

NEW TURKISH LIRA

74

TRY

3,901

ITALY

EURO

75

EUR

25,614

PHẦN LAN

EURO

76

EUR

25,614

MEXICO

MAXICAN PESO

77

MXN

1,186

PHILIPPINES

PHILIPINE PESO

78

PHP

442

PARAGUAY

GUARANI

79

PYG

4

HY LẠP

EURO

80

EUR

25,614

ẤN ĐỘ

INDIAN RUPEE

81

INR

330

SRI LANKA

SRILANCA RUPEE

82

LKR

131

BANGLADESH

TAKA

83

BDT

275

INDONESIA

RUPIAH

84

IDR

2

ÁO

SCHILLING

85

ATS

25,614

QUỸ TIỀN TỆ QUỐC TẾ

SDR

86

SDR

-

ECUADOR

SUCRE

87

ECS

1

NEW ZEALAND

NEWZELAND DOLLAR

88

NZD

14,969

DJIBOUTI

DJIBOUTI FRANC

89

DJF

130

TÂY BAN NHA

EURO

90

EUR

25,614

PERU

NUEVO SOL

92

PEN

6,861

PANAMA

BALBOA

93

PAB

23,053

ĐÀI LOAN

NEW TAIWAN DOLLAR

94

TWD

730

MA CAO

PATACA

95

MOP

2,857

IRAN

IRANIAN RIAL

96

IRR

1

CÔ OÉT

KUWAITI DINAR

97

KWD

76,843

HÀN QUỐC

WON

98

KRW

19

KHỐI CÁC NƯỚC XHCN

RÚP CHUYỂN NHƯỢNG

100

RCN

23,053

ĐÔNG ĐỨC

EAST GERMAN MARK

101

DDM

10,384

AFGHANISTAN

AFGHAN AFGHANI

102

AFN

291

BAHAMAS

BAHAMIAN DOLLAR

103

BSD

23,053

BAHRAIN

BAHARAINI DINAR

104

BHD

60,666

BARBADOS

BARBADOS DOLLAR

105

BBD

11,702

BELIZE

BELIZE DOLLAR

106

BZD

11,584

MADAGASCAR

MALAGASY ARIARY

107

MGA

6

ISRAEL

NEW ISRAELI SHEKEL

108

ILS

6,368

JAMAICA

JAMACAN DOLLAR

109

JMD

172

BOLIVIA

BOLIVIANO

110

BOB

3,365

COSTA RICA

COSTA RICAN COLON

111

CRC

39

GHANA

CEDI

112

GHC

2

GUATEMALA

QUETZAL

113

GTQ

2,994

MAURITANIA

OUGUIYA

114

MRO

65

NEPAL

NEPALESE RUPEE

115

NPR

206

NIGERIA

NAIRA

116

NGN

75

SIERRA LEONE

LEONE

117

SLL

3

NAM PHI

RAND

118

ZAR

1,558

LESOTHO

RAND

119

ZAR

1,558

URUGUAY

PESO URUGUAYO

120

UYU

655

VENEZUELA

BOLIVAR

121

VEF

0

CYPRUS

CYPRUS POUND

122

CYP

25,614

TIỆP KHẮC (CŨ)

CZECH KORUNA

123

CSK

994

SLOVENIA

EURO

124

EUR

25,614

SOLOMON ISLANDS

SOLOMON ISLANDS DOLLAR

125

SBD

2,781

ZAMBIA

KWACHA

126

ZMK

4

ICELAND

ICELAND KRONA

128

ISK

186

RWANDA

RWANDA FRANC

129

RWF

25

MONTSERRAT

EAST CARIBEAN DOLLAR

130

XCD

8,538

SAINT HELENA

ST. HELENA POUND

131

SHP

18,296

SAINT KITTS AND NEVIS

EAST CARIBEAN DOLLAR

132

XCD

8,538

SAINT LUCIA

EAST CARIBIAN DOLLAR

133

XCD

8,538

LATVIA

EURO

134

EUR

25,614

ARMENIA

ARMENIAN DRAM

135

AMD

48

ARUBA

ARUBAN GUILDER

136

AWG

12,951

GIOOC ĐA NI

JORDANIAN DINAR

137

JOD

32,469

KAZAKHSTAN

TENGE

138

KZT

61

HAITI

GOURDE

139

HTG

257

KENYA

KENYAN SHILING

140

KES

228

MOLDOVA

MOLDOVAN LEU

141

MDL

1,273

QATA

QATARI RIAL

142

QAR

6,333

WALLIS & FUTUNA ISLANDS

CFP FRANC

143

XPF

216

FRENCH POLYNESIA

CFP FRANC

144

XPF

216

MAURITIUS

MAURITUS RUPEE

145

MUR

650

ST. VINCENT& THE GRENADINES

EAST CARIBIAN DOLLAR

146

XCD

8,538

USSR

RUP XO VIET

147

USR

353

ĐÔNG SAHARA

MOROCCAN DIRHAM

148

MAD

2,369

LITHUANIA

LITHUANIAN LITAS

149

LTL

8,089

SAMOA

TALA

150

WST

8,475

UZBEKISTAN

UZBEKISTAN SUM

151

UZS

3

VANUATU

VATU

152

VUV

203

GIBRALTA

GIBRALTAR POUND

153

GIP

18,296

OMAN

RIAL OMANI

154

OMR

60,666

SWAZILAND

LILANGENI

155

SZL

1,561

FALKLAND ISLANDS (MALVINAS)

FALKLAND ISLANDS POUND

156

FKP

18,296

GRENADA

EAST CARIBIAN DOLLAR

157

XCD

8,538

FIJI

FIJI DOLLAR

158

FJD

10,526

UGANDA

UGANDA SHILING

159

UGX

6

CAPE VERDE

CAPE VERDE ESCUDO

160

CVE

233

NETH. ANTILLES

NETH.ANTILLIAN GUILDER

161

ANG

12,328

UKRAINA

HRYVNIA

162

UAH

856

CAYMAN ISLANDS

CAYMAN ISLANDS DOLLAR

163

KYD

27,775

UNITED ARAB EMIRATES

UAE DIRHAM

164

AED

6,281

MALDIVES

RUFIYAA

165

MVR

1,495

COMOROS

COMORO FRANC

166

KMF

53

CHILÊ

UNIDADES DE FOMENTO

167

CLF

32

CỘNG HOÀ CÔNG GÔ

FRANC CONGOLAIS

168

CDF

14

ERITREA

NAKFA

169

ERN

1,537

ZAMBIA

DALASI

170

GMD

461

ANGÔLA

ANGOLAN KWANZA

171

AOA

70

CHILÊ

CHILEAN PESO

172

CLP

32

COOK ISLANDS

NEW ZWALAND DOLLAR

173

NZD

14,969

ESTONIA

EURO

174

EUR

25,614

GEORGIA

LARI

175

GEL

8,292

ANGUILLA

EAST CARIBIAN DOLLAR

176

XCD

8,538

NEW CALEDONIA

CFP FRANC

177

XPF

216

ANTIGUA AND BARBUDA

EAST CARIBIAN DOLLAR

178

XCD

8,538

BERMUDA

BERMUDIAN DOLLAR

179

BMD

23,053

BURUNDI

BURUNDI FRANC

180

BIF

13

CROATIA

KUNA

181

HRK

3,461

GUYANA

GUYANA DOLLAR

182

GYD

111

MALTA

EURO

183

EUR

25,614

SEYCHELLES

SEYCHELLESS RUPEE

184

SCR

1,698

NAMIBIA

NAMIBIA DOLLAR

185

NAD

1,568

EL SALVADOR

EL SALVADOR COLON

186

SVC

2,635

NAMIBIA

RAND

187

ZAD

1,568

LESOTHO

LOTI

188

LSL

1,559

TURKMENISTAN

MANAT

189

TMM

2

SÃO TOMÉ AND PRÍNCIPE

DOBRA

190

STD

1

Ả RẬP XÊÚT

SAUDI RYAL

191

SAR

6,147

MEXICO

MEX.UNIDAD DE INVERSIOR

192

MXV

1,186

BHUTAN

NGULTRUM

193

BTN

330

SUDAN

SUDANESE DINAR

194

SDD

115

BOLIVIA

MVDOL

195

BOV

3,365

SURINAME

SURINAME DOLLAR

196

SRD

3,103

BELARUS

BELARUSIAN RUBLE

197

BYB

1

BOSNIA AND HERZEGOVINA

CONVERTIBLE MARKS

198

BAM

13,098

AZERBAIJAN

AZERBAIJANIAN MANAT

199

AZN

13,641

BOTSWANA

PULA

200

BWP

2,107

ECUADOR

UNIDAD DE VALOR CONSTANTE(UVC)

201

ECV

1

TONGA

PAANGA

202

TOP

9,768

DOMINICA

EAST CARIBIAN DOLLAR

203

XCD

8,538

TRINIDAD AND TOBAGO

TRINIDAD &TOBACO DOLLAR

204

TTD

3,431

ANDORRA

EURO

205

EUR

25,614

CỘNG HOÀ DOMINICANA

DOMINICAN PESO

206

DOP

457

ĐÔNG TIMOR

RUPIAH

207

IDR

2

PAPUA NEW GUINEA

KINA

209

PGK

6,663

TAJIKISTAN

TAJIK RUBLE

210

TJR

10

MACEDONIA

DENAR

211

MKD

419

TANZANIA

TANZANIAN SHILLING

212

TZS

10

KYRGYZSTAN

SOM

213

KGS

330

MALAWI

KWACHA

214

MWK

31

Tiếp tục cắt giảm 28 chi cục thuế tại 9 địa phương

Tiếp tục cắt giảm 28 chi cục thuế tại 9 địa phương

Triển khai Nghị quyết số 18-NQ/TW và Quyết định số 520/QĐ-BTC của Bộ Tài chính về tổ chức, sắp xếp tinh gọn bộ máy quản lý thuế, sau khi hoàn thành giai đoạn thí điểm, Tổng cục Thuế tiếp rà soát trình Bộ Tài chính ban hành quyết định hợp nhất các chi cục thuế (CCT) của 9 cục thuế gồm: Đà Nẵng, Đắk Lắk, Hà Nam, Hưng Yên, Lạng Sơn, Ninh Thuận, Sóc Trăng, Thái Nguyên và Thừa Thiên Huế.

>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG <<< 

Ổn định hoạt động là ưu tiên hàng đầu 

Đại diện Vụ Tổ chức cán bộ Tổng cục Thuế cho biết, năm 2018, ngành thuế đã thực hiện triển khai điểm thành lập CCT khu vực tại 6 địa phương: Quảng Ninh, Hải Dương, Yên Bái, Quảng Ngãi, Lâm Đồng và Cà Mau. Qua đó, đã triển khai sắp xếp, hợp nhất 34 CCT để thành lập 16 CCT khu vực, giảm 18 đầu mối. Trong đợt 2 này, sẽ thực hiện sắp xếp, hợp nhất 54 CCT thuộc 9 cục thuế để thành lập 26 CCT khu vực, giảm 28 CCT. 

Cụ thể, Cục Thuế tỉnh Hà Nam sẽ hợp nhất CCT huyện Duy Tiên và CCT huyện Lý Nhân thành CCT khu vực Duy Tiên - Lý Nhân; hợp nhất CCT huyện Thanh Liêm và CCT huyện Bình Lục thành CCT khu vực Thanh Liêm - Bình Lục.

Cục Thuế tỉnh Lạng Sơn hợp nhất CCT huyện Chi Lăng và CCT huyện Hữu Lũng thành CCT khu vực I; hợp nhất CCT huyện Đình Lập và CCT huyện Lộc Bình thành CCT khu vực II; hợp nhất CCT huyện Văn Lãng và CCT huyện Tràng Định thành CCT khu vực III; hợp nhất CCT huyện Văn Quan, CCT huyện Bình Gia và CCT huyện Bắc Sơn thành CCT khu vực IV.

Cục Thuế TP Đà Nẵng hợp nhất CCT quận Sơn Trà và CCT quận Ngũ Hành Sơn thành CCT khu vực Sơn Trà - Ngũ Hành Sơn; hợp nhất CCT quận Thanh Khê và CCT quận Liên Chiểu thành CCT khu vực Thanh Khê - Liên Chiểu.

Cục Thuế tỉnh Đắk Lắk hợp nhất CCT huyện Ea H’Leo và CCT huyện Krông Búk thành CCT khu vực Ea H’Leo - Krông Búk; hợp nhất CCT thị xã Buôn Hồ và CCT huyện Krông Năng thành CCT khu vực Buôn Hồ - Krông Năng; hợp nhất CCT huyện Krông Ana và CCT huyện Cư Kuin thành CCT khu vực Krông Ana - Cư Kuin; hợp nhất CCT huyện Lắk và CCT huyện Krông Bông thành CCT khu vực Lắk - Krông Bông và hợp nhất CCT huyện Ea Kar và CCT huyện M’Drắc thành CCT khu vực Ea Kar - M’Drắc.

Cục Thuế tỉnh Thừa Thiên Huế hợp nhất CCT huyện Phong Điền, CCT huyện Quảng Điền và CCT thị xã Hương Trà thành CCT khu vực Hương Điền; hợp nhất CCT huyện Phú Vang và CCT thị xã Hương Thủy thành CCT khu vực Hương Phú.

Cục Thuế tỉnh Sóc Trăng hợp nhất CCT huyện Mỹ Tú và CCT huyện Châu Thành thành CCT khu vực Châu Thành; hợp nhất CCT huyện Thạnh Trị và CCT thị xã Ngã Năm thành CCT khu vực Thạnh Trị; hợp nhất CCT TP Sóc Trăng và CCT huyện Mỹ Xuyên thành CCT khu vực TP Sóc Trăng.

Cục Thuế tỉnh Hưng Yên hợp nhất CCT huyện Tiên Lữ và CCT huyện Phù Cừ thành CCT khu vực Tiên Lữ - Phù Cừ; hợp nhất CCT TP Hưng Yên và CCT huyện Kim Động thành CCT khu vực TP Hưng Yên - Kim Động.

Cục Thuế tỉnh Thái Nguyên hợp nhất CCT huyện Đồng Hỷ và CCT huyện Võ Nhai thành CCT khu vực Đồng Hỷ - Võ Nhai; hợp nhất CCT TP Sông Công và CCT huyện Đại Từ thành CCT khu vực Sông Công - Đại Từ; hợp nhất CCT thị xã Phổ Yên và CCT huyện Phú Bình thành CCT khu vực Phổ Yên - Phú Bình; hợp nhất CCT huyện Phú Lương và CCT huyện Định Hóa thành CCT khu vực Phú Lương - Định Hóa.

Cục Thuế tỉnh Ninh Thuận hợp nhất CCT huyện Ninh Sơn và CCT huyện Bác Ái thành CCT khu vực Ninh Sơn - Bác Ái; hợp nhất CCT huyện Ninh Hải và CCT huyện Thuận Bắc thành CCT khu vực Ninh Hải - Thuận Bắc.

Để đảm bảo việc sắp xếp tinh gọn bộ máy không ảnh hưởng đến nhiệm vụ chính trị được giao, Tổng cục Thuế yêu cầu các Cục Thuế xây dựng mô hình tổ chức bộ máy theo đúng Quyết định số 110/QĐ-BTC ngày 14/1/2019 của Bộ Tài chính. Đồng thời vẫn duy trì hoạt động bộ phận một cửa trên địa bàn không có trụ sở CCT khu vực. Các địa phương tùy thuộc vào tình hình thực tế sẽ bố trí các đội thuế tại các trụ sở để đảm bảo phục vụ người nộp thuế tốt nhất, tránh xảy ra xáo trộn. 

Về nhân sự, các cục thuế cần đảm bảo nguyên tắc bố trí, lựa chọn và sắp xếp đúng theo hướng dẫn của Tổng cục Thuế. Đối với cấp trưởng (chi cục trưởng, đội trưởng), ưu tiên bố trí các chức danh tương đương, lựa chọn nhân sự tuân thủ các tiêu chuẩn theo quy định, đảm bảo khách quan. Đối với cấp phó (chi cục phó, đội phó) trong thời gian sắp xếp, Bộ Tài chính đã đồng ý số lượng cấp phó có thể nhiều hơn so với quy định, tuy nhiên khi có cấp phó nghỉ hưu hoặc điều chuyển công tác thì không bổ sung thêm; đồng thời có giải pháp điều chỉnh số lượng cấp phó ngay từ ngày hợp nhất chi cục. Đặc biệt, các cục thuế cần nắm bắt tư tưởng của công chức và người lao động để đảm bảo sự đoàn kết, thống nhất trong nội bộ cơ quan, tránh ảnh hưởng đến triển khai nhiệm vụ chính trị được giao. Theo đó, chủ động biện pháp hỗ trợ, đảm bảo quyền lợi đối với các công chức tự nguyện nghỉ hưu khi sắp xếp lại bộ máy.

Sửa đổi quy trình nghiệp vụ phù hợp với mô hình mới 

Để thực hiện tốt các nghiệp vụ quản lý, Tổng cục Thuế giao cho Vụ Kê khai và Kế toán thuế (KK&KTT) chủ trì phối hợp với Cục Công nghệ thông tin, các vụ, cục thuế địa phương thực hiện rà soát các quy trình đăng ký thuế, kê khai và kế toán thuế, hoàn thuế, miễn giảm thuế để sửa đổi bổ sung phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của đội KK&KKT tại CCT khu vực, đảm bảo việc phối hợp hiệu quả hoạt động giữa cơ quan thuế với các cơ quan quản lý nhà nước trên địa bàn cấp huyện.

Về công tác quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh và thu khác, Vụ Quản lý thuế DN nhỏ, vừa và hộ kinh doanh cá nhân chủ trì phối hợp với các đơn vị liên quan nghiên cứu sửa đổi, bổ sung và hướng dẫn các nội dung thay đổi về chính sách, quy trình liên quan đến công tác quản lý thu thuế hộ kinh doanh; các cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công và các cá nhân khác thuộc diện chịu thuế TNCN; hướng dẫn việc thực hiện quản lý thu lệ phí trước bạ, phi nông nghiệp và các khoản thu khác khi thực hiện hợp nhất; đồng thời hướng dẫn triển khai công tác ủy nhiệm thu thuế đối với các CCT trong danh sách hợp nhất.

Tổng cục Thuế yêu cầu các cục thuế căn cứ tình hình thực tế về nhiệm vụ quản lý thuế và việc tổ chức bộ phận một cửa tại địa bàn không có trụ sở CCT khu vực, trình Tổng cục Thuế để trình Bộ Tài chính xem xét, có văn bản đề nghị Công an tỉnh, TP bổ sung số lượng con dấu, tạo điều kiện thuận lợi trong thực thi nhiệm vụ được giao.

Trung Kiên
Tapchithue

Cục Thuế Hà Nội: Khẩn trương đưa hóa đơn điện tử vào cuộc sống

Cục Thuế Hà Nội: Khẩn trương đưa hóa đơn điện tử vào cuộc sống

Thực hiện chỉ đạo của Tổng cục Thuế về việc đưa hóa đơn điện tử (HĐĐT) vào áp dụng trong thực tế, Cục Thuế Hà Nội cho biết đang chuẩn bị các điều kiện cần thiết như: Tập huấn cho các doanh nghiệp, tăng cường tuyên truyền về lợi ích của HĐĐT để sẵn sàng đưa HĐĐT áp dụng vào cuộc sống.

>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG <<< 

Thành lập Tổ chỉ đạo, Tổ triển khai hóa đơn điện tử

Với mục tiêu đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ trọng tâm trong công tác quản lý thu theo chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Tài chính, UBND TP. Hà Nội đó là hoàn thành áp dụng HĐĐT trong năm 2019, Cục Thuế Hà Nội đã đẩy mạnh triển khai HĐĐT đến hầu tất cả các doanh nghiệp trên địa bàn. Để chương trình kế hoạch được triển khai đồng bộ, thống nhất từ văn phòng cục đến 30 chi cục thuế quận, huyện, thị xã, Cục Thuế Hà Nội đã thành lập Tổ chỉ đạo, Tổ triển khai, trong đó ông Mai Sơn - Cục trưởng cục thuế trực tiếp là tổ trưởng, ông Viên Viết Hùng - Phó Cục trưởng cục thuế giữ vai trò tổ phó thường trực, các thành viên là trưởng các phòng thanh tra - kiểm tra, các phòng chức năng có liên quan và các chi cục trưởng chi cục thuế quận, huyện, thị xã trên địa bàn.

Cục Thuế Hà Nội cũng đã ban hành văn bản chỉ đạo các đơn vị trực thuộc để việc áp dụng HĐĐT thống nhất, đồng bộ. Theo đó, cục thuế đã yêu cầu tất cả các phòng, các chi cục thuế trực thuộc tăng cường tuyên truyền, phổ biến lợi ích của việc áp dụng HĐĐT tới toàn thể cán bộ công chức trong đơn vị và người nộp thuế do đơn vị mình quản lý. Các phòng như: Thanh tra - Kiểm tra thuế, Quản lý hộ kinh doanh, cá nhân và thu khác; các chi cục thuế quận, huyện, thị xã thực hiện rà soát, tổng hợp các vướng mắc trong quá trình triển khai áp dụng HĐĐT gửi về Cục Thuế Hà Nội tổng hợp chung để có hướng dẫn xử lý thống nhất.

Theo tìm hiểu của phóng viên TBTCVN, hiện Cục Thuế Hà Nội đang lên kế hoạch tập huấn và triển khai HĐĐT tới các chi cục thuế, doanh nghiệp, người nộp thuế trong thời gian sớm nhất. Lãnh đạo Cục Thuế Hà Nội cũng đã yêu cầu các đơn vị chủ động nghiên cứu, đề xuất các giải pháp triển khai HĐĐT hiệu quả, gửi về Văn phòng cục thuế để tổng hợp, nghiên cứu triển khai.

Cùng với đó, Cục Thuế Hà Nội đã mở chuyên mục “hóa đơn điện tử” trên website của cục thuế để tập trung tuyên truyền về HĐĐT, công tác chỉ đạo, điều hành của lãnh đạo cục liên quan đến HĐĐT. “Trên trang web, chúng tôi cho đăng tải các nội dung hướng dẫn về chính sách HĐĐT, các tình huống vướng mắc thường gặp khi sử dụng HĐĐT và công khai danh sách các nhà cung cấp HĐĐT có uy tín, có hạ tầng công nghệ thông tin, có giải pháp kết nối chuyển dữ liệu HĐĐT của người nộp thuế tới cơ quan thuế, chuyển dữ liệu về cổng thông tin của Tổng cục Thuế ngay khi thông tư hướng dẫn Nghị định 119/2018/NĐ-CP được ban hành”, ông Mai Sơn cho biết.

Đẩy mạnh triển khai HĐĐT trong năm 2019

Cục Thuế Hà Nội là một trong số các địa phương được Tổng cục Thuế lựa chọn thí điểm áp dụng HĐĐT có mã của cơ quan thuế. Trong quá trình áp dụng thí điểm, đã giúp người nộp thuế, đặc biệt là các tổ chức, doanh nghiệp trên địa bàn quen dần với HĐĐT. Về phía cơ quan thuế cũng đang từng bước hoàn thiện giải pháp về HĐĐT trong giai đoạn chuyển tiếp từ tháng 11/2018 - 11/2020, tránh những rủi ro khi cơ quan thuế triển khai áp dụng HĐĐT đồng loạt mà doanh nghiệp chưa ký được hợp đồng với nhà cung cấp dịch vụ, điều này sẽ ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Do đó, Cục Thuế Hà Nội đặt mục tiêu, trong năm 2019 này sẽ đẩy mạnh triển khai HĐĐT đến hầu hết các doanh nghiệp trên địa bàn.

Để thực hiện được mục tiêu này, Cục Thuế Hà Nội cho biết sẽ triển khai nhiều hoạt động như: Đẩy mạnh tuyên truyền về lợi ích của việc sử dụng HĐĐT, hướng dẫn chính sách về quản lý, sử dụng HĐĐT, tuyên truyền về các hoạt động mà cục thuế đã, đang và sẽ triển khai nhằm đẩy mạnh việc sử dụng HĐĐT trên địa bàn.

Cùng với công tác tuyên truyền, cục thuế cũng tổ chức hỗ trợ, hướng dẫn doanh nghiệp thực hiện HĐĐT từ khâu đăng ký, đến các khâu sử dụng và báo cáo về hóa đơn thông qua các lớp tập huấn, thông qua điện thoại, email tư vấn phối hợp với hình thức hỗ trợ trực tiếp tại bộ phận một cửa của cơ quan thuế các cấp. Cục Thuế Hà Nội cho biết, sẽ phối hợp với các nhà cung cấp phần mềm về HĐĐT với mục tiêu đảm bảo kết nối dữ liệu về HĐĐT, phục vụ cho công tác quản lý thuế trong giai đoạn hiện nay, chuẩn bị sẵn sàng các cơ sở dữ liệu về hóa đơn để triển khai quản lý hóa đơn theo phương thức mới quy định tại Nghị định số 119/2018/NĐ-CP. Danh sách các nhà cung cấp dịch vụ về HĐĐT uy tín, đủ năng lực kết nối với cơ quan thuế sẽ được Cục Thuế Hà Nội công khai trên website của cục thuế để các doanh nghiệp, tổ chức trên địa bàn yên tâm hợp tác sử dụng dịch vụ.

Nhiều thuận lợi khi mở rộng áp dụng HĐĐT

Theo thống kê của Cục Thuế Hà Nội, đến nay cục thuế đã kết nối thông tin với khoảng trên 98% doanh nghiệp trên địa bàn thông qua việc khai thuế qua mạng, hơn 95% doanh nghiệp đã thực hiện nộp thuế điện tử. Điều này cho thấy, hầu hết các doanh nghiệp trên địa bàn đã có thói quen tương tác với cơ quan thuế thông qua môi trường điện tử. Bên cạnh đó, xu hướng giao dịch, mua bán hàng hóa, dịch vụ thanh toán bằng hình thức điện tử ngày càng phát triển, đây là điều kiện rất thuận lợi để đưa HĐĐT vào cuộc sống.

Nhật Minh
TBTC

Không luân chuyển vị trí công chức thuế trực tiếp làm thủ tục hành chính thuế

Không luân chuyển vị trí công chức thuế trực tiếp làm thủ tục hành chính thuế

 Bộ Tài chính quy định không chuyển đổi vị trí công tác đối với công chức thuế trực tiếp giải quyết các thủ tục hành chính thuế: thủ tục đăng ký thuế, cấp mã số thuế, mua bán hóa đơn, tiếp nhận hồ sơ khai thuế...

>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG, Đăng ký kinh doanh 2019: 12 thay đổi nhất định phải biết<<< 

Bộ Tài chính vừa ban hành Quyết định 686/QĐ-BTC năm 2019 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về danh mục vị trí công tác và thời hạn luân phiên, điều động, chuyển đổi vị trí công tác đối với công chức, viên chức của Bộ Tài chính.Quyết định này quy định rõ thời hạn phải thực hiện luân phiên lĩnh vực công tác phụ trách trong nội bộ đơn vị tại cơ quan Bộ Tài chính; cơ quan tổng cục; cục trực thuộc tổng cục ở các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; cấp chi cục trực thuộc cục ở các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.Bên cạnh đó, Bộ Tài chính cũng quy định rõ về vị trí công tác và thời hạn định kỳ chuyển đổi vị trí công tác đối với công chức, viên chức không giữ chức vụ lãnh đạo trong toàn ngành Tài chính.

Đặc biệt, Quyết định 686 quy định khá chi tiết về thời hạn chuyển đổi vị trí công tác đối với công chức không giữ chức vụ lãnh đạo tại Tổng cục Thuế, cụ thể như sau:Không còn quy định chuyển đổi vị trí công tác đối với công chức quản lý thuế tại các đội thuế liên phường, xã; cán bộ quản lý thu lệ phí trước bạ và thu khác (trước đây thời hạn chuyển đổi là 2 năm).Công chức làm công tác thanh tra thuế, kiểm tra thuế sẽ phải chuyển đổi vị trí công tác sau 3 năm. Không còn quy định chuyển đổi vị trí công tác đối với công chức trực tiếp giải quyết các thủ tục hành chính thuế: thủ tục đăng ký thuế, cấp mã số thuế, mua bán hóa đơn, tiếp nhận hồ sơ khai thuế…; trực tiếp xử lý hồ sơ xóa nợ thuế, miễn, giảm thuế, hoàn thuế; trả lời chính sách thuế (trước đây thời hạn chuyển đổi là 2 - 3 năm).Không còn quy định chuyển đổi vị trí công tác đối với công chức làm công tác tuyển dụng, đào tạo, thi tuyển, thi nâng ngạch công chức; công tác nhân sự; kiểm tra nội bộ (trước đây thời hạn chuyển đổi là 3 năm). Công chức làm công tác quản lý tài chính, tài vụ, quản trị, tài sản và xây dựng cơ bản của ngành tại cơ quan thuế các cấp chuyển đổi vị trí công tác sau 3 năm đến 5 năm.

Quyết định 686/QĐ-BTC có hiệu lực thi hành kể từ ngày 19/4/2019 và thay thế Quyết định 2650/QĐ-BTC ngày 15/10/2014.

Hội nghị toàn thể PEMNA năm 2019 mang lại nhiều giá trị thực tiễn

Hội nghị toàn thể PEMNA năm 2019 mang lại nhiều giá trị thực tiễn

Sau ba ngày làm việc nghiêm túc và thảo luận sôi nổi, chiều ngày 24/5/2019, Hội nghị toàn thể mạng lưới Quản lý chi tiêu công tại Châu Á (PEMNA) tại Việt Nam năm 2019 với chủ đề “Tái cơ cấu ngân sách và quản lý nợ công để đảm bảo nền tài chính quốc gia an toàn và bền vững” đã có phiên bế mạc tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.

>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG, Đăng ký kinh doanh 2019: 12 thay đổi nhất định phải biết<<< 

Hội nghị toàn thể PEMNA năm nay đã quy tụ nhiều bài trình bày về những kinh nghiệm quý báu của các nước thành viên PEMNA và các chuyên gia đến từ các đối tác phát triển, tổ chức quốc tế (World Bank, IMF, UNESCAP...).

Theo đánh giá của Ban tổ chức, các bài tham luận và ý kiến trao đổi tại Hội nghị có giá trị thực tiễn cao, có thể áp dụng vào thực tế, góp phần tăng cường chất lượng công tác quản lý tài chính công, từ đó đem lại sự thịnh vượng cho các nước thành viên trong cộng đồng PEMNA, trong đó có Việt Nam.

Tại phiên bế mạc, Trưởng Ban Thư ký PEMNA đã báo cáo các nội dung được đưa ra bàn luận và thông qua tại phiên họp Ban chỉ đạo PEMNA diễn ra sáng ngày 24/5/2019. Trong đó, Hội nghị đã thông qua báo cáo hoạt động của PEMNA một năm qua; Thảo luận, thống nhất sửa đổi quy chế hoạt động của Mạng lưới PEMNA hướng tới các hoạt động mang tính thực tiễn và có ý nghĩa hơn; Thông qua kế hoạch hành động trung hạn (2019-2022) để định hướng cho các hoạt động trong tương lai; Nghe các báo cáo về chương trình hoạt động trong thời gian tới của cộng đồng hành nghề ngân sách (B-CoP) và cộng đồng hành nghề Kho bạc (T-CoP).

Ban chỉ đạo PEMNA cũng đã công bố điều chỉnh nhân sự tham gia Ban chỉ đạo PEMNA, Ban thư ký PEMNA và Chủ tịch cộng đồng B-CoP.

Hội nghị cũng thông qua việc Bộ Tài chính nước CHDCND Lào sẽ đăng cai tổ chức Hội nghị toàn thể PEMNA năm 2020. Thay mặt cho nước chủ nhà PEMNA 2019, đại biện Bộ Tài chính Việt Nam đã chúc đại diện Bộ Tài chính nước CHDCND Lào chuẩn bị tốt các điều kiện để Hội nghị toàn thể PEMNA 2020 đạt kết quả tốt đẹp.

>>>Xem thêm  Việt Nam - Liên đoàn Kế toán Đông Nam Á: Hỗ trợ, hợp tác cùng đạt mục tiêu chung<<<

 

Việt Nam - Liên đoàn Kế toán Đông Nam Á: Hỗ trợ, hợp tác cùng đạt mục tiêu chung

Việt Nam - Liên đoàn Kế toán Đông Nam Á: Hỗ trợ, hợp tác cùng đạt mục tiêu chung

Chiều 24/5, tại trụ sở Bộ Tài chính, Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng có buổi tiếp ông Kon Yin Tong, Chủ tịch Liên đoàn Kế toán Đông Nam Á (AFA) nhân dịp ông cùng đoàn công tác tham dự Chương trình Diễn đàn Kế toán Việt Nam - Tương lai và triển vọng và Chương trình Đại hội Đại biểu toàn quốc Hội Kế toán và kiểm toán Việt Nam. Cùng tham dự buổi tiếp về phía Bộ Tài chính có đại diện các đơn vị: Cục Quản lý Giám sát Kế toán và kiểm toán, Văn phòng Bộ, Vụ Hợp tác quốc tế và một số đơn vị liên quan. Đồng tham dự buổi tiếp còn có đại diện Hiệp hội Kế toán các nước: Việt Nam; Malaysia và Singgapore.

>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG, Đăng ký kinh doanh 2019: 12 thay đổi nhất định phải biết<<< 

Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng tại buổi tiếp

Phát biểu tại buổi tiếp, Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng bày tỏ vui mừng khi đón tiếp ông Kon Yin Tong và đại diện Hiệp hội Kế toán các nước: Việt Nam; Malaysia và Singgapore tới thăm và làm việc tại Bộ Tài chính Việt Nam.

Bộ trưởng chia sẻ, Việt Nam đang trong giai đoạn chuyển đổi nền kinh tế nên rất nhiều vấn đề về pháp luật cần hoàn thiện. Lĩnh vực kế toán kiểm toán là một trong những lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tài chính. Trong thời gian qua, lĩnh vực kế toán kiểm toán được phát triển mạnh mẽ cùng với việc chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế của Việt Nam từ tập trung bao cấp sang kinh tế thị trường. Đại hội kế toán, kiểm toán nhiệm kỳ VI (2014-2019) của Hội Kế toán và Kiểm toán Việt Nam (VAA) diễn ra trong thời gian này là sự kiện quan trọng với Bộ Tài chính Việt Nam.

Cũng theo Bộ trưởng, tại Việt Nam, lực lượng kế toán kiểm toán phát triển rất mạnh mẽ trong điều kiện phát triển đa thành phần kinh tế như hiện nay. Hệ thống chuẩn mực kế toán cũng được xây dựng và ban hành tương đối đồng bộ, từng bước phù hợp với thông lệ, chuẩn mực quốc tế. Bộ Tài chính đánh giá cao vai trò của các hiệp hội kế toán kiểm toán, kiểm toán độc lập trong việc góp phần đổi mới thể chế kinh tế, gắn với đó là minh bạch hoá nền kinh tế. Cùng với thể chế kinh tế, pháp luật liên quan đến kế toán, kiểm toán cũng được hoàn thiện đồng bộ.

Là một trong những người tham gia vào Hiệp hội kế toán và kiểm toán Việt Nam trong đó có câu lạc bộ Kế toán trưởng Việt Nam từ những ngày đầu, Bộ trưởng đánh giá cao vai trò của VAA và khẳng định, VAA là “cánh tay nối dài” của Bộ Tài chính trong vấn đề phát triển lực lượng; tham gia xây dựng chính sách, pháp luật; hoàn thiện ban hành các chuẩn mực. Đồng thời đánh giá cao quan hệ mở rộng hợp tác, cùng phát triển của VAA với các hiệp hội kế toán Đông Nam Á và với các tổ chức nghề nghiệp khác.

Ông Kon Yin Tong, Chủ tịch AFA phát biểu tại buổi tiếp

Bày tỏ lời cảm ơn đến Bộ Tài chính và cá nhân Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng đã sắp xếp buổi gặp gỡ này, ông Kon Yin Tong bày tỏ vui mừng khi được biết những chia sẻ về vai trò quan trọng của nghề nghiệp kế toán trong việc phát triển kinh tế Việt Nam. Ông tin tưởng rằng với sự lãnh đạo của Bộ Tài chính, sự phối hợp của VAA sẽ đóng góp lớn cho sự phát triển của kế toán kiểm toán Việt Nam nói riêng và nghề nghiệp kế toán kiểm toán khu vực Đông Nam Á nói chung.

Bày tỏ ấn tượng về những chia sẻ của Bộ trưởng về Luật Quản lý thuế, sự minh bạch của nền kinh tế cũng như vai trò của kế toán kiểm toán tại Việt Nam, ông Kon Yin Tong cũng đã có những chia sẻ về quá trình hoạt động của AFA trong những năm gần đây. Theo đó, năm 2018, AFA cũng đã có nghiên cứu, khảo sát sự phát triển của nghề nghiệp kế toán với các công ty, doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng như đánh giá tầm quan trọng của kế toán với doanh nghiệp vừa và nhỏ khu vực Đông Nam Á. AFA cũng có những đóng góp nhất định đối với sự thay đổi về quy định chuẩn mực kế toán quốc tế; tổ chức các chương trình đào tạo về kế toán cho khu vực công của Chính phủ,…

Tại buổi tiếp, hai bên cũng bày tỏ sự quan tâm đến vấn đề công nhận chuẩn mực tế toán lẫn nhau giữa các nước. Theo Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng, việc tổ chức nghề nghiệp, tổ chức xã hội có sự liên thông, hỗ trợ, hợp tác với nhau sẽ góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế. Đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, trong thời đại CMCN 4.0, có những vấn đề mới phát sinh như thương mại điện tử, kinh doanh qua mạng, trí tuệ nhân tạo,… hệ thống chuẩn mực kế toán có lẽ cũng cần có những điều chỉnh phù hợp, vai trò của Hiệp hội nghề nghiệp theo đó cần được đẩy mạnh, liên thông, góp phần quản lý thuế tốt hơn…

Đại diện hai bên cũng bày tỏ tin tưởng Việt Nam và AFA sẽ hỗ trợ, hợp tác với nhau để cùng đạt được mục tiêu chung dựa trên những nguồn lực có sẵn cũng như định hướng phát triển chiến lược trong thời gian tới.

Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng; ông Kon Yin Tong cùng các đại biểu chụp ảnh lưu niệm cuối buổi tiếp

>>>Xem thêm Công khai thông tin văn bản trên trang thông tin Tổng cục ThuếQuý III/2019, phải hoàn thành hợp nhất chi cục thuế khu vực<<<

Nâng cấp ứng dụng Hỗ trợ kê khai phiên bản 4.1.8

Nâng cấp ứng dụng Hỗ trợ kê khai phiên bản 4.1.8

Tổng cục Thuế thông báo về việc nâng cấp ứng dụng Hỗ trợ kê khai (HTKK) phiên bản 4.1.8 nhằm đáp ứng yêu cầu nghiệp vụ và một số nội dung phát sinh.

>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG, Đăng ký kinh doanh 2019: 12 thay đổi nhất định phải biết<<< 

Theo đó, Tổng cục Thuế nâng cấp ứng dụng bổ sung các yêu cầu nghiệp vụ phát sinh, đồng thời cập nhật một số lỗi của ứng dụng HTKK 4.1.7.

Cụ thể, cập nhật bổ sung thêm 2 loại tài nguyên là “đá vôi nguyên khai” (mã 020109) và “đất sét” (mã 020110), hiệu lực từ ngày 1/7/2016; chức năng kê khai Báo cáo mất, cháy hỏng hóa đơn (BC21/AC); cập nhật hiển thị cột ghi chú tờ khai Báo cáo mất, cháy, hỏng hóa đơn (BC21/AC): Bỏ chữ “Mất” ở các giá trị có trong danh mục cột Ghi chú.

Cập nhật ràng buộc tại chỉ tiêu [21] – Từ tháng trên bảng kê 05-3BK/QTT-TNCN: Kiểm tra chỉ tiêu [21] phải >= tháng 1 của năm quyết toán.

Cập nhật danh mục các khoản phải nộp ngân sách nhà nước đáp ứng theo Thông tư số 324/2016/TT-BTC.

Cập nhật hiển thị số đã kê khai và số đã điều chỉnh tại phần [III. Tổng hợp điều chỉnh số thuế phải nộp].

Bên cạnh đó, Tổng cục Thuế  cập nhật một số lỗi của ứng dụng HTKK 4.1.7, bao gồm:  Cập nhật hiển thị cảnh báo đỏ khi nhập chỉ tiêu “MST của người nộp thuế” tại mục II. Đăng ký thay đổi về người phụ thuộc trùng với MST của cơ quan chi trả.

Cập nhật hiển thị đúng thông tin cột số lượng trên bảng kê Mẫu 3.10 chuyển địa điểm, được tổng hợp từ tờ khai chính với dữ liệu đơn vị hàng nghìn.

Cập nhật chức năng in mẫu trang bìa hồ sơ quyết toán: sau khi in người sử dụng có thể thao tác được các chức năng khác trên ứng dụng.

Cập nhật chức năng in tờ khai: cập nhật hiển thị đúng số trang và hiển thị mã vạch của tờ khai.

Cập nhật sửa lỗi in tờ khai mã vạch.

Trong thông báo cũng nêu rõ, bắt đầu từ ngày 22/5/2019, khi lập hồ sơ khai thuế có liên quan đến nội dung nâng cấp nêu trên, tổ chức, cá nhân nộp thuế sẽ sử dụng các chức năng kê khai tại ứng dụng HTKK 4.1.8 thay cho các phiên bản trước đây.

Tổ chức, cá nhân nộp thuế có thể tải bộ cài và tài liệu hướng dẫn sử dụng ứng dụng HTKK tại địa chỉ sau: http://www.gdt.gov.vn/wps/portal/home/hotrokekhai hoặc liên hệ trực tiếp với cơ quan thuế địa phương để được cung cấp và hỗ trợ trong quá trình cài đặt, sử dụng.

>>>Xem thêm Công khai thông tin văn bản trên trang thông tin Tổng cục ThuếQuý III/2019, phải hoàn thành hợp nhất chi cục thuế khu vực<<<

 

Hà Nội: Cấp mã số thuế tự động chỉ trong vòng 30 phút

Hà Nội: Cấp mã số thuế tự động chỉ trong vòng 30 phút

Ông Mai Sơn - Cục trưởng Cục Thuế Hà Nội cho biết, để tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế, cục thuế đã phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội cấp mã số thuế tự động cho các doanh nghiệp mới thành lập không quá 30 phút.

>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG, CẦN CHUẨN BỊ GÌ TRƯỚC KHI THÀNH LẬP CÔNG TY<<< 

Theo lãnh đạo Cục Thuế Hà Nội, việc triển khai các ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ người nộp thuế đã góp phần đơn giản hóa thủ tục hành chính, mở rộng các dịch vụ công trực tuyến nói chung và dịch vụ thuế điện tử nói riêng, tạo điều kiện thuận lợi, tiết kiệm thời gian và chi phí tuân thủ đối với người nộp thuế.

“Cục Thuế Hà Nội đã phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội trong việc cấp mã số thuế tự động cho các doanh nghiệp mới thành lập, triển khai biên lai điện tử tại Sở Kế hoạch và Đầu tư. Với việc kết nối liên thông này, thời gian cấp mã số thuế tự động không quá 30 phút, giảm hơn 80% thời gian thực hiện so với quy định hiện hành” - ông Mai Sơn nói.

Bên cạnh việc kết nối liên thông với các sở, ngành để rút ngắn thời gian làm thủ tục hành chính cho người nộp thuế, Cục Thuế Hà Nội cũng thực hiện tốt các đề án công nghệ thông tin của TP. Hà Nội như: đề án bán hàng kinh doanh qua mạng; đề án thu lệ phí trước bạ cấp độ 4…

Ngoài việc đưa các ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý thuế, lãnh đạo Cục Thuế Hà Nội cho biết đang tiếp tục rà soát, đánh giá lại toàn bộ các thủ tục hành chính, các quy trình quản lý thuế để tham mưu, đề xuất, kiến nghị cấp trên cắt giảm, đơn giản hóa theo hướng minh bạch, thông thoáng, phù hợp với xu thế hội nhập.

"Thời gian qua, chúng tôi đã thường xuyên rà soát để đơn giản hóa thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế, cắt giảm những thủ tục không cần thiết. Chỉ tính riêng 3 năm 2016 - 2018, Cục Thuế Hà Nội đã có 167 kiến nghị cấp có thẩm quyền, đề xuất đối với 85 thủ tục hành chính; 41 kiến nghị, đề xuất với 19 quy trình nghiệp vụ; 17 kiến nghị, đề xuất đối với 11 quy chế" - ông Sơn nói./.

 

Sẽ sớm có “bức tranh toàn cảnh” về hệ thống chuẩn mực kế toán công tại Việt Nam

Sẽ sớm có “bức tranh toàn cảnh” về hệ thống chuẩn mực kế toán công tại Việt Nam

Ngày 20/5, tại Hà Nội, Bộ Tài chính phối hợp với Ngân hàng Thế giới (WB) tổ chức Hội thảo “ Đề án công bố hệ thống chuẩn mực kế toán công tại Việt Nam”, Thứ trưởng Bộ Tài chính Đỗ Hoàng Anh Tuấn và ông Filly Sissoko- Giám đốc Ban Quản trị, phụ trách khu vực Đông Nam Á và Thái Bình Dương của WB đồng chủ trì Hội thảo.

Hội thảo có sự tham gia của chuyên gia tư vấn quốc tế đến từ Công ty kiểm toán PWC Malaysia; đại diện một số Bộ, Ngành, các đơn vị thuộc Bộ Tài chính cùng với hơn 100 đại biểu đến từ các tổ chức quốc tế, công ty kiểm toán, cơ sở đào tạo, tổ chức hiệp hội và các đơn vị kế toán công.

>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG, CẦN CHUẨN BỊ GÌ TRƯỚC KHI THÀNH LẬP CÔNG TY<<< 

Khai mạc Hội thảo, Thứ trưởng Đỗ Hoàng Anh Tuấn đánh giá cao những hỗ trợ từ WB và chuyên gia tư vấn quốc tế đến từ Công ty kiểm toán PWC Malaysia đã nỗ lực trong việc nghiên cứu về kinh nghiệm quốc tế, khảo sát thực trạng ở Việt Nam để đưa ra các khuyến nghị về phương án và lộ trình ban hành hệ thống chuẩn mực kế toán công (IPSAS) tại Việt Nam.

Thứ trưởng Đỗ Hoàng Anh Tuấn cho biết, trên cơ sở Chiến lược kế toán - kiểm toán đến năm 2020, tầm nhìn 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt năm 2013, Bộ Tài chính xây dựng Đề án công bố hệ thống chuẩn mực kế toán công tại Việt Nam. Thứ trưởng cho rằng việc xây dựng hệ thống các chuẩn mực kế toán công tạo ra một môi trường pháp lý quan trọng cho lĩnh vực kế toán Nhà nước, góp phần quản lý ngày càng tốt hơn tài sản của Nhà nước ở cả tầm vĩ mô và vi mô.

Để có căn cứ xây dựng nội dung chi tiết của Đề án, Thứ trưởng đề nghị các đại biểu tích cực trao đổi, thảo luận, đóng góp ý kiến xoay quanh các nội dung về đối tượng, phạm vi, nội dung, lộ trình và cách thức ban hành IPSAS tại Việt Nam để làm cơ sở hoàn thiện Đề án. Ngoài ra, các đại biểu tập trung phân tích các cơ sở để phân loại các nhóm, loại của từng chuẩn mực để xác định kế hoạch ban hành, nghiên cứu xây dựng nội dung phù hợp với đặc điểm của Việt Nam… Trên cơ sở ý kiến của đại biểu, Bộ Tài chính sẽ tổng hợp, phân tích, có giải trình và hoàn thiện Đề án trình Bộ trưởng Bộ Tài chính phê duyệt trong năm 2019.

 

Quý III/2019, phải hoàn thành hợp nhất chi cục thuế khu vực

Quý III/2019, phải hoàn thành hợp nhất chi cục thuế khu vực

Bộ trưởng Bộ Tài chính yêu cầu công tác hợp nhất các chi cục thuế khu vực hoàn thành chậm nhất trong quý III/2019. Các cục thuế rà soát hoàn thiện đề án trình bộ xem xét, quyết định không cần chờ tổng thể toàn ngành, tránh để ảnh hưởng đến công tác thu ngân sách.

>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG, CẦN CHUẨN BỊ GÌ TRƯỚC KHI THÀNH LẬP CÔNG TY<<< 

Bộ Tài chính vừa có thông báo ý kiến kết luận của Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng tại hội nghị triển khai một số nhiệm vụ trong tâm công tác thuế năm 2019.

Về thực hiện các giải pháp hoàn thành nhiệm vụ thu ngân sách nhà nước, thông báo nêu rõ, Tổng cục Thuế, các cục thuế, chi cục thuế cần phấn đấu thực hiện vượt dự toán thu ngân sách nhà nước khoảng 6% (không kể thu từ sử dụng đất và xổ số kiến thiết).

Cơ quan thuế các cấp cần tranh thủ sự chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền địa phương, sự phối hợp với cơ quan, ban ngành trên địa bàn trong quá trình triển khai nhiệm vụ thu ngân sách đảm bảo hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng chỉ đạo cơ quan thuế rà soát, triển khai thực hiện công tác cải cách thủ tục hành chính theo đúng kế hoạch đề ra. Đồng thời, Tổng cục Thuế đánh giá thực trạng hệ thống cơ sở dữ liệu hiện tại để nâng cấp ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) phù hợp với yêu cầu triển khai hệ thống hóa đơn điện tử theo quy định của Nghị định số 119/2018/NĐ-CP.

Bộ trưởng cũng yêu cầu, cơ quan thuế khẩn trương triển khai Dự án ứng dụng CNTT trong việc quản lý hóa đơn điện tử để áp dụng chung trong cả nước từ ngày 1/11/2020; xây dựng Hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia người nộp thuế, trên cơ sở đó tiếp tục cải cách thủ tục hành chính thuế, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp.

Liên quan tới sắp xếp tổ chức bộ máy, Bộ trưởng yêu cầu, tập trung triển khai và tổ chức thực hiện công tác tổ chức bộ máy của toàn hệ thống thuế; trong đó, công tác hợp nhất các chi cục thuế khu vực hoàn thành chậm nhất trong quý III/2019, đơn vị rà soát hoàn thiện đề án trình Bộ xem xét, quyết định, không cần chờ tổng thể toàn ngành, tránh để ảnh hưởng đến công tác thu ngân sách, đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Cùng với đó, cơ quan thuế đẩy mạnh và thực hiện nghiêm công tác luân phiên, luân chuyển, chuyển đổi vị trí công tác công chức trong toàn hệ thống; khẩn trương rà soát nhu cầu tuyển dụng công chức để thực hiện công tác tuyển dụng kịp thời nhằm đảm bảo nhiệm vụ chính trị được giao.

Tổng cục Thuế phối hợp với Vụ Tổ chức cán bộ (Bộ Tài chính) xây dựng đề án báo cáo lãnh đạo Bộ Tài chính để triển khai thực hiện trong phạm vi chỉ tiêu biên chế được giao theo quy định tại Nghị quyết số 39/NQ/TW và các quy định hiện hành về tuyển dụng. Theo đó, ưu tiên khu vực, địa phương có nhu cầu cấp bách thì thực hiện ngay, trước mắt thực hiện ngay cho Cục Thuế TP. Hồ Chí Minh và các địa phương lân cận./.

Cục Thuế Hà Nội truy thu 640 tỷ đồng từ chống chuyển giá

Cục Thuế Hà Nội truy thu 640 tỷ đồng từ chống chuyển giá

Thông qua các cuộc thanh tra chống chuyển giá, Cục Thuế Hà Nội đã thực hiện thanh tra chống chuyển giá đối với 262 doanh nghiệp, qua đó đã truy thu 640 tỷ đồng.

>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG, CẦN CHUẨN BỊ GÌ TRƯỚC KHI THÀNH LẬP CÔNG TY<<< 

Ông Mai Sơn - Cục trưởng Cục Thuế Hà Nội cho biết, để đảm bảo chống thất thu từ hoạt động chuyển giá, cục thuế đã thành lập bộ phận chuyên trách quản lý thuế đối với hoạt động này. Đây chính là bộ phận có chức năng chuyên thu thập thông tin phục vụ quản lý thuế ở cả trong nước và quốc tế.

Bên cạnh đó, cục thuế cũng đã đào tạo, nâng cao năng lực cho cán bộ thuế nói chung và cán bộ chuyên trách chống chuyển giá về chuyên môn, nghiệp vụ, cũng như các kỹ năng giải quyết vấn đề, giải quyết tranh chấp…

“Với việc triển khai quyết liệt các giải pháp trong thanh tra chống chuyển giá, đến nay Cục Thuế Hà Nội đã thực hiện thanh tra chống chuyển giá đối với 263 doanh nghiệp, đạt 113% kế hoạch, qua đó đã truy thu 640 tỷ đồng” - ông Mai Sơn nói.

Cùng với việc đẩy mạnh thanh tra chống chuyển giá, lãnh đạo Cục Thuế Hà Nội cho biết, cục thuế đã đấy mạnh thực hiện các biện pháp quản lý thuế đối với hoạt động thương mại điện tử.

“Chúng tôi đã nhận diện và phân loại các đối tượng quản lý liên quan đến hoạt động thương mại điện tử và có những biện pháp cụ thể đối với từng nhóm đối tượng quản lý như: Cá nhân kinh doanh qua mạng; tổ chức, cá nhân cung cấp các ứng dụng, sản phẩm tại các trang mạng như Google Play, Apple Store, Youtube…” - ông Sơn cho biết.

Ngoài ra, đối với các tổ chức cung cấp dịch vụ, bán hàng (tổ chức có các website, ứng dụng bán hàng, mở các sàn thương mại điện tử); căn cứ danh sách các doanh nghiệp có hoạt động cung cấp dịch vụ thương mại điện tử được đăng ký với Bộ Công thương, kết hợp với danh sách được thu thập qua phương tiện thông tin báo chí, cơ quan thuế đã bổ sung các doanh nghiệp này vào kế hoạch thanh tra đột xuất.

Với sự vào cuộc đồng bộ, quyết liệt của Cục Thuế Hà Nội, nhiều tổ chức, cá nhân có hoạt động giao dịch liên kết đã bị phát hiện và yêu cầu khai thuế bổ sung, thực hiện nghĩa vụ nộp tiền thuế phát sinh vào ngân sách nhà nước./.

Công khai thông tin văn bản trên trang thông tin Tổng cục Thuế

Công khai thông tin văn bản trên trang thông tin Tổng cục Thuế

Thực hiện mục tiêu cải cách hành chính thuế, tăng cường kỷ cương, kỷ luật trong quản lý thuế và tạo thuận lợi cho người nộp thuế, ngày 9/5/2019, Tổng cục Thuế đã ban hành Quyết định số 576/QĐ-TCT về quy trình công khai thông tin trên trang điện tử của Tổng cục Thuế.

>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG, CẦN CHUẨN BỊ GÌ TRƯỚC KHI THÀNH LẬP CÔNG TY<<< 

Theo đó,Tổng cục Thuế thực hiện công khai những văn bản hỏi của tổ chức, cá nhân về chính sách chế độ và các văn bản trả lời người nộp thuế của cơ quan thuế các cấp tại mục “Công khai thông tin văn bản”. Toàn bộ văn bản hỏi/trả lời sẽ được công khai thông tin về mã cơ quan thuế; số đến, ký hiệu của văn bản; trích yếu nội dung; ngày, đơn vị tiếp nhận/trả lời văn bản hỏi, đồng thời đính kèm toàn văn của văn bản hỏi dưới dạng PDF.

Về thời hạn công khai, quyết định ghi rõ: đối với văn bản hỏi sau khi tiếp nhận, ngay trong ngày hoặc đầu giờ sáng của ngày làm việc tiếp theo, bộ phận tiếp nhận phải thực hiện đề xuất đưa văn bản lên website và luân chuyển xử lý. Khi văn bản đến bộ phận xử lý thì đồng thời được tự động đưa lên website của ngành. Thời hạn luân chuyển, xử lý văn bản đến thực hiện theo quy chế làm việc của từng đơn vị.

Đối với văn bản trả lời, được bộ phận phát hành văn bản tiếp nhận và chuyển đi ngay trong ngày hoặc đầu ngày làm việc tiếp theo đến nơi nhận của văn bản, đồng thời được đăng tải tự động trên website của Tổng cục Thuế.

Người nộp thuế có thể tra cứu thông tin công khai trên trang thông tin điện tử của Tổng cục Thuế theo đường dẫn http://www.gdt.gov.vn, sau đó chọn đầy đủ các điều kiện để tra cứu văn bản công khai gồm cơ quan thuế, số văn bản đến, ngày văn bản đến sau đó bấm nút tra cứu và hệ thống sẽ hiện kết quả.

Tổng cục Thuế yêu cầu thủ trưởng các đơn vị đã triển khai chương trình quản lý văn bản tổ chức triển khai điều hành và chịu trách nhiệm tổ chức chỉ đạo đăng tải nội dung văn bản hỏi, văn bản trả lời lên Trang thông tin điện tử của Tổng cục Thuế theo đúng quy chế. Đội ngũ cán bộ công nghệ thông tin tại cơ quan thuế các cấp đảm bảo các điều kiện kỹ thuật, dung lượng đường truyền, phần mềm ứng dụng để công khai thông tin văn bản. 

Đề xuất giảm thuế thu nhập doanh nghiệp: Thúc đẩy doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ phát triển

Đề xuất giảm thuế thu nhập doanh nghiệp: Thúc đẩy doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ phát triển

Mới đây, tại Phiên họp thường kỳ Chính phủ tháng 4 năm 2019, Chính phủ đã đồng ý với đề xuất của Bộ Tài chính về việc xây dựng dự án Nghị quyết của Quốc hội về một số chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp (thuế TNDN) nhằm hỗ trợ, phát triển doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ. Ông Nguyễn Quốc Hưng - Phó Vụ trưởng Vụ Chính sách Thuế, Bộ Tài chính đã chia sẻ một số nội dung liên quan tới vấn đề này.

>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG, CẦN CHUẨN BỊ GÌ TRƯỚC KHI THÀNH LẬP CÔNG TY<<< 


Xin ông cho biết sự cần thiết và mục tiêu, yêu cầu của việc xây dựng dự án này?

Ông Nguyễn Quốc Hưng: Từ tổng kết quá trình phát triển đất nước trong nhiều năm qua, Đảng ta đã đánh giá cao vai trò của kinh tế tư nhân trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất nước và tại Hội nghị Trung ương 5 khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 03/6/2017 về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó có mục tiêu cụ thể là đến năm 2020 có ít nhất 1 triệu doanh nghiệp; đến năm 2025 có hơn 1,5 triệu doanh nghiệp và đến năm 2030, có ít nhất 2 triệu doanh nghiệp, đồng thời Nghị quyết số 10-NQ/TW cũng đề ra các chính sách khuyến khích, hỗ trợ để đạt mục tiêu này, trong đó có chính sách ưu đãi về thuế TNDN. Bên cạnh đó, Quốc hội khóa XIV cũng đã thông qua Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) số 04/2017/QH14, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2018, nhằm hiện thực hóa các chủ trương về hỗ trợ, phát triển DNNVV bằng nhiều chính sách, trong đó có chính sách ưu đãi về thuế TNDN đối với DNNVV.

Hiện nay, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp đang trong quá trình đánh giá, tổng kết để nghiên cứu, sửa đổi căn bản, toàn diện nhằm đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của giai đoạn tới. Do vậy, việc ban hành Nghị quyết của Quốc hội để quy định và áp dụng một số chính sách ưu đãi về thuế TNDN nhằm cụ thể hóa chủ trương, chính sách của Đảng, của Quốc hội nêu trên là cần thiết.

Việc xây dựng dự án Nghị quyết đảm bảo đáp ứng các mục tiêu, yêu cầu cụ thể là: (i) Hỗ trợ và tạo điều kiện cho các hộ kinh doanh chuyển đổi hoạt động sang mô hình doanh nghiệp; tiếp tục thúc đẩy doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ phát triển và mở rộng sản xuất kinh doanh, phù hợp với xu hướng phát triển; (ii) Đảm bảo các chính sách hỗ trợ đúng đối tượng để đạt được mục tiêu về hỗ trợ, phát triển doanh nghiệp theo chủ trương của Nhà nước, đồng thời phù hợp với tình hình, điều kiện thực tế của ngân sách nhà nước (NSNN); (iii) Đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ với các quy định của pháp luật liên quan; (iv) Đảm bảo đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện, tạo thuận lợi cho người nộp thuế và góp phần thúc đẩy cải cách hành chính, hiện đại hoá công tác quản lý thuế.

Xin ông cho biết lí do tại sao tại dự thảo Nghị quyết này, Bộ Tài chính lại đề xuất các chính sách hỗ trợ cho doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ mà không bao gồm cả doanh nghiệp vừa?

Ông Nguyễn Quốc Hưng: Việc Bộ Tài chính đề xuất với Chính phủ để áp dụng các chính sách ưu đãi đối với doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ như nêu tại dự thảo Nghị quyết nhằm đảm bảo phát huy hiệu quả của chính sách hỗ trợ, tránh tình trạng ưu đãi dàn trải. Thực tế là số lượng doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ chiếm phần lớn trong tổng số doanh nghiệp tại Việt Nam và nếu tính cả số lượng doanh nghiệp có quy mô vừa thì nhóm doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa chiếm tới trên 97% tổng số doanh nghiệp tại Việt Nam. Nếu việc áp dụng các chính sách ưu đãi, hỗ trợ cho cả nhóm doanh nghiệp vừa thì gần như toàn bộ doanh nghiệp tại Việt Nam đều được hưởng ưu đãi và không mang nhiều ý nghĩa nhằm ưu tiên phát triển, đồng thời có thể dẫn đến sự cạnh tranh không bình đẳng giữa doanh nghiệp vừa với các doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp siêu nhỏ trong khi nhóm doanh nghiệp vừa đã sẵn có nhiều lợi thế hơn (vốn, doanh thu, thị trường, lao động, công nghệ...).

Đề xuất áp dụng các chính sách ưu đãi đối với doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ cũng dựa trên tính toán về khả năng, điều kiện ngân sách nhà nước trong bối cảnh hiện nay. Theo ước tính, việc đề xuất áp dụng các chính sách ưu đãi tại dự thảo Nghị quyết này đối với doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ sẽ làm giảm thu NSNN khoảng 9.200 tỷ đồng mỗi năm và nếu tiếp tục mở rộng chính sách hỗ trợ tại dự thảo Nghị quyết này áp dụng cả đối với doanh nghiệp vừa có thể làm giảm thu NSNN hơn 19.500 tỷ mỗi năm.

Trong bối cảnh kinh tế - xã hội và thu ngân sách hiện nay thì việc xác định đối tượng doanh nghiệp để đề xuất giải pháp hỗ trợ cần phải dựa trên nguyên tắc: hỗ trợ đúng, trúng đối tượng để đạt được lợi ích kinh tế, xã hội cao nhất nhưng lại không làm ảnh hưởng lớn đến thu NSNN, đặc biệt là tránh tình trạng ưu đãi tràn lan, làm giảm hiệu quả của chính sách khuyến khích, hỗ trợ. Do vậy, Bộ Tài chính đề xuất ưu đãi tập trung dành cho các đối tượng doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, là những đối tượng dễ bị tổn thương trước những biến động của nền kinh tế, môi trường kinh doanh, trước sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt khi hội nhập kinh tế quốc tế.

Xin ông cho biết những nội dung chính sách chủ yếu trong dự thảo Nghị quyết này là gì?

Ông Nguyễn Quốc Hưng: Việc áp dụng các chính sách ưu đãi đối với từng đối tượng cần đảm bảo mức độ khuyến khích (đặc biệt là khuyến khích chuyển đổi từ hộ kinh doanh lên doanh nghiệp), giúp doanh nghiệp có điều kiện tăng tích tụ, tích luỹ tái đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh, vừa không ảnh hưởng nhiều tới số thu ngân sách nhà nước và đảm bảo công tác quản lý. Do vậy, để tiếp tục khuyến khích phát triển doanh nghiệp theo chủ trương của Đảng, của Quốc hội, Bộ Tài chính đã đề xuất doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp siêu nhỏ được áp dụng các mức thuế suất thuế TNDN tương ứng là 17% và 15%, nội dung cụ thể là:

- Áp dụng thuế suất 15% đối với trường hợp doanh nghiệp siêu nhỏ có tổng doanh thu năm không quá 03 tỷ đồng và có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người.

- Áp dụng thuế suất 17% đối với trường hợp doanh nghiệp nhỏ có tổng doanh thu năm không quá 50 tỷ đồng và có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người.

Đồng thời, để tạo ra động lực mạnh mẽ trong khuyến khích các đối tượng là hộ kinh doanh chuyển lên doanh nghiệp mà theo đánh giá đây là nhóm đối tượng cần tập trung khuyến khích theo mục tiêu 1 triệu doanh nghiệp vào năm 2020. Bộ Tài chính đề xuất thực hiện chính sách ưu đãi cho các đối tượng này theo hướng: Miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 02 năm liên tục kể từ khi có thu nhập chịu thuế đối với doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp siêu nhỏ được thành lập mới từ hộ kinh doanh.

Ngoài ra, trên cơ sở phân loại lĩnh vực, ngành nghề sản xuất kinh doanh để thu thuế thu nhập cá nhân theo tỷ lệ trên doanh thu đối với hộ kinh doanh đang được quy định tại Luật số 71/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật về thuế, có tính đến mức độ khuyến khích để các hộ kinh doanh thấy được chủ trương ưu đãi của Nhà nước để chuyển đổi lên doanh nghiệp, nhằm vừa đơn giản trong quản lý và hạn chế tối đa vướng mắc phát sinh, Bộ Tài chính đề xuất áp dụng phương pháp tính thuế đối với doanh nghiệp siêu nhỏ theo nguyên tắc sau: Doanh nghiệp siêu nhỏ phải thực hiện hạch toán doanh thu, chi phí và khai, nộp thuế theo phương pháp xác định thu nhập. Trường hợp doanh nghiệp siêu nhỏ có tổng doanh thu năm không quá 03 tỷ đồng và có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người, xác định được doanh thu nhưng không xác định được chi phí, thu nhập của hoạt động sản xuất, kinh doanh thì kê khai nộp thuế TNDN theo tỷ lệ % trên doanh thu bán hàng hoá, dịch vụ.

Với quy định này, doanh nghiệp siêu nhỏ (đặc biệt là các doanh nghiệp được thành lập mới từ hộ kinh doanh) vẫn có thể áp dụng phương pháp tính thuế TNDN theo tỷ lệ trên doanh thu (hiện hành cũng đang được áp dụng thu thuế thu nhập cá nhân theo tỷ lệ trên doanh thu) nếu không thể xác định được thu nhập. Trường hợp xác định được doanh thu, chi phí và thu nhập thì phải thực hiện tính thuế TNDN theo phương pháp xác định thu nhập.

Bộ Tài chính đánh giá thế nào về những tác động khi các nội dung của dự thảo Nghị quyết này được áp dụng vào thực tiễn?

Ông Nguyễn Quốc Hưng: Theo đánh giá sơ bộ, việc thực hiện các giải pháp tại dự thảo Nghị quyết có thể làm giảm thu NSNN khoảng 9.200 tỷ đồng/năm (trong đó giải pháp miễn thuế trong vòng 02 năm đối với doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ chuyển đổi từ hộ kinh doanh khoảng 2.700 tỷ đồng mỗi năm; giải pháp giảm thuế suất cho doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ khoảng 6.500 tỷ đồng mỗi năm).

Tuy việc giảm nghĩa vụ này trong ngắn hạn có gây áp lực lên cân đối NSNN nhưng sẽ có tác động lớn đến việc thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh đối với doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, tạo môi trường đầu tư thuận lợi, minh bạch và cải cách thủ tục hành chính và về dài hạn sẽ tạo điều kiện để doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ tăng tích lũy, tái đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh, từ đó góp phần tăng thu từ thuế TNDN cho NSNN vào những năm sau.

Để khắc phục và bù đắp các tác động đến thu NSNN trong ngắn hạn cũng như đảm bảo sự chủ động trong điều hành dự toán NSNN, Bộ Tài chính sẽ phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan và địa phương chú trọng chỉ đạo thực hiện và triển khai hiệu quả các Luật thuế, tăng cường kiểm tra chống thất thu thuế...

T.N

Từ ngày 20/5/2019, việc gia hạn nộp thuế và hoàn thuế GTGT của dự án đầu tư sẽ thực hiện theo quy định mới

Từ ngày 20/5/2019, việc gia hạn nộp thuế và hoàn thuế GTGT của dự án đầu tư sẽ thực hiện theo quy định mới

Ngày 03/4/2019, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư 18/2019/TT-BTC về việc “Bãi bỏ Thông tư số 134/2014-BTC ngày 12/4/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn thủ tục gia hạn thời hạn nộp thuế và hoàn thuế giá trị gia tăng đối với máy móc, thiết bị nhập khẩu để tạo tài sản cố định của dự án đầu tư”. Tuy nhiên, một số doanh nghiệp và người dân chưa rõ là sau khi bãi bỏ Thông tư 134/2014-BTC thì việc gia hạn thời hạn nộp thuế và hoàn thuế GTGT đối với máy móc, thiết bị nhập khẩu để tạo tài sản cố định của dự án đầu tư thực hiện theo văn bản nào?

>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG, CẦN CHUẨN BỊ GÌ TRƯỚC KHI THÀNH LẬP CÔNG TY<<< 

Liên quan đến vấn đề này, Vụ Chính sách thuế (CST) - Bộ Tài chính cho biết: Căn cứ vào Khoản 7 Điều 1 Luật thuế GTGT số 31/2013/QH13 và Khoản 14 Điều 1 Luật Quản lý thuế số 21/2012/QH13, để tháo gỡ kịp thời khó khăn cho doanh nghiệp Chính phủ đã ban hành giải pháp: “ Gia hạn thời hạn nộp thuế không quá 60 ngày đối với số tiền thuế giá trị gia tăng của máy móc, thiết bị nhập khẩu để tạo tài sản cố định của dự án đầu tư mà tổng giá trị nhập khẩu từ 100 tỷ đồng trở lên. Bộ Tài chính chỉ đạo cơ quan thuế thực hiện hoàn thuế trước kiểm tra sau chậm nhất là 05 ngày làm việc, kể từ ngày cơ quan thuế nhận được đầy đủ hồ sơ đề nghị hoàn thuế của doanh nghiệp” tại Nghị quyết số 63/NQ-CP ngày 25/8/2014 của Chính phủ về một số giải pháp về thuế tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đẩy mạnh sự phát triển của doanh nghiệp (sau đây gọi tắt là Nghị quyết số 63/NQ-CP).

Thực hiện nhiệm vụ được giao tại Nghị quyết số 63/NQ-CP, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 134/2014/TT-BTC hướng dẫn thủ tục gia hạn thời hạn nộp thuế và hoàn thuế GTGT đối với máy móc, thiết bị nhập khẩu để tạo TSCĐ của dự án đầu tư theo Nghị quyết của Chính phủ.

Qua thời gian gần 4 năm thực hiện, trên cơ sở tổng kết, đánh giá quá trình thực hiện Nghị quyết số 63/NQ-CP, Chính phủ đã dừng thực hiện giải pháp gia hạn nộp thuế và hoàn thuế giá trị gia tăng của Nghị quyết số 63/NQ-CP tại Nghị quyết số 150/NQ-CP ngày 13/12/2018 về Phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 11 năm 2018 và giao Bộ Tài chính ban hành văn bản hướng dẫn thực hiện.

Thực hiện nhiệm vụ do Chính phủ giao, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 18/2019/TT-BTC ngày 03/4/2019 bãi bỏ Thông tư số 134/2014/TT-BTC ngày 12/9/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn thủ tục gia hạn thời hạn nộp thuế và hoàn thuế GTGT đối với máy móc, thiết bị nhập khẩu để tạo tài sản cố định của dự án đầu tư.

Khi Thông tư số 134/2014/TT-BTC dừng thực hiện thì việc gia hạn thời hạn nộp thuế và hoàn thuế GTGT đối với máy móc, thiết bị nhập khẩu để tạo tài sản cố định của dự án đầu tư vẫn tiếp tục thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý thuế và pháp luật về thuế GTGT, kể từ ngày 20/5/2019 việc thực hiện gia hạn thời gian nộp thuế và hoàn thuế GTGT sẽ được quy định cụ thể như sau:

1. Đối với gia hạn nộp thuế GTGT thực hiện theo quy định tại Khoản 8 Điều 5 Nghị định số 12/2015/NĐ-CP ngày 12/02/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật về thuế và sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về thuế (sửa đổi, bổ sung Điều 31 Nghị định số 83/2013/NĐ-CP).

2. Đối với hoàn thuế GTGT của dự án đầu tư thực hiện theo quy định tại Luật số 106/2016/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng, Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật quản lý và các văn bản hướng dẫn.

Kim Chung

Đưa trí tuệ nhân tạo vào dự báo, quản lý rủi ro ngành thuế, hải quan

Đưa trí tuệ nhân tạo vào dự báo, quản lý rủi ro ngành thuế, hải quan

Bộ Tài chính sẽ thử nghiệm áp dụng công nghệ trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn trong lĩnh vực Thuế và Hải quan để giải quyết các bài toán nghiệp vụ phức tạp như Quản lý rủi ro, chống gian lận thuế...

>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG, CẦN CHUẨN BỊ GÌ TRƯỚC KHI THÀNH LẬP CÔNG TY<<< 

Bộ Tài chính vừa ban hành Kiến trúc Cơ sở dữ liệu quốc gia về tài chính. Theo đó, đơn vị này đã đưa ra lộ trình gồm hai giai đoạn, cùng các mục tiêu chính dựa trên các nhóm yếu tố chính về nhân sự, dữ liệu, công nghệ và cơ chế, chính sách.

Cụ thể, giai đoạn giai đoạn 1 từ năm 2019-2022 sẽ nhằm chuẩn bị sẵn sàng về mặt thể chế, chính sách và hạ tầng để xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về tài chính theo kiến trúc Data Hub. 

Dữ liệu tổng hợp về tài chính có khả năng cung cấp đầu ra là các dạng báo cáo, Dashboard, KPIs dự báo về quản lý tài chính nhà nước và tiếp tục mở rộng đối với các chủ đề dữ liệu quản lý thị trường tài chính, bảo hiểm...

Trong giai đoạn này, Bộ Tài chính cho biết sẽ thử nghiệm áp dụng công nghệ trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn trong lĩnh vực Thuế và Hải quan để giải quyết các bài toán nghiệp vụ phức tạp như quản lý rủi ro, chống gian lận thuế... 

Từ đó đúc rút kinh nghiệm triển khai, phát triển nguồn nhân lực để sẵn sàng áp dụng trong tất cả các lĩnh vực thuộc quản lý của Bộ Tài chính.

Giai đoạn 2 từ năm 2023-2025, Cơ sở dữ liệu quốc gia về tài chính được mở rộng phạm vi với dữ liệu đầu vào là dữ liệu bán cấu trúc hoặc dữ liệu phi cấu trúc. 

Áp dụng công nghệ trí tuệ nhân tạo, máy học trong xử lý dữ liệu lớn vào giải quyết các bài toán phức tạp liên quan tới nhiều nhóm, dòng nghiệp vụ như dự báo số thu ngân sách, quản lý rủi ro với thị trường chứng khoán, thị trường bảo hiểm.

Theo Bộ Tài chính, giai đoạn này đòi hỏi sự chuẩn bị sẵn sàng về nguồn lực, mô hình phân tích và dữ liệu cũng như đội ngũ chuyên gia về khoa học dữ liệu, chuyên gia trong từng lĩnh vực để đảm bảo xây dựng được mô hình hiệu quả cao trong thực tiễn.

Được biết, Kiến trúc Cơ sở dữ liệu quốc gia về tài chính được ban hành nhằm quy hoạch, xây dựng, phát triển các thành phần thuộc Cơ sở dữ liệu quốc gia về Tài chính trong một chỉnh thể thống nhất. 

Đồng thời, các nguyên tắc chủ đạo sẽ được đưa ra để đảm bảo tính liên kết, tích hợp, khả năng kết nối, chia sẻ thông tin, dữ liệu giữa các đơn vị trong ngành Tài chính và giữa Bộ Tài chính với các cơ quan, tổ chức, cá nhân ngoài ngành tài chính.

Mô hình kiến trúc tổng thể của Cơ sở dữ liệu quốc gia về tài chính bao gồm các lớp thực hiện các chức năng từ việc cung cấp dữ liệu nguồn, tích hợp, thu nhận, chuẩn hóa, lưu trữ, phân tích, trực quan hóa dữ liệu tổng hợp từ các nguồn, đến việc phân phối sử dụng dữ liệu một cách hiệu quả, an toàn, kiểm soát chất lượng và thống nhất của dữ liệu.

Kiến trúc Cơ sở dữ liệu quốc gia về tài chính sẽ được cập nhật, điều chỉnh phù hợp với điều kiện thực tế trong từng thời kỳ, đảm bảo khả năng mở rộng tính năng và kiểm soát đối với mô hình kiến trúc.

Kiến trúc Cơ sở dữ liệu quốc gia về tài chính sẽ hỗ trợ xây dựng Chính phủ điện tử ngành tài chính, hướng tới xây dựng tài chính số dựa trên dữ liệu lớn và dữ liệu mở.

Thu ngân sách nhà nước 2 tháng đạt trên 246 nghỉn tỷ đồng

Thu ngân sách nhà nước 2 tháng đạt trên 246 nghỉn tỷ đồng

Tổng thu ngân sách nhà nước tháng 2/2019 ước đạt 84,8 nghìn tỷ đồng, luỹ kế thu 2 tháng đầu năm đạt gần 246,5 nghìn tỷ đồng, bằng 17,5% dự toán năm, tăng 18,2% so với cùng kỳ năm 2018.

Để tiết kiệm thời gian chi phí, cá nhân nên nộp quyết toán qua mạng

Để tiết kiệm thời gian chi phí, cá nhân nên nộp quyết toán qua mạng

Nhằm giải đáp kịp thời các vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện quyết toán thuế, từ ngày 6/3, Tổng cục Thuế đã tổ chức chương trình hỗ trợ trực tuyến quyết toán thuế năm 2018 trên website của ngành tại địa chỉ www.gdt.gov.vn. Để tìm hiểu rõ hơn về chương trình này, phóng viên Tạp chí Thuế đã trao đổi với bà Tạ Thị Phương Lan (ảnh)  - Phó vụ trưởng Vụ quản lý thuế DN nhỏ, vừa và hộ kinh doanh, cá nhân.

Xử lý nợ thuế không có khả năng thu hồi: cần ban hành nghị quyết của Quốc hội

Xử lý nợ thuế không có khả năng thu hồi: cần ban hành nghị quyết của Quốc hội

Đó là ý kiến của nhiều đại biểu tham dự Hội thảo góp ý về dự thảo nghị quyết xử lý nợ thuế không còn khả năng nộp ngân sách do Ủy ban Tài chính ngân sách của Quốc hội và Bộ Tài chính tổ chức.

Cách xử lý hàng tồn kho vào chi phí hợp lý

Cách xử lý hàng tồn kho vào chi phí hợp lý

Trong quá trình bảo quản nguyên vật liệu, hàng hóa không tránh khỏi việc bị hư hỏng, hết hạn sử dụng không tiêu dùng được. Vậy trường hợp này doanh nghiệp phải xử lý thế nào? Khi nào thì chi phí của hàng tồn kho này được tính vào chi phí hợp lý, hợp lệ? Cách xử lý hàng tồn kho vào chi phí hợp lý? chúng tôi sẽ giúp các bạn tìm hiểu cụ thể vấn đề này.

06 nguyên tắc vàng kê khai bổ sung điều chỉnh thuế GTGT

06 nguyên tắc vàng kê khai bổ sung điều chỉnh thuế GTGT

Hồ sơ kê khai bổ sung điều chỉnh thuế gtgt được nộp cho cơ quan thuế vào bất cứ ngày làm việc nào, không phụ thuộc vào thời hạn nộp hồ sơ khai thuế của lần tiếp theo, nhưng phải trước khi cơ quan thuế thanh, kiểm tra thuế. Rất nhiều kế toán lúng túng trong việc kê khai bổ sung điều chỉnh thuế GTGT nhất là các bạn kế toán viên mới ra trường kinh nghiệm còn non trẻ.

Hướng dẫn cách tra soát khi phát hiện sai sót trong khi nộp tiền thuế vào ngân sách nhà nước

Hướng dẫn cách tra soát khi phát hiện sai sót trong khi nộp tiền thuế vào ngân sách nhà nước

Kế toán khi lập giấy nộp tiền thuế vào ngân sách nhà nước tiền gặp những sai sót như: chọn nhầm cơ quan thu, chọn nhầm mã chương, chọn nhầm mã nội dung kinh tế,…. Để khắc phục lỗi trên, kế toán cần phải lập mẫu tra soát C1-11NS theo thông tư 84/2016/TT-BTC. Sau đây sẽ hướng dẫn các bạn cách lập thư tra soát và thủ tục xử lý khi phát hiện sai sót trên giấy nộp tiền vào ngân sách nhà nước.

Thủ tục về hồ sơ lương cần chuẩn bị khi quyết toán thuế

Thủ tục về hồ sơ lương cần chuẩn bị khi quyết toán thuế

Tiền lương là một trong ba khoản chi phi chính cấu thành nên chi phí của doanh nghiệp. Vì vậy khi cơ quan thuế đến kiểm tra thì tiền lương sẽ có nhiều thủ tục, hồ sơ cần phải giải trình. Sau đây sẽ hướng dẫn các bạn chuẩn bị những chứng từ, hồ sơ cho phần tiền lương này

Các khoản thu nhập từ tiền lương, tiền công không tính thu nhập chịu thuế TNCN

Các khoản thu nhập từ tiền lương, tiền công không tính thu nhập chịu thuế TNCN

Phụ cấp độc hại, nguy hiểm đối với những ngành nghề hoặc công việc ở nơi làm việc có yếu tố độc hại, nguy hiểm (khoản 2 điều 2 thông tư 111/2013/TT-BTC)

Các khoản thu nhập chịu thuế TNCN năm 2018

Các khoản thu nhập chịu thuế TNCN năm 2018

Thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ trong tất cả các lĩnh vực theo quy định của pháp luật như: sản xuất, kinh doanh hàng hóa, xây dựng, vận tải, ăn uống, thuê nhà, kinh doanh nông lâm ngư nghiệp (trừ các khoản tại điểm e khoản 1 điều 3 thông tư 111/2013/TT-BTC)

Image

ĐÀ NẴNG

Địa chỉ: 41 Phan Triêm, Phường Hòa Xuân, Quận Cẩm Lệ, Thành phố Đà Nẵng
Điện thoại: 0236.3.707404
Mobile: 0915.888.404
Email: info@dng.vn

HỒ CHÍ MINH

Địa chỉ: Tầng 7, Tòa nhà HP, 60 Nguyễn Văn Thủ, Đakao, Quận 1, Hồ Chí Minh.
Điện thoại: 02822446739
Mobile: 0833.888.404
Email: info@hcm.com.vn

HÀ NỘI

Địa chỉ: Tòa nhà Anh Minh, 36 Hoàng Cầu, p. Ô Chợ Dừa, Đống Đa, Hà Nội.
Điện thoại: 02422612929
Mobile: 0899.888.404
Email: info@hno.vn

 

GỌI NGAY

0915.888.404