DOANH NGHIỆP

Thứ trưởng Trần Xuân Hà tham dự Hội nghị Bộ trưởng Tài chính và Thống đốc Ngân hàng Trung ương G20

Thứ trưởng Trần Xuân Hà tham dự Hội nghị Bộ trưởng Tài chính và Thống đốc Ngân hàng Trung ương G20

Trong hai ngày (8-9/6/2019), tại Fukuoka, Nhật Bản, Hội nghị Bộ trưởng Tài chính và Thống đốc Ngân hàng Trung ương G20 đã diễn ra dưới sự chủ trì của Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Tài chính Nhật Bản Ông Taro Aso và Thống đốc Ngân hàng Trung ương Nhật Bản Ông Haruhiko Kuroda. Tham dự Hội nghị có Bộ trưởng Tài chính, Thống đốc Ngân hàng Trung ương các nước thành viên G20, Lãnh đạo các tổ chức quốc tế, Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Xuân Hà cùng đại diện của Ngân hàng Nhà nước và Bộ Ngoại giao Việt Nam tham dự Hội nghị này.

>>>Xem thêm  THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<< 

Đây là Hội nghị quan trọng nhất trong tiến trình hợp tác tài chính G20 năm 2019, các Bộ trưởng Tài chính và Thống đốc Ngân hàng Trung ương các nước thành viên G20, các tổ chức quốc tế và các nước khách mời đã có cơ hội trao đổi và chia sẻ quan điểm về tình hình kinh tế toàn cầu, các rủi ro và thách thức đối với nền kinh tế, một số hành động và giải pháp hướng đến tăng trưởng mạnh mẽ, bền vững và bao trùm. Các chủ đề chính được thảo luận tại Hội nghị bao gồm chủ đề về kinh tế toàn cầu, tài chính phát triển, thuế quốc tế, đầu tư cho cơ sở hạ tầng chất lượng, già hóa dân số và tài chính cho y tế toàn dân, tăng cường vai trò của Cơ quan Bảo lãnh Đầu tư Đa biên (MIGA) nhằm giảm thiểu rủi ro tài chính cho đầu tư phát triển, tài chính cho phục hồi sau thiên tai, thảm họa và một số vấn đề tài chính khác như quản lý thị trường chứng khoán, quản lý tài sản, hệ thống thanh toán ngân hàng, đổi mới sáng tạo công nghệ trong lĩnh vực tài chính…

Về kinh tế thế giới, tại Hội nghị, các Bộ trưởng Tài chính, Thống đốc Ngân hàng Trung ương và các tổ chức quốc tế nhận định kinh tế thế giới tiếp tục ổn định và dự báo tăng trưởng ở mức vừa phải vào nửa cuối năm nay và trong năm 2020. Theo dự báo của IMF, nền kinh tế toàn cầu sẽ tăng trưởng ở mức trung bình từ 3,3% đến 3,6% trong năm 2020. Tuy nhiên, rủi ro nổi bật vẫn là vấn đề căng thẳng thương mại và địa chính trị.

Phát biểu tại Hội nghị, Thứ trưởng Trần Xuân Hà cám ơn Nhật Bản - Chủ tịch tiến trình hợp tác tài chính G20 năm 2019 đã mời Việt Nam tham dự Hội nghị quan trọng này. Về vấn đề tài chính cho phát triển, Thứ trưởng Trần Xuân Hà đánh giá cao chủ đề này, trong đó có vấn đề bền vững và minh bạch nợ. Các nước thu nhập thấp (bao gồm cả các nước thu nhập trung bình như Việt Nam) có nhu cầu đầu tư cao nhưng do nguồn thu ngân sách hạn chế nên nhu cầu vay nợ lớn. Do đó, cần thực hiện các giải pháp chú trọng tái cơ cấu ngân sách, tăng thu nội địa, duy trì bội chi ngân sách ở mức hợp lý, quản lý nợ công chặt chẽ, thiết lập hệ thống công cụ quản lý nợ, minh bạch thông tin, và quản lý nợ bền vững. Đối với các nước đã tốt nghiệp IDA thì chuyển sang sử dụng nguồn vốn ưu đãi thấp hơn hoặc huy động vốn trên thị trường tài chính, vì vậy cần sử dụng vốn hiệu quả và quản lý nợ chặt chẽ hơn.

Tại phiên thảo luận, Thứ trưởng Trần Xuân Hà hoan nghênh và đánh giá cao kết quả đã đạt được trong việc thực hiện BEPS nhằm xây dựng hệ thống thuế quốc tế hiện đại, công bằng, minh bạch để đáp ứng yêu cầu toàn cầu hóa và xu thế số hóa nền kinh tế, đồng thời cũng chia sẻ thông tin tới Hội nghị về tình hình triển khai của Việt Nam. Theo đó, Việt Nam bắt đầu tham gia Diễn đàn BEPS từ tháng 6 năm 2017, từ đó đến nay Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu của BEPS. Việt Nam hiện đang hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về quản lý thuế, trong đó có vấn đề chia sẻ thông tin, chống chuyển giá, quản lý thuế trong điều kiện nền kinh tế số … nhằm đáp ứng chuẩn mực quốc tế.

Tại Hội nghị lần này, các Bộ trưởng Tài chính cũng thảo luận tầm quan trọng của bao phủ y tế toàn dân, đặc biệt là ở các nước đang phát triển, trong đó có vai trò quan trọng của tài chính cho y tế. Các Bộ trưởng Tài chính thống nhất sẽ tổ chức phiên họp chung với các Bộ trưởng Y tế bên lề Hội nghị Thượng đỉnh G20 tại Osaka, Nhật Bản vào cuối tháng 6 tới.

Hội nghị Bộ trưởng Tài chính và Thống đốc Ngân hàng Trung ương G20 năm 2020 sẽ được tổ chức tại Ả-rập Xê-út./.

MHTQT

Đại lý thuế làm dịch vụ kế toán giúp giảm chi phí cho doanh nghiệp

Đại lý thuế làm dịch vụ kế toán giúp giảm chi phí cho doanh nghiệp

Một trong những nội dung đang được DN và cử tri quan tâm đó là Dự thảo Luật Quản lý thuế sửa đổi đề xuất bổ sung vào phạm vi hoạt động của đại lý thuế dịch vụ kế toán cho DN nhỏ và siêu nhỏ. Quan điểm của các chuyên gia trong ngành đều cho rằng, đề xuất này là phù hợp với yêu cầu thực tiễn, giúp tiết kiệm chi phí và tạo thuận lợi cho DN nhỏ, siêu nhỏ.

>>>Xem thêm  Thành lập Công ty tại Hội An<<< 

Theo Phó vụ trưởng Vụ Tuyên truyền hỗ trợ Tổng cục Thuế Lê Thị Thủy, dự thảo Luật Quản lý thuế sửa đổi quy định đại lý thuế được làm dịch vụ kế toán cho DN siêu nhỏ trước hết xuất phát từ đặc thù các DN siêu nhỏ thường có doanh thu dưới 10 tỷ đồng đối với kinh doanh thương mại và dưới 3 tỷ đồng/năm với các ngành nghề khác. Bên cạnh đó, DN siêu nhỏ có số lượng lao động dưới 10 người, nên rất khó để tổ chức riêng một bộ máy kế toán mà cách tốt nhất là thuê các DN chuyên làm thủ tục về thuế và kế toán. Tuy nhiên, Luật Quản lý thuế hiện hành lại quy định các đại lý thuế chỉ được cung cấp dịch vụ về thuế, không được cung cấp các dịch về kế toán. Do đó, DN siêu nhỏ có nhu cầu sẽ phải thuê 2 đơn vị cung cấp dịch vụ về thuế riêng và kế toán riêng. Việc này sẽ khiến DN siêu nhỏ gặp nhiều khó khăn do chi phí tăng cao, tốn nhiều thời gian công sức và đôi khi việc xử lý số liệu cũng không đồng nhất. Trên thực tế, hoạt động của đại lý thuế gắn bó chặt chẽ với các quy định về kế toán. DN đại lý thuế muốn làm thủ tục kê khai thuế không thể không biết các quy định về kế toán, trong khi quy định về chế độ kế toán đối với DN siêu nhỏ hiện nay rất đơn giản và các đại lý thuế hoàn toàn có đủ khả năng cung cấp các dịch vụ này. Vì thế việc bổ sung dịch vụ kế toán vào phạm vi hoạt động của đại lý thuế là phù hợp và cần thiết.

Chủ tịch Hội tư vấn thuế Việt Nam Nguyễn Thị Cúc nêu thực trạng, hiện cả nước có trên 700 nghìn DN thì có đến trên 500.000 DN siêu nhỏ. Theo kế hoạch đến năm 2020 sẽ có thêm khoảng 500.000 DN siêu nhỏ nữa phát triển từ hộ kinh doanh đi lên. Tuy nhiên, toàn quốc hiện chỉ có trên 100 DN đủ điều kiện cung cấp dịch vụ kế toán và đang phục vụ cho trên 5.000 khách hàng. Nếu so với trên 500.000 DN siêu nhỏ đang hoạt động, thì số DN cung cấp dịch vụ về kế toán còn rất khiêm tốn và chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế. Việc không có đủ các DN cung cấp dịch vụ kế toán tiềm ẩn nhiều rủi ro cho cả cơ quan thuế và người nộp thuế. Bởi do tiềm lực tài chính hạn chế nên nhiều DN siêu nhỏ đang phải sử dụng đội ngũ kế toán chui, không am hiểu pháp luật, dẫn đến lập sai chứng từ, sổ sách kế toán. Hậu quả là DN không những không tiết kiệm được chi phí, mà còn phải chịu thêm tiền phạt chậm nộp, thậm chí bị xử phạt từ 1-3 lần tiền thuế do vi phạm các quy định về kế toán.

Đối với cơ quan thuế, hiện nay số lượng cán bộ rất có hạn và đang thực hiện tinh giản biên chế, trong khi phải quản lý trên 700.000 DN. Nếu không có giải pháp hỗ trợ DN tuân thủ pháp luật tốt, ngành thuế sẽ không có đủ nguồn lực để phục vụ công tác kiểm tra, giám sát DN và rủi ro thất thu thuế sẽ ngày càng lớn.

Đồng quan điểm, Giám đốc Công ty kiểm toán HSK Việt Nam Ngô Trung Dũng cho rằng, nếu các đại lý thuế chỉ được làm các thủ tục về khai thuế theo Điều 20 của Luật Quản lý thuế hiện hành, sẽ khiến DN không được tiếp cận dịch vụ một cách đầy đủ, đẩy chi phí của các DN siêu nhỏ lên cao. Việc này cũng gây lãng phí rất lớn nguồn nhân lực tại các đơn vị cung cấp dịch vụ thuế và các đại lý không thể phát triển được. Theo hướng này, nếu Luật Quản lý thuế sửa đổi được thông qua, sẽ đem lại nhiều lợi ích cho cả đại lý thuế và người nộp thuế. Bởi quy định này phù hợp với thực tiễn của Việt Nam hiện nay và xu hướng hội nhập quốc tế (các nước như Nhật Bản, Hàn Quốc các đại lý thuế đều được cung cấp các dịch vụ về kế toán). Quan trọng là quy định bổ sung về phạm vị hoạt động của đại lý thuế sẽ tạo điều kiện để các DN, người nộp thuế được tiếp cận  các dịch vụ trọn gói kê khai thuế kế toán, qua đó tiết kiệm được chi phí; trong khi cơ quan thuế quản lý rủi ro thông qua các đại lý thuế, sẽ góp phần tăng tính minh bạch và tính tuân thủ pháp luật của các DN nhỏ và vừa tại Việt Nam.

 >>>Xem thêm  Thu thuế từ khối doanh nghiệp FDI có mức tăng trưởng mạnh; Quản lý thuế thương mại điện tử: Hoàn thiện chính sách để chống thất thu<<<

TRUNG KIÊN

Nhiều Đại biểu Quốc hội không đồng tình giảm cấp phó trong hội đồng nhân dân

Nhiều Đại biểu Quốc hội không đồng tình giảm cấp phó trong hội đồng nhân dân

Phát biểu tại Quốc hội (QH), nhiều đại biểu Quốc hội (ĐBQH) không đồng tình việc giảm số lượng phó chủ tịch hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp huyện và phó trưởng ban chuyên trách của HĐND cấp tỉnh.

>>>Xem thêm  Thành lập Công ty tại Hội An<<< 

Sáng 10/6, Quốc hội thảo luận ở hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức chính phủ (Luật TCCP) và Luật Tổ chức chính quyền địa phương (Luật Tổ chức CQĐP).

Sửa luật phải sát thực tiễn, tránh chủ quan duy ý chí

Thảo luận về dự án 2 luật này, các ĐBQH tán thành đề nghị của Chính phủ, việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật TCCP và Luật Tổ chức CQĐP và dùng một luật để sửa hai luật là phù hợp. Dự án luật đã tập trung vào sửa đổi, bổ sung các vấn đề về: tinh gọn bộ máy, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền và rà soát lại chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của một số cơ quan hành chính nhà nước.

ĐB Nguyễn Tạo (Lâm Đồng) cho rằng, cần thiết phải sửa luật bởi qua thực hiện đã phát sinh nhiều khó khăn, vướng mắc. Tuy nhiên, ĐB cho rằng, Luật TCCP cần xem xét các quy định để đảm bảo mục tiêu Chính phủ kiến tạo và phát triển.

Đồng ý với một số nội dung trong dự thảo, tuy nhiên ĐB Nguyễn Thị Quyết Tâm - cựu Chủ tịch HĐND TP. HCM cho rằng, việc sửa luật phải đánh giá một cách toàn diện, khách quan, sát với thực tiễn, yêu cầu đề ra, tránh chủ quan, duy ý chí.

ĐB Nguyễn Mạnh Cường (Quảng Bình) - Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp của QH cho rằng, Luật TCCP sửa đổi không nhiều, chỉ sửa 5 điều, các nội dung sửa đổi tập trung vào việc bổ sung một số thẩm quyền của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ. “Tuy sửa không nhiều nhưng các nội dung lại tập trung theo hướng chủ yếu giao Chính phủ quy định với tổng cộng 4 nội dung lớn, trong đó có 20 nội dung nhỏ liệt kê, như quy định khung số lượng cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, quy định tiêu chí thành lập tổng cục, cục, vụ; số lượng biên chế tối thiểu…” - ĐB Nguyễn Mạnh Cường nói.

ĐB đặt câu hỏi: Quy định như vậy có bất cập, cần phải làm rõ những nội dung được giao cho Chính phủ quy định có phải là nhiệm vụ,  quyền hạn thuộc thẩm quyền quy định đương nhiên của Chính phủ theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật hay không, hay đây thuộc thẩm quyền do QH ủy quyền cho Chính phủ quy định?

ĐB Nguyễn Mạnh Cường cho rằng, có nội dung trước đây đã được QH quy định thì nay được bãi bỏ để giao Chính phủ quy định. Cụ thể, đó là quy định số lượng cấp phó cấp vụ không được quá 3 người, tổng cục không quá 4 người. “Như vậy số lượng cấp phó này không được khống chế cho đến khi có nghị định của Chính phủ và không rõ số lượng này có được tăng lên hay giảm đi, trong khi đó, đây là nội dung QH khóa XIII đã thảo luận kỹ, nhằm khắc phục tình trạng quá nhiều cấp phó ở các cơ quan trung ương. Việc bỏ quy định này, cũng chưa được tổng kết, đánh giá trên thực tiễn” - ĐB Nguyễn Mạnh Cường phân tích thêm.

Do đó, theo ĐB, việc xây dựng luật khung là một bước lùi của dự thảo. ĐB cũng trích dẫn lời của cử tri cho rằng, luật được ban hành nhưng Chính phủ không ban hành nghị định thì “luật sẽ chết ngay”. Theo ĐB: “Có lẽ quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật rằng, các văn bản pháp luật phải được quy định cụ thể để khi văn bản có hiệu lực thi hành được ngay, vẫn còn là một ước mơ lâu dài” - ĐB Nguyễn Mạnh Cường nói.

Ngoài ra, dự thảo luật cũng đã bổ sung khoản 10 quy định thẩm quyền của Chính phủ quyết định thực hiện thí điểm những mô hình mới về tổ chức bộ máy của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, chính quyền địa phương cấp tỉnh, cấp huyện trong phạm vi quyền hạn của Chính phủ khi pháp luật chưa quy định hoặc quy định không còn phù hợp. Theo ĐB Nguyễn Mạnh Cường, việc thực hiện thí điểm các mô hình mới, là rất cần thiết, các nghị quyết của Đảng cũng đề ra yêu cầu đó. Tuy nhiên, cần xem xét, cân nhắc các thẩm quyền quyết định việc thí điểm và nội hàm của thí điểm.

Liên quan đến vấn đề này, ĐB Nguyễn Tạo (Lâm Đồng) cho rằng, thí điểm mô hình mới là hoàn toàn phù hợp với tình hình hiện nay, một số địa phương đã thực hiện sáp nhập một số đơn vị trên địa bàn thành mô hình hoạt động mới, tuy nhiên, cần phải đảm bảo vận thành theo đúng quy định của pháp luật.

“Đừng đánh mất vai trò của cơ quan dân cử”

Về giảm số lượng phó chủ tịch HĐND cấp tỉnh, cấp huyện và giảm số lượng phó trưởng ban chuyên trách của HĐND cấp tỉnh tại dự thảo sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức CQĐP, ĐB Nguyễn Tạo đồng tình với báo cáo thẩm tra của dự thảo luật. Theo tờ trình của Chính phủ, Chính phủ đề nghị giảm số lượng phó chủ tịch HĐND cấp tỉnh, cấp huyện; phó trưởng ban chuyên trách của HĐND cấp tỉnh từ 2 người xuống còn 1 người. Tuy nhiên, trong báo cáo thẩm tra của Ủy ban Pháp luật của QH, việc giữ nguyên số lượng phó trưởng ban chuyên trách của HĐND cấp tỉnh là nhằm bảo đảm thực hiện tốt các nhiệm vụ, quyền hạn của các ban của HĐND cấp tỉnh.

ĐB Nguyễn Mạnh Cường đặt câu hỏi, liệu đây có phải là vấn đề bức xúc nhất trong những hạn chế về tổ chức bộ máy của chúng ta hay chưa và liệu nó có tác dụng hay không? Còn ĐB Nguyễn Tạo đề nghị Chính phủ xem xét “có hay không giảm số lượng một cách toàn diện, khoa học, không nên làm luật theo cảm tính”.

Cũng quan tâm về vấn đề này, ĐB Nguyễn Thị Quyết Tâm cho rằng, hai nội dung quan trọng trong lần sửa đổi này của Luật Tổ chức CQĐP là cơ chế ủy quyền và vấn đề tổ chức bộ máy. Khi đặt ra vấn đề này, cần xem năng lực, bộ máy ở địa phương có thể làm gì; phân định, phân công ra để làm tốt công việc, chứ không phải “tranh giành” lẫn nhau, cơ quan này làm việc này, cơ quan kia làm việc kia.

Liên quan đến số lượng đại biểu HĐND, cựu Phó Chủ tịch HĐND TP. Hồ Chí Minh đồng ý trong chừng mực nào đó cần phải xem xét giảm số lượng ĐB cho hợp lý. Tuy nhiên, bà Nguyễn Thị Quyết Tâm nhấn mạnh, không nên chỉ nhìn vào việc, giảm một ĐB thì giảm bao nhiêu kinh phí.

Theo nữ ĐB, điều quan trọng là phải xem các ĐB này có làm đúng vai trò của người đại diện cho dân hay không và cần xem xét trên tinh thần khách quan, đừng vì yếu tố nào đó mà chúng ta đánh mất đi vai trò, vị trí của cơ quan dân cử.

Đồng quan điểm, ĐB Tô Văn Tám (Kon Tum) cho rằng, đi kèm với tinh giản biên chế, nhưng phải gắn với nâng cao chất lượng hoạt động. “Giảm số lượng có làm giảm chất lượng hoạt động của bộ máy không? Phải đánh giá cho được hiệu quả hoạt động thế nào, giảm có hiệu quả khi giảm số lượng không” - ĐB nêu.

Theo ĐB Lê Thanh Vân (Cà Mau), việc xem xét số lượng các chức danh nêu trên phải xem xét cho phù hợp với Hiến pháp hiện hành. Theo ĐB, vấn đề số lượng ĐB, số lượng các ban và phó chủ tịch HĐND sẽ tùy theo yêu cầu của từng thời kỳ, vì thế không nên quy định cứng nhắc trong luật, để sau này phải sửa luật./.

 >>>Xem thêm Hôm nay 23/5, Quốc hội thảo luận về dự án Luật Phòng chống tác hại của rượu, biaQuốc hội sẽ giám sát tối cao về phòng, chống xâm hại trẻ em vào 2020<<<

MINH ANH

Phái sinh: Xu hướng hồi phục ngắn hạn có thể tiếp diễn trong tuần mới

Phái sinh: Xu hướng hồi phục ngắn hạn có thể tiếp diễn trong tuần mới

Cả chỉ số cơ sở và thị trường phái sinh đều tăng điểm tích cực trong phiên cuối tuần. Khối lượng giao dịch mặc dù giảm, nhưng quán tính tăng tốt không thể phủ nhận sự tích cực trở lại của phía cầu và điều này hàm ý xu hướng hồi phục ngắn hạn có thể tiếp diễn trong tuần giao dịch kế tiếp.

>>>Xem thêm  Thành lập Công ty tại Hội An<<< 

Sau chuỗi các phiên vận động giằng co, thị trường khởi sắc trong phiên giao dịch cuối tuần. Các chỉ số sàn HOSE tăng điểm ngay từ thời điểm mở cửa, trước khi nới rộng đà tăng trong phiên chiều và đóng cửa tại mức cao nhất trong ngày. VN-Index và VN30-Index tăng lần lượt 1,06% và 0,96%, lên ngưỡng 958,28 điểm và 869,56 điểm.

Vận động tương tự diễn ra trên sàn Hà Nội, đáng chú ý, HNX30-Index tăng thêm 2,19% lên mức 191,19 điểm.

Sắc xanh chiếm ưu thế đối với hầu hết các nhóm ngành vốn hóa lớn, bao gồm tài chính, bất động sản. Lĩnh vực dầu khí thu hút dòng tiền khi giá dầu brent hồi phục 1,7% trong phiên gần nhất. GAS, PVD, PVS, BSR tăng từ 2,4% đến 4,1%, vận động tăng điểm lan tỏa sang cổ phiếu xăng dầu, giúp PLX, OIL đều đóng cửa trên mức tham chiếu.

Các lĩnh vực được dự báo hưởng lợi từ xu hướng dịch chuyển sản xuất về Việt Nam, bao gồm khu công nghiệp, dệt may, thủy sản đều đồng thuận tăng điểm. Nhóm cao su nhân tạo điều chỉnh trở lại sau những phiên tăng gần đây, tuy nhiên mức giảm điểm không đáng kể.

Thanh khoản trên sàn HOSE đạt 3,3 nghìn tỷ đồng, tăng nhẹ 4,76% so với phiên liền trước. Khối ngoại giảm quy mô giao dịch, tuy nhiên giá trị bán giảm 24,4% so với mức giảm 16,1% của giá trị mua, qua đó ghi nhận giá trị mua ròng 15,2 tỷ đồng.

Trên thị trường phái sinh, các hợp đồng tương lai (HĐTL) cũng có diễn biến tương tự thị trường cơ sở. Các HĐ đều tăng mạnh tương đương với mức tăng của chỉ số cơ sở, cụ thể: HĐ F1906 tăng thêm 8,3 điểm, qua đó ghi nhận độ lệch 5,6 điểm so với VN30; F1907 tăng 8,1 điểm; F1909 tăng 8,9 điểm; F1912 tăng 9,9 điểm.

Tuy vậy, thanh khoản phái sinh sụt giảm mạnh 36,5%, khi tổng khối lượng giao dịch HĐTL về mức 87.541 HĐ khi chỉ số cơ sở tăng mạnh. Vì vậy, tổng giá trị giao dịch cũng giảm khá mạnh từ mức 11.867 tỷ đồng của phiên hôm trước về còn 7.619 tỷ đồng trong phiên cuối tuần. Hợp đồng mở giảm nhẹ hơn, đạt mức 28.687 HĐ.

Chỉ số VN30 có một phiên tăng điểm trọn vẹn và tăng khá mạnh 8,25 điểm lên 869,56 điểm. Khối lượng giao dịch nhóm VN30 ở mức gần 33,5 triệu đơn vị, giảm gần 5 triệu đơn vị so với phiên trước, đồng thời cũng giảm so với khối lượng giao dịch bình quân 20 phiên gần 4 triệu đơn vị.

Báo cáo phái sinh của SSI Retail Research cho thấy, trong biểu đồ kỹ thuật, nến ngày là một nến dài màu trắng (long white candle) hậu thuẫn cho nến búa tăng (bullish hammer) tích cực của phiên trước đó, đồng thời vượt đường trung bình động 5 ngày (MA-5).

Chỉ báo dòng tiền (MFI) giảm về dưới 20,6 điểm, trong khi đó, chỉ báo sức mạnh (RSI) tăng khá mạnh lên 40,2 điểm. Đường trung bình động (MACD) mặc dù vẫn vận động sâu dưới đường tín hiệu và đường số 0 (zero line), tuy vậy đà giảm của chỉ báo này đang chậm lại và cho tín hiệu hồi phục trở lại.

SSI Retail Research cho rằng, khối lượng giao dịch mặc dù giảm so với phiên trước, nhưng quán tính tăng tốt không thể phủ nhận sự tích cực trở lại của cầu và điều này hàm ý xu hướng hồi phục ngắn hạn có thể tiếp diễn trong tuần giao dịch kế tiếp. Tuy nhiên, khối lượng giao dịch cần được cải thiện mạnh hơn để hỗ trợ cho đà tăng ít nhất là trong những phiên đầu tuần và tăng mức đảo chiều phiên ngắn hạn cho chỉ số VN30 lên 867 điểm cho phiên giao dịch kế tiếp./.

>>>Xem thêm  Chứng khoán tuần: VN-Index đứng trước nguy cơ kiểm tra đáy 950; Dự án Luật Chứng khoán sửa đổi: Bước ngoặt mới cho sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam<<<

D.T

Các chỉ tiêu nợ công được kiểm soát chặt chẽ trong giới hạn

Các chỉ tiêu nợ công được kiểm soát chặt chẽ trong giới hạn

Đây là đánh giá của Cục Quản lý nợ và tài chính đối ngoại (Bộ Tài chính) tại cuộc họp báo chuyên đề về tình hình nợ công diễn ra ngày 7/6. 
Các chỉ tiêu nợ đều đảm bảo giới hạn cho phép
Theo ông Nguyễn Trọng Nghĩa, Trưởng phòng Kế hoạch và quản lý rủi ro (Cục Quản lý nợ và tài chính đối ngoại), năm 2018 với sự điều hành quyết liệt của Chính phủ, công tác quản lý, huy động và trả nợ công, nợ Chính phủ đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Theo đó, các chỉ tiêu nợ được kiểm soát chặt chẽ và nằm trong giới hạn theo các nghị quyết của Quốc hội, góp phần quan trọng trong việc tiếp tục cải thiện mức xếp hạng tín nhiệm quốc gia của Việt Nam. Cùng với đó, việc huy động vốn vay của Chính phủ theo đúng Nghị quyết của Quốc hội về kế hoạch trung hạn và hàng năm. Các kỳ hạn phát hành trái phiếu Chính phủ (TPCP) được đa dạng hóa, tập trung vào kỳ hạn dài từ 10 năm trở lên, chiếm tới trên 90% tổng khối lượng huy động để tiếp tục cơ cấu lại danh mục nợ với mức lãi suất hợp lý. Cơ quan quản lý cũng chủ động công khai đầy đủ kịp thời thông tin về khung điều kiện vay ODA, vay ưu đãi của nhà tài trợ; thường xuyên giám sát hạn mức vay ODA và vay ưu đãi cho đầu tư phát triển giai đoạn 2016-2020. Nhờ đó, đến 31/12/2018, nợ công ước thực hiện 58,4%, thấp hơn mục tiêu dưới hoặc bằng 65%; nợ chính phủ đạt 50% thấp hơn mục tiêu dưới 54%; nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ trên thu NSNN là 15,9% trong khi mục tiêu là dưới hoặc bằng 25%; nợ nước ngoài quốc gia đạt 46%, trong khi mục tiêu là dưới 50%; kỳ hạn phát hành TPCP bình quân năm là 12,7 năm trong khi mục tiêu là từ 6-8 năm.

>>>Xem thêm  DỊCH VỤ THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<< 

Đạt được kết quả này, theo ông Võ Đức Hiển, Phó Cục trưởng Cục Quản lý nợ và tài chính đối ngoại, ngoài việc kinh tế vĩ mô khởi sắc, tăng trưởng GDP vượt kế hoạch, thì công tác điều hành chính sách tài khoá góp phần quan trọng. Cụ thể, giải ngân vốn ODA, ưu đãi nước ngoài chậm hơn dự kiến và biến động tỷ giá được kiểm soát tốt, đã góp phần giảm quy mô nợ nước ngoài của Chính phủ khi quy ra đồng Việt Nam. Các khoản bảo lãnh của Chính phủ được kiểm soát chặt chẽ, không cấp bảo lãnh mới cho DN vay trong nước và khuyến khích người vay trả nợ trước hạn đã góp phần giảm dư nợ bảo lãnh nước ngoài.
 
Mặc dù quy mô danh mục nợ chính phủ đến cuối năm 2018 được kiểm soát tốt, song Cục Quản lý nợ và tài chính đối ngoại cho rằng, cùng với ảnh hưởng của việc tốt nghiệp IDA (dừng nhận các khoản vay ưu đãi từ hiệp hội phát triển quốc tế), các chỉ tiêu chi phí, rủi ro danh mục nợ Chính phủ, đặc biệt là nợ nước ngoài có xu hướng kém thuận lợi hơn trước. Cụ thể, rủi ro tái cấp vốn tập trung vào các khoản nợ trong nước của Chính phủ do nghĩa vụ trả nợ đến hạn tập trung cao vào một số năm. Theo đó, năm 2019 có tới 9,3% danh mục nợ trong nước của Chính phủ sẽ đến hạn; 32,7% sẽ đến hạn trong giai đoạn 2019-2021 tác động đến việc bố trí nguồn trả nợ trong cân đối NSNN. Mặt khác, trong 5 năm tới, các khoản vay ODA sẽ giảm dần, tiến đến kết thúc, nên sẽ thiếu hụt nguồn vay vốn dài hạn, ưu đãi cho đầu tư, thay vào đó là phải huy động các khoản vay mới với điều kiện kém ưu đãi hơn nhiều. Trong khi đó, với nợ trong nước, lãi suất bình quân gia quyền của danh mục nợ tính đến cuối năm 2018 ở mức 5,8%/năm, giảm đáng kể so với năm 2015 là 6,6%/năm. Cùng với đó, tỷ lệ vay bằng đồng Việt Nam đã tăng lên, song danh mục nợ nước ngoài của Chính phủ vẫn tập trung vào một số đồng tiền chủ đạo có biến động lớn như JPY, USD và EUR.
 
Doanh nghiệp tự vay tự trả nợ
 
Để tăng cường kiểm soát nợ công trong thời gian tới, Cục Quản lý nợ và tài chính đối ngoại nhận định, ngoài việc tiếp tục thực hiện quyết liệt các giải pháp cơ cấu lại NSNN, cần tổ chức đánh giá nhu cầu vay của các bộ, ngành địa phương và các đơn vị sử dụng vốn vay công để dự báo tổng mức vay, trả nợ; hạn mức vay về cho vay lại và hạn mức bảo lãnh chính phủ sau năm 2020. Đồng thời, cần triển khai các công cụ quản lý nợ phục vụ việc xây dựng kế hoạch vay, trả nợ công 5 năm giai đoạn 2021-2025 trình Quốc hội quyết định. Mặt khác, tiếp tục thúc đẩy phát triển thị trường vốn trong nước, TPCP theo hướng đa dạng hoá công cụ nợ và mở rộng cơ sở nhà đầu tư, ưu tiên phát triển nhà đầu tư dài hạn và thu hút nhà đầu tư nước ngoài. Một giải pháp quan trọng nữa là kiểm soát chặt chẽ việc thực hiện hạn mức nợ nước ngoài theo phương thức tự vay tự trả của DN và tổ chức tín dụng.
 
Tại cuộc họp báo, trả lời câu hỏi của phóng viên liên quan đến hiệu quả của các dự án sử dụng vốn vay, ông Hiển cho biết, nhìn chung các nguồn vốn vay đều được tập trung ưu tiên cho dự án quan trọng cấp bách. Đến nay, các dự án đã đem lại hiệu quả kinh tế xã hội và phát huy tác dụng. Tuy nhiên, quá trình thực hiện cũng không tránh khỏi rủi ro, trong đó có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan.
 
Liên quan đến tình hình huy động vốn trong 5 tháng đầu năm, bà Trần Thị Huệ, Phó Tổng giám đốc Kho bạc Nhà nước cho biết, tính đến 31/5/2019, Kho bạc Nhà nước đã phát hành được 93.980 tỷ đồng. Khối lượng thanh toán gồm cả nợ trong và ngoài nước ước đạt 149.867 tỷ đồng, trong đó thanh toán gốc khoảng hơn 100.000 tỷ đồng, trả lãi 49.826 tỷ đồng.

 >>>xem thêm  Phát hành Trái phiếu Chính phủ và hiệu quả đối với tái cơ cấu nợ công ở Việt NamNhận diện thách thức và giải pháp cơ cấu lại NSNN và nợ công tại Việt Nam<<<

Hương Quỳnh

Phát hành Trái phiếu Chính phủ và hiệu quả đối với tái cơ cấu nợ công ở Việt Nam

Phát hành Trái phiếu Chính phủ và hiệu quả đối với tái cơ cấu nợ công ở Việt Nam

Trái phiếu Chính phủ (TPCP) là công cụ nợ của Chính phủ. Tại các nước trên thế giới, TPCP có thể do Bộ Tài chính, cơ quan quản lý nợ hoặc Ngân hàng trung ương tổ chức phát hành. Luật Quản lý nợ công năm 2017 quy định tại Việt Nam, Bộ Tài chính là chủ thể phát hành TPCP và Bộ Tài chính ủy quyền cho Kho bạc Nhà nước (KBNN) tổ chức phát hành.

>>>Xem thêm  DỊCH VỤ THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<< 

 

 

Theo thông lệ quốc tế, TPCP đóng hai vai trò cơ bản: Thứ nhất, TPCP là công cụ nợ để huy động vốn bù đắp bội chi ngân sách nhà nước (NSNN), trả nợ gốc đến hạn, cơ cấu lại nợ Chính phủ; Thứ hai, việc phát hành TPCP thường xuyên hỗ trợ phát triển thị trường vốn trong nước, tạo lãi suất chuẩn để các công cụ nợ khác trên thị trường tham chiếu.

Thực hiện chủ trương về cơ cấu lại NSNN, quản lý nợ công để đảm bảo nền tài chính quốc gia an toàn, bền vững tại Nghị quyết số 07-NQ/TW ngày 18/11/2016 của Bộ Chính trị, thời gian qua KBNN đã nỗ lực cải tiến công tác tổ chức phát hành TPCP, quản lý danh mục nợ TPCP góp phần cùng ngành Tài chính thực hiện thắng lợi chủ trương cơ cấu lại ngân sách nhà nước, nợ công và hoàn thành nhiệm vụ tài chính - ngân sách được Quốc hội và Chính phủ giao.

Trên cơ sở các Nghị định Nghị định 95/2018/NĐ-CP ngày 30/6/2018 của Chính phủ quy định về phát hành, đăng ký, lưu ký, niêm yết và giao dịch công cụ nợ của Chính phủ trên thị trường chứng khoán hướng dẫn Luật Quản lý nợ công năm 2017, Bộ Tài chính đã triển khai xây dựng và ban hành hệ thống các Thông tư hướng dẫn thực hiện nghiệp vụ phát hành, thanh toán công cụ nợ của Chính phủ và nghiệp vụ tái cơ cấu nợ, tạo khung pháp lý hoàn chỉnh để thực hiện phát hành TPCP và tái cơ cấu nợ. Các quy trình nghiệp vụ phát hành TPCP của KBNN đã liên tục được cải tiến hướng theo các thông lệ tốt trên thị trường quốc tế, cho phép KBNN tổ chức phát hành TPCP theo quy trình chuẩn, minh bạch, đơn giản, tiết kiệm và hiệu quả.

Kết quả công tác phát hành TPCP

Hỗ trợ quản lý NSNN hiệu quả: Nghị quyết số 25/2016/QH14 ngày 9/11/2016 của Quốc hội về kế hoạch tài chính quốc gia 5 năm giai đoạn 2016-2020 đặt ra chủ trương “tăng tỷ trọng nợ vay trong nước, giảm dần tỷ trong vay nước ngoài” để giảm rủi ro thị trường, rủi ro tỷ giá đối với nợ vay. Hiện nay, nguồn hỗ trợ chính thức ODA cho Việt Nam đang giảm dần và kết thúc khi Việt Nam được Ngân hàng Thế giới (WB) đưa ra khỏi nước kém phát triển từ tháng 7/2017. Đảng và Nhà nước chủ trương phát triển kinh tế xã hội chủ yếu dựa vào nguồn lực trong nước. Do đó, thời gian qua, tỷ trọng vay trong nước của Chính phủ bằng trái phiếu trong tổng mức vay của NSNN hàng năm tăng liên tục. Khối lượng TPCP phát hành tại thị trường trong nước đã đáp ứng nhu cầu vốn vay bù đắp bội chi NSNN, đầu tư các công trình trọng điểm quốc gia và để trả nợ gốc theo dự toán Quốc hội giao. Điều này phù hợp với chủ trương của Quốc hội trong thực hiện tái cơ cấu NSNN và nợ công.

Tăng hiệu quả quản lý và sử dụng vốn thông qua kéo dài thời gian vay nợ: Phần lớn các công trình trọng điểm quốc gia yêu cầu vốn đầu tư dài hạn, phù hợp với thời gian đầu tư và thu hồi vốn. Trước đây, TPCP do KBNN phát hành thường có kỳ hạn ngắn. Từ năm 2014 trở về trước, với kỳ hạn vay hàng năm bình quân khoảng 2-3 năm, NSNN thường xuyên phải vay đảo nợ để trả các khoản vay trước đó dẫn đến hiệu quả sử dụng vốn đầu tư không cao. Từ năm 2015, thực hiện chủ trương của Quốc hội về phát hành trái phiếu kỳ hạn dài, KBNN chủ yếu phát hành loại trái phiếu có kỳ hạn từ 5 năm trở lên. Điều này giúp cải thiện kỳ hạn của cả danh mục trái phiếu, tăng hiệu quả sử dụng vốn đồng thời giảm áp lực trả nợ đối với NSNN. Nếu như năm 2012, thời hạn sử dụng vốn TPCP bình quân ở mức 3 năm, trong đó hơn 20% khối lượng phải hoàn trả ngay năm sau (do chủ yếu là tín phiếu Kho bạc) thì đến nay, thời hạn bình quân của TPCP phát hành tăng lên khoảng 12-13 năm, nâng kỳ hạn còn lại bình quân của danh mục nợ TPCP lên mức trên 7 năm, không còn áp lực trong việc NSNN phải hoàn trả vốn ngay trong các năm kế tiếp.

>>>Xem thêm  Ai đang mua gom cổ phiếu Vinaconex?<<<

Các chỉ tiêu về kỳ hạn phát hành của TPCP và kỳ hạn danh mục nợ TPCP thời gian qua đã đạt và vượt mục tiêu của Quốc hội, Chính phủ đề ra tại Nghị quyết số 25/2016/QH14 ngày 9 tháng 11 năm 2016 của Quốc hội về kế hoạch tài chính quốc gia 5 năm giai đoạn 2016-2020; Quyết định số 1191/QĐ-TTg ngày 14/8/2017 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Lộ trình phát triển thị trường trái phiếu Việt Nam đến năm 2020 (tối thiểu 70% khối lượng TPCP phát hành có kỳ hạn từ 5 năm trở lên, kỳ hạn còn lại danh mục nợ khoảng 6-7 năm,...), khẳng định kết quả thực hiện cơ cấu nợ công theo chủ trương của Quốc hội, Chính phủ.

Tiết kiệm chi phí vay nợ: Quản lý nợ công hiệu quả đặt ra yêu cầu về giảm thiểu các loại rủi ro, giảm chi phí vay trong điều kiện xây dựng danh mục nợ phù hợp về kỳ hạn và loại hình vay nợ. Thời gian qua, trong điều kiện nền kinh tế vĩ mô được Chính phủ điều hành ổn định, mặt bằng lãi suất thị trường được cải thiện theo hướng giảm dần, KBNN bám sát thị trường và điều hành linh hoạt công tác huy động vốn. Nhờ đó, lãi suất phát hành TPCP giảm mạnh từ mức 12%/năm (năm 2011) xuống mức 6,54%/năm (năm 2014) và tiếp tục giảm dần xuống mức 5,98%/năm (năm 2017) và 4,71%/năm (năm 2018), góp phần giảm chi phí, tăng hiệu quả công tác quản lý nợ công.

Kết quả phát hành TPCP phụ thuộc rất nhiều vào tình hình thị trường tài chính, tiền tệ trong, ngoài nước và nhu cầu của các nhà đầu tư. Thị trường TPCP cần duy trì hoạt động thường xuyên, không phải chỉ hoạt động khi NSNN cần vốn. KBNN không thể tập trung huy động một khối lượng TPCP lớn thời điểm cuối năm khi thanh khoản của các nhà đầu tư TPCP căng thẳng. Điều này một mặt dẫn đến khả năng không huy động được, mặt khác tăng chi phí huy động (khoảng 1-2%/năm so với đầu năm), đồng thời NSNN phải trả chi phí vay cao trong thời gian dài suốt vòng đời trái phiếu (ví dụ hiện nay khoảng 12-13 năm).

Có thể lượng hóa tiết kiệm chi phí vay như sau: Ví dụ, năm 2017, KBNN huy động 244.220 tỷ đồng TPCP kỳ hạn bình quân 12,74 năm, lãi suất bình quân 5,98%/năm. Nếu cùng khối lượng vay năm 2017 nhưng với lãi suất vay bình quân năm 2016 là 6,49%/năm thì trong 13 năm sắp tới, mỗi năm NSNN tiết kiệm chi trả lãi 1.245,5 tỷ đồng. Nếu cùng khối lượng vay năm 2017 nhưng với lãi suất vay bình quân năm 2011 là 12%/năm thì trong 13 năm sắp tới, mỗi năm NSNN tiết kiệm chi trả lãi 14.702 tỷ đồng.

Gắn kết chặt chẽ công tác phát hành TPCP và quản lý NQNN: Ngân quỹ nhà nước (NQNN) được hình thành từ các quỹ NSNN (trung ương và các địa phương), tiền gửi của các quỹ tài chính nhà nước, đơn vị, tổ chức kinh tế tại KBNN. KBNN thực hiện quản lý ngân quỹ bên cạnh mục tiêu đáp ứng kịp thời đầy đủ nhu cầu thanh toán, chi trả của NSNN và các đơn vị giao dịch tại KBNN còn đảm bảo mục tiêu hiệu quả thông qua việc sử dụng các nghiệp vụ quản lý ngân quỹ để gắn kết quản lý ngân quỹ và quản lý nợ theo các thông lệ tốt trên thế giới.

Bên cạnh vay từ thị trường TPCP, KBNN có thể cân đối, sử dụng NQNN để tạm ứng cho NSTW và NSĐF đáp ứng nhu cầu chi cần thiết, cấp bách khi nguồn thu chưa tập trung kịp thời nhằm đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án đầu tư kết cấu hạ tầng quan trọng thuộc kế hoạch đầu tư công trung hạn, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Sử dụng nguồn NQNN tạm thời nhàn rỗi, giảm áp lực phát hành TPCP khi thị trường khó khăn, một mặt giúp KBNN hoàn thành nhiệm vụ vay để cân đối NSNN, một mặt giảm sức ép tăng mặt bằng lãi suất khi nhu cầu vay tăng hoặc thị trường biến động. Thông qua việc tạm ứng NQNN cho NSTW, KBNN tiết kiệm chi phí vay nợ cho NSNN. Năm 2018, đánh giá khả năng phát hành TPCP khó khăn, KBNN đã trình Bộ Tài chính điều chỉnh giảm nhiệm vụ phát hành TPCP và cuối năm cân đối tạm ứng NQNN 45.500 tỷ đồng để đảm bảo đủ nhu cầu cân đối thu chi NSNN đồng thời giữ mặt bằng lãi suất phát hành ở mức phù hợp, tạo thuận lợi cho việc phát hành TPCP ngay từ đầu năm 2019.   

Phát triển thị trường TPCP: Thị trường TPCP trở thành kênh huy động vốn quan trọng của nền kinh tế. Lãi suất TPCP do KBNN phát hành từng bước trở thành lãi suất chuẩn để các công cụ nợ khác trên thị trường tham chiếu.

Vai trò của TPCP trong việc phát triển thị trường trái phiếu trong nước

Hình thành thị trường TPCP chuyên nghiệp: Sự ra đời của thị trường trái phiếu chuyên biệt năm 2009 đánh dấu bước ngoặt trong việc phát triển toàn diện thị trường TPCP của Việt Nam nói chung và công tác phát hành TPCP của KBNN nói riêng. KBNN không còn thực hiện phát hành TPCP theo phương thức bán lẻ mà chủ yếu thực hiện bằng đấu thầu, đảm bảo thông tin minh bạch, đơn giản hóa thủ tục, tiết kiệm chi phí tổ chức phát hành, phù hợp với thông lệ quốc tế.

Sản phẩm trái phiếu đa dạng: Trên cơ sở nghiên cứu nhu cầu thị trường và định hướng cải thiện cơ sở nhà đầu tư, hàng năm KBNN thăm dò và mở rộng dần các loại kỳ hạn trái phiếu, đáp ứng nhu cầu đa dạng của các đối tượng khác nhau. Năm 2015 đưa ra thị trường trái phiếu kỳ hạn 20 và 30 năm lần đầu theo phương thức bán lẻ và sau đó thực hiện đấu thầu thường xuyên, thu hút sự các nguồn vốn dài hạn từ các công ty bảo hiểm, quỹ đầu tư... Bên cạnh trái phiếu truyền thống trả lãi cố định còn có các hình thức trái phiếu không trả lãi định kỳ, trái phiếu có kỳ trả lãi đầu tiên ngắn hơn hoặc dài hơn kỳ trả lãi chuẩn để tăng hiệu quả QLNQ, quản lý danh mục nợ TPCP.

Đa dạng và cải thiện cơ cấu nhà đầu tư trái phiếu: Từ chỗ trên 80% nhà đầu tư TPCP là các NHTM, hiện nay cơ cấu nhà đầu tư đang chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ lệ nhà đầu tư dài hạn là các công ty bảo hiểm, quỹ đầu tư; giảm dần sự phụ thuộc vào hệ thống NHTM. Trước năm 2016, NHTM thường nắm giữ khoảng 80% khối lượng trái phiếu do KBNN phát hành, hiện nay tỷ lệ này giảm xuống khoảng 47% (năm 2018), giúp thị trường trái phiếu ổn định, bền vững hơn trước những biến động ngắn hạn trên thị trường tiền tệ.

Thực hiện các nghiệp vụ tái cơ cấu nợ để hỗ trợ quản lý nợ: Trên thế giới, nghiệp vụ hoán đổi và mua lại TPCP là các nghiệp vụ cơ cấu nợ chủ động thường xuyên được thực hiện. Với chủ trương tái cơ cấu danh mục nợ, thời gian qua KBNN đã nhiều lần thực hiện hoán đổi TPCP để tái cơ cấu danh mục TPCP, giảm rủi ro hoặc để cải thiện thanh khoản như: hoán đổi các trái phiếu có kỳ hạn còn lại tương đương để hình thành các mã có giá trị niêm yết lớn, thúc đẩy thanh khoản trên thị trường trái phiếu thứ cấp hoặc gom các trái phiếu có kỳ hạn còn lại ngắn để hoán đổi sang trái phiếu có kỳ hạn dài hơn, kéo dài kỳ hạn danh mục nợ. Bên cạnh đó, việc chuyển đổi các khoản vay của BHXH sang hình thức TPCP cũng là cách thức tái cơ cấu các khoản nợ của Chính phủ. Dự kiến năm 2019, KBNN sẽ tiếp tục thực hiện hoán đổi trái phiếu để giúp giảm rủi ro đảo nợ của NSNN trong những thời điểm khối lượng TPCP đến hạn lớn (các năm 2020-2021).  

Giải pháp phát triển thị trường trái phiếu để tăng cường hiệu quả cải cách quản lý nợ công

Đa dạng sản phẩm trái phiếu để phát triển thị trường: Việc NSNN huy động được khối lượng lớn trái phiếu dài hạn với chi phí hợp lý trong những năm gần đây chứng tỏ niềm tin của nhà đầu tư vào sự ổn định nền kinh tế vĩ mô trong tương lai. Mặc dù đánh giá cao kết quả tái cơ cấu nợ của Việt Nam từ năm 2015 trở lại đây, các chuyên gia WB tại hội thảo về Chiến lược phát triển KBNN cho rằng việc Việt Nam không phát hành loại dưới 5 năm như hiện nay dẫn đến thiếu lãi suất tham chiếu cho phân đoạn thị trường ngắn hạn, hạn chế thị trường phát triển. Do đó, cần cân cân đối phát hành trái phiếu ngắn hạn với khối lượng phù hợp để thiết lập đường cong lãi suất chuẩn có đầy đủ kỳ hạn như thông lệ quốc tế. Các chuyên gia cũng khuyến nghị Bộ Tài chính (KBNN) phải duy trì thị trường thường xuyên, thanh khoản để đảm bảo khi NSNN có nhu cầu vay là có thể thực hiện.

Việc đa dạng hóa sản phẩm cho thị trường cần tính đến các loại trái phiếu có cơ chế phòng ngừa rủi ro lạm phát, giúp tối ưu hóa lợi nhuận cho các nhà đầu tư, giảm rủi ro khi đầu tư như trái phiếu gắn với chỉ số lạm phát, trái phiếu có lãi suất thả nổi... với một tỷ trọng phù hợp trong tổng mức phát hành, vẫn tập trung vào các sản phẩm truyển thống như hiện nay.

Thực hiện các nghiệp vụ cơ cấu nợ: Hoán đổi trái phiếu là nghiệp vụ cơ cấu nợ phổ biến được các nước phát triển thực hiện thường xuyên trong quản lý danh mục nợ. Việc hoán đổi trái phiếu cần thực hiện liên tục bằng phương thức đấu thầu để đảm bảo đơn giản thủ tục, minh bạch thông tin và tạo thành thông lệ thường xuyên cho thị trường sẽ đạt hiệu quả quản lý nợ cao hơn. Hiện nay các quy định pháp lý đã cho phép tổ chức đấu thầu hoán đổi mua lại TPCP, KBNN sẽ đẩy nhanh tiến độ triển khai trong thời gian tới.

Gắn kết huy động vốn và quản lý NQNN: Trên thế giới, nhiều quốc gia thậm chí thặng dư ngân sách nhưng vẫn thực hiện phát hành trái phiếu với mục tiêu phát triển thị trường vốn, duy trì kênh huy động vốn khi Chính phủ có nhu cầu. Trường hợp Việt Nam, tại một số thời điểm thặng dư NQNN cao nhưng không nên quá lạm dụng nguồn NQNN để giảm phát hành TPCP do đây là nguồn vốn có tính chất tạm thời. Việc sử dụng toàn bộ/phần lớn số dư ngân quỹ vay thay thế cho việc phát hành TPCP sẽ hạn chế sự phát triển bền vững của thị trường TPCP, có thể gây rủi ro thanh khoản cho KBNN, mặt khác tạo áp lực trả nợ cho NSNN trong ngắn hạn, ảnh hưởng đến tính an toàn, bền vững của ngân sách và nợ công. Do đó, KBNN cần tính toán sử dụng một tỷ lệ NQNN phù hợp trong tổng mức phát hành trái phiếu để đảm bảo đồng thời hiệu quả quản lý ngân quỹ và phát triển thị trường.

Công tác phát hành TPCP trong thời gian qua đã góp phần tích cực trong việc cơ cấu lại nợ công theo chủ trương, định hướng của Đảng, Quốc hội và Chính phủ. Chất lượng, hiệu quả cải cách quản lý nợ công là một trong các yếu tố giúp tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế Fitch đánh giá tích cực, nâng hệ số tín nhiệm quốc gia của Việt Nam từ mức BB- lên BB vào tháng 5/2018. Tuy nhiên, để tiếp tục tái cơ cấu nợ và xây dựng thị trường TPCP trở thành kênh huy động vốn dài hạn hiệu quả cho NSNN cần tiếp tục triển khai đồng bộ các giải pháp để tăng quy mô và chất lượng thị trường trái phiếu theo hướng công khai, minh bạch phù hợp với các thông lệ quốc tế.

KB

Bất chấp căng thẳng thương mại, giá trị giao dịch cổ phiếu bình quân phiên vẫn tăng 7%

Bất chấp căng thẳng thương mại, giá trị giao dịch cổ phiếu bình quân phiên vẫn tăng 7%

Thống kê sơ bộ của Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội, cho thấy, trong tháng 5/2019, tính bình quân, khối lượng giao dịch đạt hơn 33,4 triệu cổ phiếu/phiên, tăng 1,5% so với tháng trước, tương ứng giá trị giao dịch đạt gần 418 tỷ đồng/phiên, tăng 7% so với tháng trước. Đặc biệt, việc bán ròng không quá lớn của nhà đầu tư nước ngoài cho thấy, những căng thẳng thương mại toàn cầu, đặc biệt chiến tranh thương mại Mỹ - Trung không tác động nhiều đến quyết định đầu tư.

>>>Xem thêm  DỊCH VỤ THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<< 

Cụ thể, HNX Index đạt 104.35 điểm tại thời điểm đóng cửa phiên giao dịch cuối cùng của tháng 5, giảm 2,89% so với thời điểm cuối tháng trước. Giá trị vốn hóa thị trường đạt hơn 195 nghìn tỷ đồng, giảm 2,5% so với thời điểm cuối tháng 4/2019.

Tuy nhiên, thanh khoản trên thị trường tăng nhẹ so với tháng trước. Tổng khối lượng giao dịch toàn thị trường niêm yết đạt hơn 736 triệu cổ phiếu, giá trị giao dịch đạt hơn 9,2 nghìn tỷ đồng.

Như vậy, tính bình quân, khối lượng giao dịch đạt hơn 33,4 triệu cổ phiếu/phiên (tăng 1,5% so với tháng trước), tương ứng giá trị giao dịch đạt gần 418 tỷ đồng/phiên (tăng 7% so với tháng trước).

Chỉ số giá cổ phiếu các ngành đều giảm mạnh so với tháng trước, trong đó ngành Tài chính có chỉ số giảm điểm nhiều nhất, tại thời điểm ngày 31/5, chỉ số này giảm 10,85 điểm (tương ứng 5,72 % so với tháng trước) xuống mức 178,76 điểm, ngành Công nghiệp giảm 2,64 điểm còn 179,63 điểm, trong khi đó ngành Xây dựng giảm 0,14 điểm (tương ứng 0,11%) đạt 122,48 điểm.

Chỉ số LargeCap tại thời điểm cuối tháng 5 giảm 5,34 điểm (tương ứng 3,266%) so với tháng trước về mức 158,51 điểm, chỉ số Mid/SmallCap giảm 1,27% về 154,14 điểm.

Bảng 1: 5 cổ phiếu được giao dịch nhiều nhất trong tháng 5/2019

STT

MCK

Khối lượng giao dịch (cổ phiếu)

1

PVS

88.100.820

2

SHB

85.143.146

3

VGC

44.506.293

4

NVB

42.158.768

5

MST

30.738.132

Nguồn: hnx.vn

Tháng này, nhà đầu tư nước ngoài giao dịch tổng cộng 61,86 triệu cổ phiếu, giá trị giao dịch đạt mức hơn 1.174 tỷ đồng, trong đó tổng giá trị giao dịch mua vào đạt hơn 472 tỷ đồng, tổng giá trị giao dịch bán ra đạt hơn 742 tỷ đồng.

Như vậy, tính chung trong cả tháng, trên thị trường cổ phiếu niêm yết, nhà đầu tư nước ngoài đã bán ròng hơn 270 tỷ đồng. Việc bán ròng không quá lớn của nhà đầu tư nước ngoài cho thấy, những căng thẳng thương mại toàn cầu, đặc biệt chiến tranh thương mại Mỹ - Trung không tác động nhiều đến quyết định đầu tư. Trong khi họ vẫn tin vào nền tảng vĩ mô ổn định và sự nhất quán trong điều hành hành vĩ mô của Chính phủ Việt Nam.

Bảng 2: 5 cổ phiếu được đầu tư nước ngoài mua nhiều nhất

STT

MCK

Khối lượng giao dịch (cổ phiếu)

1

PVI

8.439.547

2

VGC

3.563.110

3

PVS

1.645.410

4

SHB

887.668

5

PGT

827.200

Nguồn: hnx.vn

Bảng 3: 5 cổ phiếu nhà đầu tư nước ngoài bán nhiều nhất

STT

MCK

Khối lượng giao dịch (cổ phiếu)

1

VGC

16.547.150

2

PVS

9.990.931

3

HUT

3.745.400

4

SHS

3.169.975

5

NDN

1.121.600

Nguồn: hnx.vn

Tổng khối lượng giao dịch của nhóm cổ phiếu HNX30 đạt hơn 401 triệu cổ phiếu, tương ứng với giá trị giao dịch đạt hơn 7 nghìn tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 54,49% về khối lượng và 76,23% giá trị giao dịch toàn thị trường.

Cũng theo HNX, trong tháng 5/2019, không có doanh nghiệp niêm yết cổ phiếu mới trong khi đó có 7 doanh nghiệp hủy niêm yết cổ phiếu.

Tổng số chứng khoán niêm yết tại ngày giao dịch cuối cùng của tháng (ngày 31/5) là 370 mã cổ phiếu với tổng khối lượng niêm yết hơn 12,44 tỷ cổ phiếu, tương ứng giá trị niêm yết toàn thị trường đạt gần 124,4 nghìn tỷ đồng.

>>>xem thêm Chứng khoán tuần: VN-Index đứng trước nguy cơ kiểm tra đáy 950<<<

Thời cơ thu hút nhà đầu tư lớn từ châu Âu

Thời cơ thu hút nhà đầu tư lớn từ châu Âu

Nhiều nhà đầu tư châu Âu, trong đó có Italia, đang chọn Việt Nam là đích đến của luồng vốn đầu tư. Để phát huy lợi thế này, môi trường kinh doanh cần phải tiếp tục cải thiện, bản thân mỗi doanh nghiệp Việt cũng phải thay đổi, liên kết với nhau để trở thành mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

>>>Xem thêm  DỊCH VỤ THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<< 

Sự kiện hơn 300 doanh nghiệp (DN) đến từ Italia tham dự Hội nghị Thượng đỉnh cấp cao Italia – ASEAN lần thứ 3 diễn ra ngày 6/6 đã cho thấy thời cơ thu hút các nhà đầu tư lớn, có trình độ công nghệ cao đã tới. Hội nghị thượng đỉnh lần này được chủ trì bởi Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc và Thủ tướng Italia Giuseppe Conte.

Nhà đầu tư vượt nửa vòng trái đất

Phát biểu khai mạc, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chào mừng các DN Italia đã vượt nửa vòng trái đến Việt Nam, Thủ tướng cảm ơn niềm tin và sự lựa chọn của các nhà đầu tư đối với Việt Nam và Thủ đô Hà Nội – thành phố vì hòa bình.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh Diễn đàn này là một sự kiện đặc biệt, về phía Việt Nam lần đầu tiên có sự tham dự của cả Thủ tướng và Phó Thủ tướng Chính phủ, điều này thể hiện sự ủng hộ, đánh giá rất cao của Việt Nam đối với sự hợp tác của Chính phủ Italia, của các DN Italia, ASEAN với Việt Nam.

Thủ tướng mong muốn các DN Italia: "Khi các bạn nhìn về hướng Đông, hãy chọn Việt Nam, quốc gia có 95 triệu dân, đang phát triển năng động, một thành viên tích cực của cộng đồng ASEAN với quy mô GDP gần 3.000 tỷ USD".

"Chúng ta hãy cùng nhau hợp tác để cùng thành công và cùng phát triển lớn mạnh, điều đó sẽ càng tuyệt vời hơn khi Hiệp định EVFTA và EVIPA sớm được ký kết và phê chuẩn với sự giúp đỡ, ủng hộ của các bạn", Thủ tướng chia sẻ.

Nguyên Thủ tướng Italia Enrico Letta (kiêm Chủ tịch Hiệp hội Italia – ASEAN), đánh giá ASEAN là nền kinh tế lớn thứ 5 trên thế giới và là một khu vực kinh tế, địa chính trị rất quan trọng với Chính phủ Italia nói chung và cộng đồng DN Italia nói riêng. Italia luôn coi trọng mối quan hệ đa phương Italia – ASEAN, trong đó Việt Nam là cửa ngõ chiến lược của các DN Italia tại khu vực Đông Nam Á.

Điều đó đồng nghĩa với việc dự kiến sẽ có nhiều dự án xúc tiến thương mại cũng như tăng cường dòng vốn đầu tư của Italia vào Việt Nam trong thời gian tới để làm bàn đạp cho các DN Italia hiện diện mạnh mẽ hơn nữa tại thị trường tiềm năng ASEAN này.

"Nền kinh tế Italia và Việt Nam có rất nhiều điểm tương đồng và tôi tin chắc điều đó sẽ tạo thuận lợi hơn, dễ dàng và nhanh chóng hơn cho các DN Italia", ông Enrico Letta nhấn mạnh.

Quảng bá tới nhà đầu tư, ông Nguyễn Đức Chung, Chủ tịch UBND Tp.Hà Nội, cho biết Hà Nội có bề dày 1.000 năm lịch sử, là đầu não chính trị, văn hóa, kinh tế của Việt Nam. Hà Nội là thành phố vì hoà bình, đây là yếu tố quan trọng để các nhà đầu tư quan tâm khi muốn kinh doanh.

Trong khi đó, ở góc độ nhà đầu tư, ông Lapo Pistelli, Phó Chủ tịch EVI (Italia), chia sẻ trước đây DN chủ yếu hoạt động kinh doanh ở châu Phi nhưng gần đây đã chuyển hướng đầu tư sang khu vực Trung Đông, Đông Á và Đông Nam Á. "Chúng tôi rất muốn có cơ hội được đầu tư tại thị trường Việt Nam, hợp tác với DN Việt Nam", ông nói.

Chia sẻ với Thời báo Kinh Doanh, ông Emanuele Stano, Tổng Giám đốc công ty TNHH Ariston Thermo Việt Nam, đánh giá thị trường Việt Nam ngày càng phát triển, tăng trưởng gấp hai lần so với thị trường Italia, nhất là nhu cầu về các thiết bị máy nước nóng; nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng ổn định và bền vững, cơ cấu dân số trẻ.

Vì sao tiềm năng còn bỏ ngỏ?

Hiện nhiều DN và tập đoàn lớn của Italia đã có mặt, hoạt động kinh doanh có hiệu quả tại Việt Nam. Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng đánh giá đây là những tín hiệu khả quan, tuy nhiên kết quả này chưa tương xứng với tiềm năng và nhu cầu phát triển của hai nước.

Để phát triển hơn nữa quan hệ hợp tác đầu tư thương mại giữa hai bên, Phó Thủ tướng cho rằng ngoài sự ủng hộ, quan tâm của Chính phủ hai nước rất cần có sự nỗ lực và phấn đấu của cộng đồng DN.

Từ thực tiễn làm việc, tiếp xúc với nhiều nhà đầu tư Italia nói riêng và châu Âu nói chung, ông Phạm Hồng Hải, Tổng Giám đốc Ngân hàng TNHH MTV HSBC Việt Nam, chia sẻ với Thời báo Kinh Doanh là độ nhận biết về khu vực ASEAN cũng như Việt Nam trong mắt các nhà đầu tư còn rất kém.

Ông cho biết: "Tôi hỏi tại sao không đầu tư vào ASEAN, trong đó có Việt Nam, nhiều nhà đầu tư thẳng thắn cho biết thị trường của chúng ta quá nhỏ. Khi đi xúc tiến đầu tư, DN vẫn cứ nhìn vào thị trường Trung Quốc, Ấn Độ".

Do vậy, Tổng Giám đốc HSBC cho rằng phải tăng cường giới thiệu, quảng bá về tiềm năng của thị trường Việt Nam. "Mình ngồi đây có thể thấy rất tiềm năng. Nhưng nhà đầu tư ở bên kia – họ lại thấy thị trường của mình rất phức tạp, luật lệ lằng nhằng, chẳng biết thế nào là đúng, thế nào là sai. Sự cải thiện về môi trường kinh doanh vẫn chưa đồng đều giữa các bộ ngành, địa phương, nơi đi nhanh nhưng có nơi đi rất chậm".

Theo ông Hải, Diễn đàn lần này là khởi đầu tốt để tăng cường quan hệ hợp tác kinh tế – thương mại, nhưng cần đi sâu hơn. Cụ thể, DN nước ngoài muốn vào Việt Nam thường gặp phải vấn đề gì: chi phí nhân công lao động tăng nhanh (mỗi năm tăng 7-8%), luật lệ thay đổi liên tục, thủ tục hành chính công phức tạp… Đây là vấn đề phải cải thiện.

Đặc biệt, nói về sự dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu, ông Hải cho rằng để thu hút được chuỗi giá trị này, bản thân các DN cần phải thay đổi. Trung Quốc phải mất nhiều năm mới định hình là một công xưởng của thế giới. Việt Nam đi sau nên cũng cần phải có thời gian. Tuy nhiên, điều khó khăn nhất là làm sao để DN Việt Nam đủ khả năng tham gia chuỗi giá trị.

Theo ông Hải, muốn tham gia, bản thân mỗi DN phải thay đổi, chất lượng sản phẩm cần ổn định, máy móc công nghệ hiện đại, đáp ứng các chuẩn mực quốc tế. Một DN có thể không làm được thì cần phải liên kết với nhau để tạo thành sức mạnh, tránh kiểu mạnh ai nấy làm.

Mặt khác, ông Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), khẳng định cộng đồng DN Việt Nam muốn hợp tác hơn nữa với Italia để thúc đẩy tự do thương mại, phát triển kinh tế số… Đặc biệt, thúc đẩy hơn nữa quá trình quốc tế hóa của DN nhỏ và vừa và DN siêu nhỏ, đưa DN vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Sự phát triển của khu vực này sẽ định hình sinh kế của hàng trăm triệu người dân và tương lai của nền kinh tế.

Tuy nhiên, ông Lộc cũng hy vọng, để thành công, hợp tác bền vững tại Việt Nam, các nhà đầu tư phải có cam kết dài hạn, tránh đầu tư theo kiểu "đánh nhanh thắng nhanh"

"Các nhà đầu tư cần lựa chọn đối tác địa phương để hợp tác. Đây là điều cực kỳ quan trọng, giúp cho hoạt động liên doanh, hợp tác của chúng ra có thể vượt qua những rào cản phức tạp của địa phương", ông Lộc cho biết.

>>>xem thêm  83% kế hoạch đầu tư công để giải quyết tồn tại của các nhiệm kỳ trước; Chiến lược đầu tư nào sẽ có xu hướng gia tăng trong năm 2019?<<<

Theo Lê Thúy

Ngân hàng “ào ào" chuyển đổi số

Ngân hàng “ào ào" chuyển đổi số

Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang từng bước làm thay đổi hoàn toàn kênh phân phối và các sản phẩm dịch vụ ngân hàng truyền thống. Vì thế, chuyển đổi số là xu thế tất yếu của các ngân hàng trong bối cảnh này.

>>>Xem thêm  THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<< 

Thời của “chíp hóa”

Mới đây, 7 ngân hàng gồm: Vietcombank, VietinBank, BIDV, Agribank, Sacombank, TPBank, ABBank đã chính thức công bố ra mắt sản phẩm thẻ chip nội địa của các ngân hàng. Việc chuyển đổi thẻ này được xem là xu thế tất yếu, phù hợp với các nước trong khu vực và quốc tế trước tình trạng tội phạm công nghệ cao ngày càng gia tăng; ngoài ra, đây còn là giải pháp nâng cao công nghệ trong việc cung cấp sản phẩm thanh toán không dùng tiền mặt cho khách hàng.

Hiện Việt Nam có 48 ngân hàng phát hành thẻ nội địa với số lượng khoảng 76 triệu thẻ, hơn 261.000 máy POS và 18.600 máy ATM, trong đó phần lớn POS đã tuân theo Tiêu chuẩn EMV nên việc triển khai thẻ chip nội địa trên các thiết bị chấp nhận thẻ sẽ không quá phức tạp.

Theo kế hoạch của Chính phủ, đến cuối năm 2019, các ngân hàng thương mại thực hiện chuyển đổi ít nhất 30% số lượng thẻ từ nội địa, 35% số lượng ATM và 50% số lượng POS hiện có sang công nghệ chip tiếp xúc và không tiếp xúc. Chậm nhất vào 31/12/2021, toàn bộ thẻ từ nội địa đang lưu hành của tổ chức phát hành thẻ tuân thủ tiêu chuẩn về thẻ chip nội. Do đó, giám đốc trung tâm thẻ một ngân hàng thương mại cho biết, dự kiến đến cuối năm nay sẽ chính thức ra mắt sản phẩm thẻ đầu tiên ứng dụng công nghệ thanh toán không tiếp xúc theo chuẩn quốc tế (EMV contactless). Bước đầu, ngân hàng này sẽ triển khai máy POS đọc thẻ chip cho chuỗi rạp chiếu phim, siêu thị… trên toàn quốc, nhưng nếu máy POS chưa có công nghệ mới vẫn có thể cà thẻ để thanh toán bình thường.

Về vấn đề bảo mật, ông Trần Quốc Anh, Giám đốc khối khách hàng cá nhân Ngân hàng HDBank cho biết, ngân hàng đang triển khai các công nghệ mới rất an toàn và luôn phối hợp với công ty thẻ, nhà mạng lớn cùng triển khai như hệ thống phòng chống hacker. Bên cạnh đó, ngân hàng cũng chú trọng việc truyền thông đến người sử dụng thẻ để tăng tính an toàn.

Hợp tác cùng chuyển đổi

Các ngân hàng đang tiến tới xây dựng hệ sinh thái, không chỉ có ngân hàng cung cấp giải pháp thanh toán mà ngân hàng cùng nhà cung cấp dịch vụ, hệ thống DN và các tổ chức cùng hợp tác để cung cấp dịch vụ ngân hàng tốt nhất cho người dân và phát triển dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt. Sự liên kết giữa ngân hàng và các DN công nghệ, viễn thông đang bắt đầu bằng việc xây dựng ngân hàng số tích hợp cả hệ thống ví, thẻ vào một.

Tại Việt Nam, hiện chỉ có 30% dân số có tài khoản ngân hàng, trong đó 85% là giao dịch rút tiền mặt. Vì thế, bà Phùng Nguyễn Hải Yến, Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng Vietcombank cho hay, khó khăn lớn nhất hiện nay đối với các ngân hàng là việc người dân tiếp cận dịch vụ thông tin tài chính rất hạn chế, thói quen dùng tiền mặt diễn ra thường xuyên. Nhưng đây cũng là cơ hội để các ngân hàng mở rộng dịch vụ phát triển tới tất cả người dân, tất cả các vùng từ thành thị đến nông thôn. Chính vì thế, bà Yến nhận định, việc hợp tác giữa ngân hàng và các DN viễn thông sẽ trở thành xu thế trong thời gian tới. Hiện Vietcombank cũng đã mở rộng và hợp tác, liên kết, song hành cùng các công ty viễn thông cung cấp dịch vụ tài chính tốt nhất, bao gồm từ những dịch vụ thanh toán đơn giản như thanh toán tiền điện, tiền nước… hay phức tạp hơn như đầu tư tài chính cho khách hàng.

Cũng là sự hợp tác để chuyển đổi số trong ngành ngân hàng, mới đây, SunTec - công ty hàng đầu về quản trị doanh thu đã triển khai thành công Customer Centricity System (hệ thống khách hàng trung tâm - CCS) cho Ngân hàng TMCP Hàng hải (MSB). Theo MSB, hệ thống CCS có thể tự động phân khúc khách hàng cá nhân của ngân hàng dựa trên các thông số tài chính, giao dịch của họ. Qua đó, MSB sẽ đưa ra các sản phẩm, dịch vụ chuyên biệt tùy chỉnh theo nhu cầu của từng nhóm khách hàng mục tiêu phù hợp với từng mốc thời gian thực tế. Khả năng định giá của hệ thống cũng là một chức năng quan trọng gia tăng hiệu quả hoạt động của ngân hàng trong việc xác định chi phí nhanh chóng cho từng nhóm khách hàng. Ông Huỳnh Bửu Quang, Tổng giám đốc MSB chia sẻ, việc tự động hoá các quy trình và dịch vụ khách hàng đã mang đến cho ngân hàng sự linh hoạt cần thiết trong việc cung cấp đa dạng sản phẩm dịch vụ - yếu tố khiến MSB có lợi thế hơn các ngân hàng khác.

Có thể thấy, các ngân hàng đều đang nỗ lực, nhằm tăng cường khả năng đổi mới kỹ thuật số, đưa công tác quản trị quan hệ với khách hàng, cung cấp dịch vụ khách hàng lên một tầm cao mới. Điều này sẽ góp phần tạo cho hệ thống các tổ chức tín dụng sự phát triển bền vững, lành mạnh với khả năng chống chịu cao hơn trước những tác động bên ngoài.

>>>Xem thêm  Quá lệ thuộc vào nguồn vốn ngân hàng, doanh nghiệp dễ gặp rủi ro90% giao dịch nghi ngờ rửa tiền liên quan đến ngân hàng<<<

DUY THÁI

Phải đăng ký bảo hộ sở hữu trí tuệ ngay khi khởi nghiệp

Phải đăng ký bảo hộ sở hữu trí tuệ ngay khi khởi nghiệp

Việc đăng ký sở hữu trí tuệ là nền tảng để các doanh nghiệp khởi nghiệp có thể phát triển bền vững, kêu gọi được vốn đầu tư tư xã hội và ngăn chặn việc bị cạnh tranh không lành mạnh trong tương lai.

>>>Xem thêm  THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<< 

Trung tâm Ươm tạo Doanh nghiệp Nông nghiệp Công nghệ cao phối hợp với Trung tâm Ứng dụng và Dịch vụ Khoa học và Công nghệ thuộc Cục công tác phía Nam – Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức hội thảo “Nhận diện tài sản vô hình và tài sản trí tuệ trong doanh nghiệp khởi nghiệp”.

Theo các chuyên gia, các doanh nghiệp khởi nghiệp tại Việt nam đang phát triển ngày một mạnh mẽ. Song có một thực trạng chung là các nhóm khởi nghiệp chỉ tập trung vào hình thành doanh nghiệp, kêu gọi vốn đầu tư mà chưa thực sự quan tâm đến việc đăng ký quyền bảo vệ sở hữu trí tuệ hoặc ngại đăng ký vì nhiều lý do. Đôi khi điều này xuất phát từ sự thiếu hiểu biết về kiến thức bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của các doanh nghiệp. Vì vậy, các doanh nghiệp khởi nghiệp thường không nắm được tầm quan trọng của quyền sở hữu trí tuệ và vẫn còn thờ ơ với vấn đề này.

Trên thực tế, tài sản của một doanh nghiệp nói chung được chia thành 2 loại: tài sản hữu hình gồm máy móc, nhà xưởng, cơ sở hạ tầng… và tài sản vô hình gồm các bí quyết kỹ thuật, ý tưởng, chiến lược, kế hoạch kinh doanh, thương hiệu, kiểu dáng và các kết quả vô hình khác được tạo ra bởi các tài năng sáng tạo và đổi mới của công ty.

Nếu trước kia tài sản hữu hình là tài sản có giá trị chính của một công ty và được coi là có tính quyết định trong việc xác định khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp trên thị trường thì trong những năm gần đây điều này đã thay đổi cơ bản. Các doanh nghiệp đang nhận ra rằng tài sản vô hình đang trở nên có giá trị hơn so với tài sản hữu hình. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng tài sản hữu hình chiếm ¼ tổng giá trị tài sản doanh nghiệp. Điều đó có nghĩa là tài sản vô hình hay giá trị thương hiệu chiếm ¼ tổng giá trị tài sản doanh nghiệp. Do vậy, có thể thấy tài sản trí tuệ đóng vai trò quan trọng đối với doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp khởi nghiệp.

Do đó, TS Nguyễn Hải An, Giám đốc Trung tâm Ươm tạo doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao lưu ý các doanh nghiệp khởi nghiệp cần đăng ký bảo hộ, đặc biệt là các sáng chế, bí quyết, biểu trưng, nhãn hiệu, biểu tượng, thiết kế nhằm mục đích thiết lập quyền sở hữu, ngăn chặn doanh nghiệp khác hoặc đối thủ đăng ký trước và cạnh tranh không lành mạnh trong tương lai. Bằng cách này, các doanh nghiệp khởi nghiệp mới có thể phát triển bền vững và kêu gọi được vốn đầu tư tư xã hội.

Tuy nhiên, theo ông Phạm Xuân Đà, Cục trưởng Cục Công tác phía Nam – Bộ Khoa học và Công nghệ, thủ tục đăng ký sở hữu trí tuệ hiện rất rối rắm, phức tạp, tốn kém và phải chờ đợi lâu. Điều này làm nản lòng không ít doanh nghiệp dù rất muốn đăng ký sở hữu trí tuệ. Hiện nhiều nước trên thế giới có riêng một bộ phận đồng hành cùng doanh nghiệp trong công tác đăng ký sở hữu trí tuệ. Đặc biệt, các doanh nghiệp sáng tạo luôn đồng hành cùng luật sư về sở hữu trí tuệ chuyên ngành để có những tư vấn, hỗ trợ phù hợp.

Thời gian qua, tại Việt Nam cũng đã có nhiều chương trình đào tạo về sở hữu trí tuệ, như dự án nâng cao nhận thức về đổi mới sáng tạo và sở hữu trí tuệ trong cộng đồng sinh viên và doanh nghiệp khởi nghiệp của Bộ Khoa học Công nghệ. Trung tâm Ươm tạo doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao cũng đã thực hiện nhiều hoạt động thiết thực như đào tạo, tập huấn, hội thảo, hội nghị nhằm hỗ trợ nâng cao khả năng nhận diện và lựa chọn cơ chế bảo hộ tài sản trí tuệ phù hợp cho các doanh nghiệp ươm tạo tại Khu nông nghiệp công nghệ cao TPHCM.

Theo đó, các chuyên gia khuyến nghị các doanh nghiệp cần chủ động tham gia các khóa đào tạo để có kiến thức, nâng cao khả năng nhận diện các đối tượng sở hữu trí tuệ trong doanh nghiệp của mình để có thể lựa chọn cơ chế bảo hộ tài sản trí tuệ phù hợp.

>>>Xem thêm  Thủ tục ghi nhận Người đại diện sở hữu công nghiệpChính phủ trình sửa hai Luật kinh doanh bảo hiểm và Sở hữu trí tuệ<<<

DUY THÁI

ASEAN+3 trước thách thức 4.0

ASEAN+3 trước thách thức 4.0

Khu vực ASEAN+ 3 (Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc) vẫn phải đối mặt với những thách thức cơ cấu trung và dài hạn như sự suy giảm năng suất và mức đầu tư thấp do hậu quả chưa phục hồi từ cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997. Giải quyết những vấn đề này sẽ ảnh hưởng đến tăng trưởng và thịnh vượng.

>>>Xem thêm  THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<< 

Báo Bangkok Post trích dẫn lời TS Junhong Chang, Giám đốc Văn phòng nghiên cứu kinh tế vĩ mô ASEAN+3 (AMRO): “Như nhiều người trong chúng ta biết, tăng trưởng của khu vực ASEAN + 3 ấn tượng trong vài thập niên qua nhưng có sự suy giảm rõ rệt về tổng năng suất ở hầu hết các quốc gia trong khu vực”.

Trong khi năng suất chiếm 1,5% mức tăng trưởng trung bình hàng năm của khu vực là 7% trong giai đoạn 2002-2007, bà Junhong Chang cho biết đóng góp của năng suất đã giảm mạnh từ giai đoạn 2011-2017. Xu hướng này phải được giải quyết khẩn cấp tại thời điểm cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Cách mạng 4.0) và nền kinh tế mới đang thay đổi nhiều thứ.
Sự suy giảm năng suất là một cảnh báo cho thấy năng lực sản xuất cho xuất khẩu, vốn thúc đẩy sự thịnh vượng trong nhiều thập niên, không còn là một chiến lược tăng trưởng đầy đủ hoặc bền vững. Việc chuyển đổi sang các dịch vụ là không thể tránh khỏi, nhưng những tiến bộ về công nghệ sẽ đóng vai trò quan trọng trong lĩnh vực dịch vụ.

Khu vực ASEAN + 3 tăng trưởng nhanh chóng về tỷ trọng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) so với GDP toàn cầu, từ 17,9% tương đương 5.600 tỷ USD năm 1998, lên 23,8% (19.800 tỷ USD) vào năm 2018. Con số này được dự báo sẽ đạt 29% (40.000 tỷ USD) vào năm 2035. Vào năm 2035, AMRO dự báo GDP của ASEAN sẽ đạt 7.800 tỷ USD, tương đương 5,7% GDP toàn cầu, so với 3.000 tỷ USD tương đương 3,6% GDP toàn cầu hiện nay.

Theo các nhà kinh tế tại AMRO, nền kinh tế trong tương lai sẽ rất khác khi công nghệ mới chuyển đổi nhiều loại hình sản xuất và dịch vụ. Lĩnh vực sản xuất sẽ tiếp tục thu hẹp trong khi các dịch vụ trở thành động lực chính của nền kinh tế. TS Hoe Ee Khor, nhà kinh tế trưởng của AMRO, xác định 2 động lực tăng trưởng chính cho nền kinh tế mới.

Đầu tiên là công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo, tự động hóa, 5G và Internet vạn vật (IoT). Thứ hai là nhân khẩu học liên quan đến dân số và tầng lớp trung lưu mở rộng thúc đẩy quá trình đô thị hóa nhanh chóng nên nhu cầu đối với hàng hóa và dịch vụ tinh vi hơn.

Đáng lo ngại là việc thiếu hụt lực lượng lao động có kỹ năng, vì vậy khu vực rất cần phải tăng cường các chương trình đào tạo cho công nhân và cải tổ khung pháp lý để phù hợp với công nghệ mới.

Vì công nghệ mới, về bản chất, được xây dựng cho một nền kinh tế với các kỹ năng hoạt động tốt hơn trong bối cảnh xuyên biên giới, nhiều khuôn khổ truyền thống cần phải được cải cách để phù hợp hơn với thời đại. TS Hoe Ee Khor cho biết các quốc gia ASEAN + 3 nên khuyến khích đầu tư nhiều hơn vào công nghệ mới.

Việc phát triển liên tục cả cơ sở hạ tầng cứng và mềm cũng là điều cần thiết để tăng cường vốn nhân lực và kết nối ASEAN cũng như ASEAN+3. Xây dựng cơ sở hạ tầng và phải cân đối ngân sách là bài toán hóc búa, dễ rơi vào vòng lẩn quẩn vì nếu không đầu tư cơ sở hạ tầng đúng mức sẽ không bắt kịp thành quả của Cách mạng 4.0.

Bộ Giao thông ‘xin’ 2.200 tỷ đồng để xử lý 69 dự án nợ đọng

Bộ Giao thông ‘xin’ 2.200 tỷ đồng để xử lý 69 dự án nợ đọng

Tiếp tục chương trình chất vấn, từ 9h sáng 5/6, Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải (GTVT) Nguyễn Văn Thể đăng đàn trả lời chất vấn của Quốc hội những vấn đề liên quan đến lĩnh vực GTVT. Nhiều vấn đề “nóng” được đại biểu đặt câu hỏi, trong đó có việc các dự án chậm tiến độ, đội vốn.

>>>Xem thêm  THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<< 

Đại biểu đề nghị cần kiểm tra, xử lý trách nhiệm cá nhân ở các dự án đội vốn

Vấn đề các dự án ngành giao thông chậm tiến độ, đội vốn được nhiều đại biểu quan tâm đặt câu hỏi chất vấn cũng như tranh luận thêm.

Đại biểu Bạch Thị Hương Thủy (Hòa Bình) đề nghị Bộ trưởng Nguyễn Văn Thể cho biết giải pháp khắc phục trình trạng công trình trọng điểm đội vốn lớn, chậm tiến độ; cụ thể là có tới 69 dự án nợ đọng được nêu trong báo cáo của Bộ GTVT.

Trả lời vấn đề này, Bộ trưởng Nguyễn Văn Thể cho biết, Bộ GTVT đã báo cáo Quốc hội, Chính phủ trong kỳ phân bổ nguồn vốn dự phòng 10%, đồng thời, đề nghị bố trí vốn cho 69 dự án rải rác ở các địa phương khoảng 2.200 tỷ đồng.

“Chúng tôi mong Quốc hội ủng hộ, vì đây là những dự án hoàn thành trước 2015, khi Luật Đầu tư công chưa có hiệu lực. Hiện dự án đã hoàn thành, mong Quốc hội ủng hộ. Từ nay về sau không còn dự án như vậy nữa mà chỉ còn dự án đầu tư theo hình thức BT” - Bộ trưởng Thể nói.

Cũng liên quan tới các dự án chậm tiến độ, đội vốn, Đại biểu Nguyễn Hữu Cầu (Nghệ An) cũng chất vấn: “Các dự án giao thông chậm và đội vốn nhiều, vậy khi xử lý thì có đi kèm trách nhiệm đi cá nhân, tổ chức liên quan?”.

Trả lời vấn đề này, Bộ trưởng Bộ GTVT cho biết, vừa qua, Bộ GTVT đã sử dụng thanh tra bộ, cùng với các các đơn vị liên quan như Thanh tra Chính phủ, Kiểm toán Nhà nước và kể các cơ quan điều tra của Bộ Công an đang tiến hành xử lý tại các dự án chậm tiến độ. Những dự án chậm tiến độ do khách quan như giải phóng mặt bằng, bố trí vốn chưa kịp thời,... sẽ kiểm điểm, rút kinh nghiệm.

Còn đối với các dự án chậm vì lý do chủ quan sẽ làm rõ đối với trách nhiệm của các đơn vị liên quan như chủ đầu tư, ban quản lý dự án và xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật, kể cả chuyển hồ sơ sang cơ quan công an.

Bộ trưởng Thể cho biết thêm, đối với các dự án đội vốn thì đa số rơi vào các dự án đường sắt đô thị. Đây là các dự án có công nghệ mới và chủ yếu được phê duyệt trước năm 2008. Những năm 2008 – 2009 là giai đoạn khủng khoảng kinh tế, như năm 2009 trượt giá tới 20% và thống kê từ 2009 đến 2013 trượt giá tới 49%. Như vậy, việc đội vốn là do có yếu tố trượt giá, yếu tố công nghệ mới, thay đổi quy mô, chủ trương đầu tư.

Tuy nhiên, “chúng tôi cùng với các cơ quan chức năng, đặc biệt là các cơ quan điều tra cũng sẽ vào cuộc kiểm tra tất cả các dự án đội vốn. Những tổ chức, cá nhân nào vi phạm chắc chắn sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật. Chúng tôi ủng hộ chủ trương này và các ban quản lý dự án, các chủ đầu tư cũng nắm được tinh thần sẽ thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật, nhất là vấn đề sử dụng vốn của nhà nước. Về trách nhiệm của bộ, tại các dự án đội vốn đã có sự điều chuyển cán bộ, cũng như xem xếp loại cán bộ tại các dự án có vấn đề được dư luận quan tâm” - Bộ trưởng nói.

Tuy nhiên, đại biểu Nguyễn Hữu Cầu tranh luận, hiện nay các dự án đội vốn không phải chỉ có các dự án đường sắt đội, mà có nhiều dự án khác cũng đội vốn. Đồng thời, đại biểu Cầu đề nghị Bộ trưởng kiểm tra lại các dự án đội vốn và xử lý nghiêm trách nhiệm của các cá nhân, tổ chức liên quan.

Kiểm toán Nhà nước có được kiểm toán dự BOT?

Chất vấn Bộ trưởng Bộ GTVT, Đại biểu Bùi Văn Phương (Ninh Bình) hỏi: Sau kiểm toán 61 dự án BOT giao thông, Kiểm toán Nhà nước (KTNN) giảm 222 năm thu phí. Trước đó, nhiều lập luận cho rằng, KTNN không được kiểm toán các dự án BOT giao thông, vì đây là các dự án của nhà đầu tư tư nhân. Xin hỏi Bộ trưởng, vì sao bộ không muốn kiểm toán các dự án BOT giao thông, nếu KTNN không kiên quyết thì dân có phải trả tiền oan cho 222 năm của 61 dự án này không và có lợi ích nhóm ở đây hay không?

Trả lời chất vấn của đại biểu Phương, Bộ trưởng Nguyễn Văn Thể cho biết: “Chúng tôi trân trọng sự hỗ trợ của KTNN. Ngay từ khi triển khai dự án BOT, Bộ GTVT đã mời kiểm toán, chủ doanh nghiệp BOT cũng trực tiếp mời kiểm toán vào cuộc, thậm chí mời cả cơ quan công an, chứ không phải như thông tin nói rằng Bộ GTVT không đồng ý kiểm toán dự án BOT”.

Bộ trưởng Nguyễn Văn Thể cho biết thêm, gần như 100% dự án BOT đều được kiểm toán. Số liệu hơn 200 năm phải trả phí mà đại biểu phản ánh, trong kỳ họp trước đã trả lời. Theo quy định của pháp luật, khi dự án được phê duyệt, Bộ sẽ ký hợp đồng nguyên tắc với nhà đầu tư. Nhà đầu tư triển khai xong, mới tiến hành quyết toán.

“Căn cứ vào quyết toán thực tế, chúng ta điều chỉnh lại hợp đồng. Hợp đồng cuối cùng mới cho thu phí. Nếu kiểm toán căn cứ vào dự án khi mới được phê duyệt sẽ không đúng thực tế. Chúng tôi đã giải trình một lần rồi. Số liệu hơn 200 năm là đúng nhưng chỉ đúng với dự án được duyệt. Số liệu thực tế quyết toán, thời gian thu phí đã giảm rất nhiều so với hợp đồng nguyên tắc ban đầu”, Bộ trưởng nói.

Tuy nhiên, tranh luận với câu trả lời của Bộ trưởng Thể, Đại biểu Bùi Văn Phương cho rằng, không phải các dự án BOT đều mời kiểm toán từ đầu, mà chỉ có 3 dự án mời kiểm toán vào từ đầu.

Bộ trưởng Thể chia sẻ thêm: “Đối với các dự án BOT, khi làm dự án, chúng tôi làm đều cho chỉ đạo các nhà đầu tư mời KTNN vào từ đầu. Đây là chỉ đạo của Bộ chứ không phải thực tiến là các chủ đầu tư đều mời kiểm toán. Tuy nhiên, sau này khi triển khai nếu có vấn đề sẽ kết hợp để làm rõ hơn nữa”./.

>>>Xem thêm  Infographic: Những phát ngôn làm 'nóng' nghị trường Quốc hội tuần qua<<<

DUY THÁI

Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng: Điều chỉnh quy hoạch ở các đô thị còn tùy tiện

Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng: Điều chỉnh quy hoạch ở các đô thị còn tùy tiện

Phát biểu tại Quốc hội (QH) sáng 5/6, Phó Thủ tướng Chính phủ Trịnh Đình Dũng khẳng định, thời gian tới sẽ kiểm soát chặt chẽ việc xây dựng các nhà cao tầng, bởi hiện nay quy hoạch đô thị còn tùy tiện, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống người dân.

>>>Xem thêm  THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<< 

Tại phiên chất vấn Bộ trưởng Xây dựng Phạm Hồng Hà, một số đại biểu QH (ĐBQH) đã gửi câu hỏi trực tiếp tới Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng. Sáng nay, Phó Thủ tướng đã đăng đàn làm rõ nhiều vấn đề ĐB quan tâm.

Điều chỉnh quy hoạch chạy theo nhà đầu tư

Liên quan đến lĩnh vực xây dựng, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng cho biết, tình trạng điều chỉnh quy hoạch ở các đô thị hiện nay còn tùy tiện. Theo ông, điều chỉnh quy hoạch là do những yêu cầu khách quan và chủ quan của các chủ thể liên quan. Điều chỉnh quy hoạch “do Nhà nước yêu cầu, do người dân yêu cầu, do nhà đầu tư yêu cầu”. Tuy nhiên, dư luận xã hội, cử tri và ĐBQH đang rất bức xúc về tình trạng điều chỉnh quy hoạch chạy theo nhà đầu tư, điều chỉnh tùy tiện.

Theo Phó Thủ tướng, việc nâng tầng cao, mật độ xây dựng làm gia tăng dân số, giảm không gian công cộng… gây quá tải lên hệ thống hạ tầng. Từ đó, ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống của người dân, gây bức xúc trong dư luận.

Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng đã đưa ra các giải pháp khắc phục. Theo đó, Phó Thủ tướng yêu cầu các địa phương thanh tra, kiểm tra rà soát các quy hoạch điều chỉnh, xem xét xử lý nghiêm những quy hoạch điều chỉnh tùy tiện, không đáp ứng yêu cầu về quy chuẩn, tiêu chuẩn quy hoạch và không đảm bảo theo đúng quy định pháp luật. Đồng thời, cho dừng thực hiện với các quy hoạch điều chỉnh vi phạm quy chuẩn, tiêu chuẩn đang thực hiện hoặc chưa thực hiện. Ngoài ra, có giải pháp đầu tư hạ tầng để đáp ứng yêu cầu gia tăng dân số. Xử lý nghiêm các cán bộ vi phạm.

Bên cạnh đó, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng cũng đề nghị kiểm soát chặt chẽ việc xây dựng nhà cao tầng. Bởi hiện nay xu hướng tập trung hóa đô thị đang tăng rất nhanh, trong đó, người dân dịch chuyển về đô thị lớn để tìm kiếm việc làm. Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh mỗi năm dân số tăng cơ học trên 2%. Tại 2 đô thị này mỗi năm tăng 200.000 người. Với tốc độ gia tăng dân số nhanh, việc đầu tư hạ tầng, đặc biệt là giao thông không theo kịp. Từ đó, gây ùn tắc giao thông, ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đất chất lượng cuộc sống của người dân.

Phó Thủ tướng lại nhắc đến việc cần phải kiểm soát chặt chẽ việc xây dựng nhà cao tầng, từ đó có kế hoạch xây dựng đô thị vệ tinh, với kết cấu hạ tầng chất lượng, đồng bộ, hiện đại để hấp dẫn người dân. “Vừa qua, Thủ tướng đã yêu cầu UBND TP. Hà Nội nghiên cứu điều chỉnh quy hoạch phía bắc sông Hồng làm đối trọng thu hút người dân ở nội đô. Ngoài ra, cần bố trí nguồn lực để chuyển các cơ sở sản xuất ô nhiễm, các cơ quan đông người ra khỏi nội đô. Đây là vấn đề rất khó, cần nguồn lực lớn” - Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng nói.

Về dài hạn, Phó Thủ tướng yêu cầu phải xây dựng chiến lược đô thị quốc gia, từng bước xây dựng đô thị vùng gắn với phát triển khu công nghiệp, cụm công nghiệp để tạo nhiều việc làm, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân. Đó cũng là giải pháp giữ chân người dân ở lại quê hương.

Phải xử lý dứt điểm nhà 8B Lê Trực

Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng đã làm rõ thêm việc xử lý vi phạm trật tự xây dựng tại dự án số 8B Lê Trực – đây là vấn đề được nhiều ĐBQH chất vấn Bộ trưởng Bộ Xây dựng và phần giải đáp của Bộ trưởng chưa thực sự làm hài lòng một số ĐB.

Phó Thủ tướng cho biết, Bộ trưởng Phạm Hồng Hà đã trả lời rõ, Thủ tướng cũng đã có chỉ đạo về vấn đề này. Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ Xây dựng phối hợp với TP. Hà Nội có biện pháp xử lý dứt điểm, đảm bảo an toàn đối với dự án số 8B Lê Trực.

Phó Thủ tướng cũng đề nghị Bộ Xây dựng, TP. Hà Nội và các cơ quan liên quan xử lý vi phạm tại Khu HH Linh Đàm theo đúng quy định, như ý kiến đại biểu Nguyễn Thanh Hồng (Bình Dương) nêu.

Theo Phó Thủ tướng, việc xử lý vi phạm trật tự xây dựng tòa nhà 8B Lê Trực, Khu HH Linh Đàm thuộc trách nhiệm của TP. Hà Nội.  “Nhiều lần Thủ tướng đã yêu cầu TP. Hà Nội xử lý nghiêm sai phạm của công trình này. Hà Nội cũng đã tập trung xử lý, tuy nhiên, đến nay vẫn chưa xong” - Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng nói.

Trong quá trình xử lý công trình, Bộ Xây dựng cùng các cơ quan liên quan đã phối hợp với TP. Hà Nội để xử lý dứt điểm những sai phạm, bảo đảm tuyệt đối an toàn cho người dân và không gian kiến trúc cảnh quan khu vực.

Bên cạnh đó, Phó Thủ tướng cũng đề nghị, TP. Hà Nội phối hợp với Bộ Xây dựng và các cơ quan liên quan kiểm tra xử lý việc vi phạm tại Khu nhà ở HH Linh Đàm theo đúng quy định pháp luật, đảm bảo quyền lợi của cư dân trong khu nhà này.

Tại phiên chất vấn chiều 4/6, ĐB Nguyễn Thanh Hồng (Bình Dương) và một số ĐB đã chất vấn về vấn đề này. ĐB Nguyễn Thanh Hồng đề nghị Bộ trưởng Bộ Xây dựng có cam kết trách nhiệm trong phối hợp với TP. Hà Nội để xử lý dứt điểm sai phạm tại toà nhà 8B Lê Trực và Khu HH Linh Đàm.

Tuy nhiên, sau phần trả lời của Bộ trưởng Bộ Xây dựng Phạm Hồng Hà, ĐB chưa hài lòng và tiếp tục giơ biển tranh luận. ĐB Nguyễn Thanh Hồng cho rằng, nếu Bộ trưởng nói “nếu Hà Nội yêu cầu thì Bộ Xây dựng phối hợp”, là không đúng với vị trí của một bộ quản lý nhà nước./.

>>>Xem thêm  Bộ Giao thông ‘xin’ 2.200 tỷ đồng để xử lý 69 dự án nợ đọng<<<

DUY THÁI

Cần phải tránh tái diễn tình trạng đầu tư dở dang, dàn trải

Cần phải tránh tái diễn tình trạng đầu tư dở dang, dàn trải

Qua nhiều phiên thẩm tra của Ủy ban Tài chính ngân sách (UBTCNS), 3 phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH), sáng 3/6, nội dung về phân bổ, sử dụng nguồn vốn dự phòng của Kế hoạch đầu tư công trung hạn (KHĐTCTH) giai đoạn 2016 - 2020 vẫn là chủ đề được ĐBQH thảo luận sôi nổi.

Chỉ phân bổ dự án khi đảm bảo được nguồn

Theo đại biểu Hoàng Quang Hàm (Phú Thọ), cách đây 6 tháng, Quốc hội đã thảo luận và khẳng định Chính phủ không thuyết minh được nguồn để sử dụng dự phòng, nên nếu đồng ý cho chia phần vốn dự phòng sẽ thiếu khoảng 155 nghìn tỷ đồng trái với quy định của Luật Đầu tư công và làm cho các dự án đang triển khai đã thiếu tiền càng thiếu tiền thêm. Các dự án mới cũng không có nhiều tiền để thực hiện.

Vì vậy, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết 71 về điều chỉnh Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016 - 2020 và đề ra nguyên tắc “sử dụng dự phòng chung trên cơ sở bảo đảm khả năng cân đối vốn đầu tư của ngân sách nhà nước hàng năm”; đồng thời cũng giao cho Chính phủ chuẩn bị lại, báo cáo UBTVQH xem xét, quyết định.

>>>Xem thêm  THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<< 

Để có thể sử dụng dự phòng chung theo đúng nguyên tắc của Nghị quyết 71 và Luật Đầu tư công, đại biểu Hoàng Quang Hàm cho rằng, chỉ có hai cách, hoặc phải tìm nguồn khả thi để bổ sung tiền, hoặc rà soát cắt giảm mức vốn trung hạn đã giao cho các dự án để tạo nguồn triển khai các dự án dự kiến sử dụng dự phòng chung.

Tuy nhiên đến nay, ngoài phương án phân bổ thì chưa có thêm thuyết minh bổ sung nguồn hay phương án cắt giảm điều chỉnh các dự án để tạo nguồn triển khai các dự án dự kiến sử dụng dự phòng. Nếu phân bổ dự phòng thì mức vốn trung hạn giao cho các bộ, ngành, địa phương của năm 2020 sẽ là 372 nghìn tỷ đồng, trong khi đó nguồn thu của năm 2020 phấn đấu đạt khoảng 217 nghìn tỷ đồng.

“Nếu quyết tâm thực hiện theo phương án phân bổ này thì hệ quả sẽ là đầu tư dàn trải, tạo cơ chế xin cho và xin cho là chắc chắn khi cam kết chi vượt khả năng thu xếp tiền” - đại biểu Hoàng Quang Hàm nhấn mạnh. Hơn nữa, hầu hết các dự án mới không đủ điều kiện để đưa vào kế hoạch; nhiều dự án chưa đáp ứng nguyên tắc, tiêu chí, thứ tự ưu tiên theo Nghị quyết 26, Nghị quyết 71…

Bên cạnh đó, đại biểu cũng nêu rõ nguồn dự phòng ngân sách hàng năm là để khắc phục thiên tai, thực hiện các nhiệm vụ cấp bách chưa được dự toán; tăng thu, tiết kiệm chi… với thứ tự ưu tiên đã quy định tại Luật Ngân sách nhà nước là giảm bội chi, tăng chi trả nợ, bổ sung quỹ dự trữ tài chính…

Tạo áp lực lớn cho kế hoạch đầu tư giai đoạn sau

Còn theo đại biểu Nguyễn Trường Giang (Đắk Nông), việc bổ sung khoảng gần 400 dự án mới từ nguồn dự phòng chung của KHĐTCTH giai đoạn 2016 – 2020 theo phương án được trình chưa đáp ứng yêu cầu của Luật Đầu tư công. Bởi, phần lớn các dự án chưa có quyết định chủ trương đầu tư của cấp có thẩm quyền, nên chưa thể làm rõ về sự cần thiết, mức độ khả thi và hiệu quả của dự án cũng như chưa biết về thời gian, tiến độ thực hiện dự án. Đồng thời, phương án được trình cũng chưa xác định rõ nguồn vốn và khả năng cân đối vốn để thực hiện dự án.

Theo tờ trình, sẽ bổ sung thêm nguồn vốn ưu tiên chi cho đầu tư từ các nguồn dự phòng ngân sách trung ương hàng năm, tăng thu, tiết kiệm chi (nếu có)… để thực hiện. Trường hợp không bù đắp được sẽ tiếp tục cân đối bằng kế hoạch đầu tư vốn ngân sách trung ương hàng năm của KHĐTCTH giai đoạn 2021 – 2025.

Đại biểu Nguyễn Trường Giang cho rằng, phương án này không khả thi và trường hợp nếu có vốn để bố trí thì cũng chỉ được một phần nhỏ để thực hiện dự án, không đủ để hoàn thành trong giai đoạn này.

“Gần như chắc chắn các dự án sẽ phải chuyển sang kế hoạch giai đoạn sau. Điều này tạo áp lực cho KHĐTCTH giai đoạn sau, khó bảo đảm bố trí đủ vốn để hoàn thành dự án theo tiến độ đầu tư đã được phê duyệt” - đại biểu Nguyễn Trường Giang nói.

Do đó, đại biểu đề nghị chưa bổ sung các dự án mới từ nguồn dự phòng chung, trừ các dự án thực sự cần thiết, bất khả kháng, cấp bách theo đúng quy định tại khoản 6 Nghị quyết 26.

Đồng tình với các phân tích của đại biểu Hoàng Quang Hàm và Nguyễn Trường Giang, đại biểu Trần Văn Lâm (Bắc Giang) nêu rõ nguyên tắc trong quản lý ngân sách là nếu không đảm bảo về nguồn thì phải giảm chi. Nếu cứ bổ sung dự án khi không có nguồn thì sẽ dẫn đến dàn trải, kém hiệu quả trong đầu tư công.

Tuy nhiên, do thời gian còn lại của KHĐTCTH giai đoạn này đã gấp (còn 1,5 năm), đại biểu đề nghị Quốc hội cho phép Chính phủ tiếp tục đánh giá khả năng cân đối nguồn để có nguồn đến đâu thì chuẩn bị dự án đến đó, sau đó báo cáo UBTVQH quyết định. UBTVQH sẽ báo cáo lại Quốc hội tại kỳ họp gần nhất để đảm bảo kịp thời, cũng như đảm bảo phù hợp các quy định của luật pháp hiện hành, tránh lãng phí nếu trong trường hợp có nguồn bố trí được.

Ngoài ra, trên cơ sở xử lý tình huống này, đại biểu Trần Văn Lâm cũng đề nghị Quốc hội cần cụ thể hóa vào Luật Đầu tư công đang nghiên cứu sửa đổi việc xử lý phân bổ dự phòng trong các kỳ ngân sách tới cho thuận lợi, hiệu quả chặt chẽ trong các lần sau./.

>>>Xem thêm Tọa đàm tháo gỡ khó khăn, đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công<<<

Chưa quyết định thẩm quyền xem xét, quyết định danh mục dự án KHĐTCTH

Liên quan đến thẩm quyền xem xét, quyết định danh mục dự án KHĐTCTH, UBTVQH xin ý kiến đại biểu Quốc hội theo 2 phương án:

Phương án 1: UBTVQH và đa số đại biểu Quốc hội đề nghị quy định Quốc hội quyết định Kế hoạch ĐTCTH bao gồm tổng mức đầu tư, tiêu chí, danh mục và mức vốn bố trí cho từng dự án chi đầu tư từ ngân sách trung ương theo đúng tinh thần của Hiến pháp.

Phương án 2: Chính phủ và một số đại biểu đề nghị quy định Quốc hội quyết định tổng mức, giao Chính phủ quyết định, điều chỉnh danh mục dự án theo KHĐTCTH được Quốc hội thông qua, vì quy định Quốc hội quyết định danh mục dự án và mức vốn bố trí cho từng dự án sẽ dẫn tới mất nhiều thời gian, phát sinh nhiều thủ tục hành chính. Mặt khác, danh mục dự án cần qua nhiều bước để xác định thông tin nên cần có thời gian, nếu có thay đổi sẽ phải thực hiện các thủ tục báo cáo Quốc hội tại kỳ họp; tính linh hoạt trong điều hành KHĐTCTH sẽ hạn chế. Vì vậy, để tăng cường phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính đề nghị giao Chính phủ thẩm quyền quyết định danh mục dự án, bảo đảm linh hoạt, sát thực tế trong điều hành KHĐTCTH.

Biểu quyết bằng hệ thống điện tử đối với phương án 1, đã có 234/424 đại biểu Quốc hội tham gia biểu quyết tán thành (chiếm 48,35%) và có 174/424 đại biểu Quốc hội tham gia biểu quyết không tán thành với quy định này (chiếm 35,95%).

Với phương án 2, đã có 206/423 đại biểu Quốc hội tham gia biểu quyết tán thành (chiếm 42,56%) và có 204/424 đại biểu Quốc hội tham gia biểu quyết không tán thành với quy định này (chiếm 42,15%).

Như vậy, kết quả biểu quyết cho thấy cả 2 phương án đều chưa được quá 50% tổng số đại biểu Quốc hội tán thành./.

D.T

83% kế hoạch đầu tư công để giải quyết tồn tại của các nhiệm kỳ trước

83% kế hoạch đầu tư công để giải quyết tồn tại của các nhiệm kỳ trước

Sau một số vòng thảo luận, xin ý kiến các đại biểu Quốc hội, ngày 3/6, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng đã chính thức giải trình một số vấn đề về việc phân bổ nguồn vốn dự phòng trong kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016 – 2020.

>>>Xem thêm  THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<< 

Trong phần giải trình, Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng nêu rõ: Trước đây, năm nào quyết định năm đó thì trong giai đoạn này quyết định theo là 5 năm tức là xác định trong đầu tư của cả 5 năm và làm rõ tất cả các mục tiêu và danh mục dự án của cả 5 năm và theo đó cũng đã phân bổ hết số vốn dự kiến đầu tư cho 5 năm. Bây giờ chỉ còn đúng nguồn dự phòng mà chúng ta đang bàn ở đây.

Trong khi đó, các địa phương, các bộ, ngành hiện nay đang có rất nhiều vấn đề bức xúc đặt ra, kể cả từ giao thông cho đến hạ tầng xã hội, ứng phó với biến đổi khí hậu, cho đến các cơ sở tư pháp, các thanh toán nợ đọng xây dựng rồi cho đến cả vấn đề ô nhiễm môi trường... Vấn đề bức xúc đang đặt ra hiện nay là phải giải quyết thế nào để đảm bảo được kế hoạch đó, đảm bảo được các cân đối và lại có thể giải quyết được một phần khi phát sinh trong cuộc sống của các địa phương, bộ, ngành để đảm bảo cho yêu cầu, mục tiêu phát triển của các vùng, các địa phương.

Theo Bộ trưởng, trong giai đoạn vừa qua các đại biểu hết sức chú ý vấn đề kế hoạch đầu tư công trung hạn tập trung chủ yếu vào giải quyết các vấn đề tồn tại của các nhiệm kỳ trước đây. Trong 9.600 dự án triển khai ở kế hoạch đầu tư năm nay thì 8.000 dự án là chuyển tiếp (hơn 83%); chỉ khởi công mới 400 dự án, còn lại là trả nợ và thanh toán. Đặc biệt là ngành Giao thông, sau khi xử lý vẫn còn đang tồn nợ trên 20.000 tỷ đồng.

Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư nêu thêm: Cơ chế triển khai các hoạt động đầu tư công của Việt Nam thực hiện trên nguyên tắc dự kiến nguồn lực trong năm kế hoạch. Theo đó, dự kiến trước nguồn vốn và danh mục dự án để bước vào kế hoạch là chúng ta có thể triển khai thực hiện được ngay. Thanh toán giải ngân thông qua việc thực hiện cân đối đảm bảo thu chi ngân sách nhà nước trong kỳ kế hoạch. Trong trường hợp hụt thu có thể bù đắp bằng bội chi trong hạn mức cho phép hoặc để chuyển tiếp sang kế hoạch của nhiệm kỳ tiếp theo. Nếu vượt thu có thể bổ sung cho kế hoạch.

Do vậy, việc phân bổ khoản dự phòng này là dự kiến trước kế hoạch để triển khai thực hiện các thủ tục đầu tư mà không phải đợi đến khi có nguồn lực rồi mới phân bổ để thực hiện các thủ tục đầu tư.

Về một số ý kiến đại biểu nêu “nếu không làm động tác chuẩn bị trước thì không thể có dự án để khi có nguồn lực là có thể phân bổ ngay và có thể giải ngân ngay”, theo ông Dũng, điều này đã được quy định trong Luật Đầu tư công.

Song, theo Bộ trưởng: “chúng ta lại vướng câu chuyện "con gà, quả trứng", tức là vốn trước hay dự án trước? Chúng ta đã thực hiện và lần này đã làm rõ hơn vấn đề này tức là phải xác định có nguồn vốn trước, phải chỉ ra được nguồn vốn đó ở đâu? Khả năng là bao nhiêu? Rồi phân giao lại cho các địa phương của ngành theo các mục tiêu Quốc hội cho phép, sau đó chuẩn bị dự án. Chuẩn bị dự án xong thì tùy ngân sách thực tế hàng năm cho đầu tư phát triển, dựa trên các dự án đã đủ thủ tục mới giao ngay tiền thực tế hàng năm”.

Với hàng loạt câu hỏi đó, Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng cho rằng có thể chuẩn bị tốt trước và giải ngân ngay để khắc phục việc giải ngân chậm mà Quốc hội đã nêu rất nhiều lần. Và cũng vì vậy, việc phân bổ dự phòng chung ở thời điểm hiện nay là cần thiết nhằm tạo cơ sở pháp lý về vốn để các bộ, ngành, địa phương thực hiện các thủ tục thẩm định nguồn vốn và khả năng cân đối vốn cũng như phê duyệt, quyết định các chủ trương đầu tư dự án mới hoặc điều chỉnh các dự án đã có trong danh mục kế hoạch trung hạn.

>>>Xem thêm  Ông Nguyễn Thành Nam: Việt Nam đang đứng trước thời cơ 'giành độc lập” về công nghệ!; 4 công nghệ 'chìa khóa thành công' cho doanh nghiệp năm 2019<<<

HỒNG VÂN

Quốc hội sẽ giám sát tối cao về phòng, chống xâm hại trẻ em vào 2020

Quốc hội sẽ giám sát tối cao về phòng, chống xâm hại trẻ em vào 2020

Sáng nay, 3/6, tiếp tục chương trình kỳ họp thứ 7, Quốc hội thảo luận ở hội trường về dự kiến Chương trình giám sát của Quốc hội năm 2020.

>>>Xem thêm  THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<< 

Trình bày tờ trình, Tổng thư ký Quốc hội, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Nguyễn Hạnh Phúc cho biết: Tính đến 23/3/2019, Tổng Thư ký Quốc hội đã nhận được văn bản trả lời của 77 cơ quan với 183 nội dung kiến nghị, đề xuất về nội dung chuyên đề giám sát.

Trên cơ sở dự kiến số lượng, tiêu chí lựa chọn và nghiên cứu kiến nghị, đề xuất của các cơ quan, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị Quốc hội xem xét, quyết định một trong 2 chuyên đề: Chuyên đề 1 là về việc thực hiện chính sách, pháp luật về phòng, chống xâm hại trẻ em (dự kiến giao Ủy ban Tư pháp chủ trì về nội dung); chuyên đề 2 là việc thực hiện các Hiệp định Thương mại tự do (FTA) mà Việt Nam là thành viên (dự kiến giao Ủy ban Đối ngoại chủ trì về nội dung).

Qua thảo luận, khá nhiều đại biểu ủng hộ việc lựa chọn chuyên đề giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về phòng, chống xâm hại trẻ em. Theo đại biểu Triệu Thị Thu Phương (Bắc Kạn), thời gian qua, Quốc hội, Chính phủ luôn quan tâm, chỉ đạo sâu sát việc bảo vệ trẻ em nhưng tình hình xâm hại trẻ em, đặc biệt là xâm hại tình dục, bạo lực học đường vẫn diễn biến hết sức phức tạp, gây bức xúc trong xã hội.

Con số trẻ em bị xâm hại và bạo lực thực tế rất lớn vì trẻ em và gia đình nạn nhân không tố giác. Tính chất vụ việc xâm hại trẻ em ngày càng nghiêm trọng gây bức xúc trong xã hội; hành vi bạo lực xâm hại trẻ em vi phạm nghiêm trọng đạo đức, nhiều vụ báo động về suy đồi đạo đức như hiếp dâm tập thể, người cao tuổi xâm hại tình dục trẻ em nhỏ tuổi...

Theo đại biểu, nguyên nhân của tình trạng trên do pháp luật về bảo vệ trẻ em ở nhiều nơi còn chưa được quan tâm tuyên truyền sâu rộng; không ít trẻ em thiếu sự quan tâm chăm sóc, giáo dục; nhiều vụ việc xâm hại trẻ em chưa được phát hiện, ngăn chặn kịp thời; có vụ việc xử lý chưa nghiêm, văn bản quy phạm pháp luật còn có khoảng trống nhất định,… do đó, việc giám sát chuyên đề này là cần thiết.

Đồng tình, đại biểu Nguyễn Quang Dũng (Quảng Nam) cho rằng, qua thực hiện giám sát sẽ phát hiện những vấn đề pháp luật còn bất cập, từ đó hoàn thiện chính sách, pháp luật cũng như các quy định phòng chống, bạo lực và xâm hại trẻ em. Đồng thời, giúp cho các cơ quan tố tụng xây dựng các quy định xử lý hiệu quả hơn đối với các hành vi vi phạm pháp luật cũng như hành vi bạo lực gia đình, xâm hại trẻ em.

Đại biểu Lê Xuân Thân (Khánh Hòa) thì cho rằng: Nên giám sát chung vấn đề thực hiện các quy định pháp luật về trẻ em nói chung thay vì chỉ tập trung vào nội dung phòng, chống xâm hại để có thể bao quát hết tình hình, các vấn đề liên quan đến trẻ em để cùng giải quyết, xử lý.

Cuối phiên thảo luận, Quốc hội đã bấm nút biểu quyết lựa chọn chuyên đề giám sát. Với 79,13% số đại biểu tán thành, Quốc hội đã quyết định lựa chọn giám sát tối cao là: “Việc thực hiện chính sách, pháp luật về phòng, chống xâm hại trẻ em”.

Kết luận, Phó Chủ tịch Quốc hội Đỗ Bá Tỵ cho biết, Quốc hội sẽ ban hành nghị quyết thành lập Đoàn giám sát chuyên đề; Ủy ban Thường vụ Quốc hội sẽ có sự chuẩn bị kỹ lưỡng để bảo đảm việc triển khai thực hiện đạt kết quả cao.

Theo số liệu báo cáo thống kê của Thư viện Quốc hội cung cấp, tình hình trẻ em bị bạo lực, xâm hại trong 2 năm 2017 - 2018 và quý 1/2019 toàn quốc xảy ra 3.499 vụ với 3.546 trường hợp trẻ em bị xâm hại bị phát hiện, trong đó trẻ em bị xâm hại tình dục chiếm hơn 60%. Những hành vi xâm hại trẻ em khi chạm ngưỡng hình sự mới bị xử lý do đó những con số được nêu rõ có thể chỉ là “phần nổi của tảng băng chìm”.

>>>Xem thêm  Hôm nay 23/5, Quốc hội thảo luận về dự án Luật Phòng chống tác hại của rượu, bia ;Infographic: Những phát ngôn làm 'nóng' nghị trường Quốc hội tuần qua<<<

HỒNG VÂN

Chứng khoán tuần: VN-Index đứng trước nguy cơ kiểm tra đáy 950

Chứng khoán tuần: VN-Index đứng trước nguy cơ kiểm tra đáy 950

Bốc hơi hơn 10 điểm trong tuần qua, trong đó gần 9,5 điểm mất đi trong ngày thứ Sáu, thị trường đang đứng trước nguy cơ lớn sẽ tiếp tục giảm thêm nữa.

>>>Xem thêm  THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<< 

Không chỉ là câu chuyện tâm lý sợ hãi và chán nản đang lan rộng trong cộng đồng nhà đầu tư, mà diễn biến chung của thế giới đang ngày càng hỗn loạn hơn. Cuộc chiến thương mại bây giờ đã lan sang các nước khác và ngày càng nhiều lo ngại tăng thêm về triển vọng kinh tế thế giới giảm tốc.

Diễn biến giá dầu thế giới tuần qua đã khác biệt đáng kể so với 3 tháng trước. Kể cả khi chiến tranh thương mại Mỹ - Trung nổ ra, giá dầu thế giới thời điểm tháng 3, tháng 4 vẫn tăng rất mạnh. Giới đầu tư cho rằng giá dầu phản ánh triển vọng kinh tế thế giới không xấu đến mức phải lo ngại. Tuy nhiên từ đầu tháng 5, giá dầu bắt đầu lao dốc và chỉ trong 2 tuần gần đây, giá dầu đã có 3 phiên giao dịch sụt giảm trên 5%.

Thị trường chứng khoán thế giới cũng có một tuần giao dịch hỗn loạn. Chỉ số DJA của Mỹ sụt giảm tuần qua tới 3,01%, S&P500 giảm 2,62%, Nasdaq giảm 2,41%. Chứng khoán Nhật có tuần giảm 2,44%. Trong khi đó VN-Index sụt giảm 1,05%, cũng chưa phải là diễn biến quá tệ.

Tuy nhiên đến tận phiên cuối tuần qua thị trường Việt Nam mới chứng kiến hiện tượng bán tháo gia tăng đột ngột. Trong hai tuần sụt giảm kể từ đỉnh ngắn hạn hôm 20/5, thị trường lặp lại cùng một kiểu diễn biến. Đầu tiên là phiên tăng đầu tuần kéo theo các phiên sụt giảm nhè nhè, sau đó kết thúc bằng mức giảm đột biến mạnh. Ví dụ tuần từ 20-24/5, 3 phiên giảm liên tục chỉ khiến VN-Index mất trung bình 1,47 điểm/phiên. Kết thúc phiên cuối tuần ngày 24/5, VN-Index giảm 12,68 điểm. Tuần từ 27-31/5, VN-Index cũng có 3 phiên giảm trung bình 1,45 điểm/phiên, kết thúc bằng mức giảm 9,46 điểm hôm thứ Sáu.

Diễn biến này cho thấy các đợt bán ra được tiến hành thận trọng và không làm mất đi kỳ vọng của người mua. Chỉ đến khi ngày càng nhiều hơn nhà đầu tư nhận thấy xu hướng điều chỉnh giảm trở nên rõ ràng, áp lực bán mới tăng lên dồn dập. Cho đến cuối tuần qua, khi VN-Index để mất mốc quan trọng 960 điểm, nhu cầu cắt lỗ mới tăng vọt cộng với diễn biến giảm quá rõ trên các thị trường quốc tế.

Thị trường cũng cho thấy các dấu hiệu tích cực là thanh khoản gia tăng vào các phiên giảm điểm mạnh và sụt giảm ở các phiên điều chỉnh nhẹ. Nói cách khác, khi thị trường giảm nhẹ, dòng tiền vẫn chưa cảm thấy hấp dẫn. Khi giá giảm mạnh, dòng tiền bắt đáy mới lại nhập cuộc.

Mua theo chiều giá giảm thường là cách vận động của các dòng tiền lớn và giá càng giảm càng mua nhiều. Chiến thuật này chỉ hợp lý khi dự đoán rằng mức giảm có giới hạn. Các nhà đầu tư lớn có thể mua liên tục cho tới khi thị trường chạm đáy và mua vòng qua đáy, trong khi các nhà đầu tư nhỏ lẻ thường chỉ mua một lần hết vốn và không thể mua thêm khi giá giảm nhiều hơn, thậm chí phải cắt lỗ. Do đó nếu thị trường càng điều chỉnh sâu hơn mà thanh khoản vẫn tiếp tục tăng, đó sẽ là một dấu hiệu tích cực.

Về mặt kỹ thuật, VN-Index hiện đang có đáy sâu nhất ở 944,91 điểm của phiên ngày 9/5. Do đó nhịp giảm hiện tại có triển vọng đưa chỉ số kiểm tra lại mức này. Kết thúc phiên thứ Sáu tuần trước, VN-Index đã xuống tới 959,88 điểm. Nếu nhà đầu tư cho rằng thị trường chỉ điều chỉnh về đáy cũ thì tuần tới sẽ là tuần giao dịch quan trọng. VN-Index tìm về đáy cũ cũng đồng nghĩa với nhiều cổ phiếu giảm về điểm xuất phát đầu tháng 5, thậm chí là giảm thấp hơn. Có thể chỉ ra các mã blue-chips tiêu biểu như VNM, MSN, BID, VHM...

>>>Xem thêm  Dự án Luật Chứng khoán sửa đổi: Bước ngoặt mới cho sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt NamVàng thế giới lên cao nhất trong 1 tuần khi chứng khoán toàn cầu lao dốc<<<

10 cổ phiếu biến động tăng/giảm lớn nhất trên HSX trong tuần

Mã CK

Giá đóng cửa ngày 31/5

Giá đóng cửa ngày 24/5

Mức giảm (%)

Mã CK

Giá đóng cửa ngày 31/5

Giá đóng cửa ngày 24/5

Mức tăng (%)

DTL

28.5

40.8

-30.15

CMV

19.3

13.9

38.85

SII

14.15

17.1

-17.25

RIC

4.92

4

23

SJF

3.17

3.81

-16.8

LMH

15.35

12.9

18.99

POM

7.01

7.99

-12.27

TIP

22.5

19

18.42

ILB

18.8

21.4

-12.15

DHM

5.07

4.33

17.09

TGG

3.6

4.05

-11.11

SVI

50

43.05

16.14

AGM

9.35

10.5

-10.95

EMC

12.65

10.95

15.53

NTL

22.3

24.9

-10.44

CTF

25

22

13.64

DRC

20.2

22.55

-10.43

TVT

38

33.9

12.09

TCR

1.7

1.89

-10.05

SZL

44

39.5

11.39

 

10 cổ phiếu biến động tăng/giảm lớn nhất trên HNX trong tuần

Mã CK

Giá đóng cửa ngày 31/5

Giá đóng cửa ngày 24/5

Mức giảm (%)

Mã CK

Giá đóng cửa ngày 31/5

Giá đóng cửa ngày 24/5

Mức tăng (%)

VE4

6.6

9.5

-30.53

KTT

7.9

5.5

43.64

VC1

11.4

14

-18.57

SCI

13.9

10.2

36.27

ARM

58

70.3

-17.5

TV4

26.3

21.8

20.64

PSE

6.6

7.9

-16.46

VC9

12

10

20

VMI

0.6

0.7

-14.29

L62

6.7

5.6

19.64

L35

8.6

9.9

-13.13

BTW

22

18.5

18.92

HKB

0.7

0.8

-12.5

VMS

11.8

10

18

DC2

4.5

5.1

-11.76

DZM

4.6

3.9

17.95

HHP

17.3

19.5

-11.28

SFN

28.8

25.7

12.06

TCS

7.2

8.1

-11.11

NST

14.1

12.6

11.9

Yếu tố khó lường nhất hiện tại là sự chi phối của bối cảnh phức tạp trên thế giới. Giá dầu sụt giảm mạnh đã bắt đầu khiến cổ phiếu dầu khí chịu sức ép mạnh hơn nhiều so với thời điểm tháng 4. Cùng với việc giá dầu tạo đỉnh, hàng loạt cổ phiếu dầu khí cũng tạo đỉnh, chỉ là nhanh chậm hơn vài phiên. Hầu hết các cổ phiếu nhóm này chỉ tạo đỉnh và quay đầu giảm từ giữa tháng 5, trong khi giá dầu đã đạt đỉnh trước đó nửa tháng.

Ngoài ra việc các thị trường quốc tế giảm mạnh cũng khiến giao dịch của nhà đầu tư nước ngoài bán ra nhiều cổ phiếu lớn và ảnh hưởng tới giá. Tuần qua khối này bán ròng nhiều VMN, VHM, VRE, SSI, HPG khiến các mã này giảm mạnh về cuối tuần. Đặc biệt những mã lớn như VHM, VNM giảm rất mạnh là nguyên nhân khiến VN-Index mất nhiều điểm.

Về mặt kỹ thuật, chừng nào VN-Index chưa giảm xuống dưới đáy đầu tháng 5 thì thị trường vẫn chỉ coi như đang điều chỉnh bình thường. Do đó nhịp kiểm tra đáy lần này sẽ đóng vai trò quyết định, liệu thị trường đã thực sự tạo đáy ở 945 điểm của VN-Index hay chưa.

Quy mô giao dịch toàn thị trường 2 tuần vừa qua

Ngày

Tổng giá trị khớp lệnh (tỉ đồng)

Tổng giá trị Nước ngoài mua (tỉ đồng)

Tổng giá trị Nước ngoài bán (tỉ đồng)

20.5.2019

3,442.9

202.8

246.5

21.5.2019

3,337.6

263.1

464.4

22.5.2019

3,322.4

218.9

382.9

23.5.2019

2,907.5

211.9

354.4

24.5.2019

3,602.4

280.9

594.2

27.5.2019

2,420.1

248.0

177.0

28.5.2019

3,084.2

507.7

539.2

29.5.2019

2,964.5

311.1

218.4

30.5.2019

2,553.7

267.0

322.8

31.5.2019

3,042.1

412.5

215.2

Trọng Nghĩa

Ai đang mua gom cổ phiếu Vinaconex?

Ai đang mua gom cổ phiếu Vinaconex?

Ngoài các giao dịch khớp lệnh trực tiếp, thời gian gần đây đã xuất hiện nhiều phiên giao dịch thỏa thuận đáng chú ý đối với cổ phiếu VCG (Vinaconex). Những xung đột “ngầm” giữa các nhóm cổ đông đang đặt ra câu hỏi: Có hay không việc “tay to” đang mua gom VCG và mua để làm gì?
>>>Xem thêm  Chứng khoán tuần: VN-Index đứng trước nguy cơ kiểm tra đáy 950<<< 

Giá cổ phiếu “trồi sụt” vì đơn kiện?

Cùng với Sabeco, hay trước đó là Vinamilk, phiên thoái vốn nhà nước tại Tổng công ty CP Xuất nhập khẩu và Xây dựng Việt Nam (Vinaconex; mã Ck: VCG) được xem là “hình mẫu” cho sự thành công của việc bán cổ phần nhà nước tại doanh nghiệp.

Việc bán hết 100% cổ phiếu VCG đi kèm với phiên đấu giá kịch tính (khi các nhà đầu tư là nhóm cổ đông đến từ Công ty An Quý Hưng “chịu chơi” “ôm trọn lô”, xuống tiền 7.400 tỷ đồng, thặng dư hơn 2.000 tỷ đồng so với giá dự kiến) là minh chứng cho sự hấp dẫn của doanh nghiệp này, và khẳng định được chủ trương đúng đắn của Chính phủ về cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước.

Cũng nhờ có hiệu ứng thoái vốn thành công liên tiếp những ngày sau, cổ phiếu VCG đã có chuỗi dài tăng giá ấn tượng, từ mức 18.600 đồng/cổ phiếu (ngày 28/11/2018 – ngày diễn ra phiên đấu giá) tăng vọt lên tới 29.100 đồng/cổ phiếu (đóng cửa phiên ngày 15/3/2019), tăng gần 56,5%. Theo nhiều bình luận của giới đầu tư, việc VCG tăng giá là dễ hiểu bởi mã này tổng hòa được hai yếu tố, đó là: giá trị nội tại của một tên tuổi lớn và tiềm lực của các nhóm cổ đông mới khi dám chi hàng nghìn tỷ đồng để tiếp quản doanh nghiệp.

Theo báo cáo tài chính quý I/2019, mặc dù doanh thu giảm nhẹ khoảng 5,9%, nhưng quản trị hiệu quả đã giúp lợi nhuận sau thuế của Vinaconex tăng mạnh 41%, đạt trên 99 tỷ đồng. Riêng lợi nhuận của cổ đông công ty mẹ là 89 tỷ đồng, tăng 84% so với cùng kỳ 2018. Số dư tiền tại thời điểm 1/1/2019 là 1.840 tỷ đồng; sau khi chia cổ tức năm 2018, số dư tiền tại thời điểm 24/4/2019 vẫn còn tới 1.661 tỷ đồng. Đặc biệt, hiện Vinaconex không có dư nợ quá hạn ngân hàng. 

 

 Lợi nhuận sau thuế quý I/2019 của Vinaconex tăng tích cực

Ngay lập tức, ngày 25/3/2019, Tòa án Nhân dân quận Đống Đa (Hà Nội) đã thụ lý và ra phán quyết về việc “yêu cầu huy động nghị quyết đại hội cổ đông”; và cũng lập tức, HĐQT Vinaconex mới thành lập không lâu bất ngờ rơi vào thế “bất động”. Tuy nhiên, chỉ sau đó không lâu, chính ông Hà và ông Trung phải rút đơn yêu cầu do chưa được đủ thời hạn để trở thành cổ đông có quyền khiếu nại (sở hữu cổ phiếu chưa đủ 6 tháng). Còn Tòa án Nhân dân quận Đống Đa, trước đơn thư khiếu nại về quyết định “bất thường” này đến từ nhóm cổ đông An Quý Hưng cùng những lý lẽ chứng cứ rõ ràng, cuối cùng đã phải quyết định hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời (ngày 25/4).Đại hội cổ đông bất thường sau đó được diễn ra theo đúng trình tự, thủ tục của quy định pháp luật. Tuy nhiên, “sóng gió” bắt đầu nổi lên tại Vinaconex với “đỉnh điểm” là vụ kiện yêu cầu Hội đồng quản trị (HĐQT) Vinaconex dừng việc thực hiện nghị quyết đại hội cổ đông bất thường do nhóm cổ đông mua lại phần vốn từ Viettel và Star Invest mua lại từ một quỹ đầu tư khác - với hai đại diện là ông Thân Thế Hà và ông Nguyễn Quang Trung đứng đơn kiện.

Ai đang gom mua?

Vừa qua, Vinaconex đã công bố nghị quyết của HĐQT về việc phê duyệt chương trình đại hội đồng cổ đông năm 2019 và hủy danh sách tham dự đại hội đã lập ngày 8/4. Theo đó, đại hội cổ đông thường niên năm 2019 của Vinaconex sẽ diễn ra vào 8h ngày 28/6/2019. Ngày đăng ký cuối cùng (ngày chốt danh sách cổ đông mời dự họp) là ngày 10/6/2019.

Cũng giống như nhiều đại hội cổ đông thường niên khác, chương trình họp đại hội năm 2019 của Vinaconex dự kiến không có gì đặc biệt, xoay quanh các nội dung thường niên như: Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh năm 2018 và kế hoạch năm 2019; tờ trình lựa chọn công ty kiểm toán; tờ trình phương án phân phối lợi nhuận sau thuế năm tài chính 2018, chi trả thù lao; thay đổi ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh;… Tuy nhiên, điều dư luận quan tâm hơn cả đó là mâu thuẫn giữa các nhóm cổ đông đã hết hay chưa. Và có hay không hoặc bao giờ thì “hòa bình lập lại”, hay sự chia tay của một nhóm cổ đông nào đó để Vinaconex được ổn định, vững tâm phát triển.

Thống kê cho thấy, trong vòng 50 phiên giao dịch (kể từ ngày 18/3/2019 đến ngày 30/5/2019) thì có tới 30 phiên cổ phiếu VCG đứng yên hoặc giảm điểm, đặc biệt là phiên 28/3, cổ phiếu VCG giảm sàn. Cổ phiếu VCG trong thời gian đó diễn biến trong xu thế lình xình và giảm sâu đáng kể tính từ phiên “đỉnh” ngày 15/3/2019 – nhất là quãng thời gian dài gần một tháng HĐQT phải “ngồi chơi xơi nước”.

iên tục xuất hiện các phiên giao dịch thỏa thuận đáng chú ý với cổ phiếu VCG.

Dữ liệu giao dịch cũng chỉ ra, từ thời điểm diễn ra phiên đấu giá (28/11/2018) đến nay, ngoài các giao dịch khớp lệnh trực tiếp, đã xuất hiện khá nhiều phiên giao dịch thỏa thuận đáng chú ý “mua gom” cổ phiếu VCG. Trừ phiên giao dịch thỏa thuận có giá trị hơn 836 tỷ đồng ngày 24/12/2018 (phiên PYN Elite Fund bán lại cổ phiếu cho Star Invest), thì còn có tới 49 phiên cổ phiếu VCG có xuất hiện giao dịch thỏa thuận. Trong số đó, có không ít phiên có giao dịch lên tới hàng chục tỷ đồng. Đáng chú ý, chỉ trong tháng 3/2019 đã có tới 18 phiên xuất hiện giao dịch thỏa thuận cổ phiếu VCG, trong đó có 16 phiên liên tiếp có giao dịch thỏa thuận, và có phiên giá trị giao dịch thỏa thuận gần tới 50 tỷ đồng.

Hiện tại, chưa có dữ liệu đích xác về các “chủ nhân” của các giao dịch thỏa thuận này, nhưng với thị trường thì câu hỏi “ai đang gom mua cổ phiếu VCG và mua để làm gì (?!)” được nhiều người quan tâm.

Được biết, theo thông tin từ đại hội cổ đông bất thường hồi tháng 1/2019, cơ cấu cổ đông VCG gồm có: nhóm cổ đông An Quý Hưng sở hữu 57,71% (mua toàn bộ lô cổ phần do SCIC thoái vốn); Bất động sản Cường Vũ sở hữu 21,28% vốn điều lệ (mua trọn lô cổ phần từ Viettel thoái vốn); còn Star Invest sở hữu 7,51% (mua thỏa thuận gần 3,5 triệu cổ phiếu VCG từ Quỹ PYN Elite Fund ngày 24/12/2018); và các cổ đông khác (13,44% vốn điều lệ). Hiện chưa rõ động cơ từ các phiên giao dịch thỏa thuận thời gian qua, tuy nhiên, giới đầu tư hoàn toàn có thể đặt nghi vấn về khả năng đã và đang có nhóm cổ đông nào đó đang “gom mua” thêm cổ phiếu VCG đang giao dịch trên thị trường “hòng” gia tăng vị thế hoặc tạo sức ép trong đại hội cổ đông thường niên năm 2019 dự kiến tổ chức vào 28/6 tới (?!)./.

>>>Xem thêm  Dự án Luật Chứng khoán sửa đổi: Bước ngoặt mới cho sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam<<<

Kim Cương

Tọa đàm tháo gỡ khó khăn, đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công

Tọa đàm tháo gỡ khó khăn, đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công

Sáng 31/5, Kho bạc Nhà nước (KBNN) phối hợp với Vụ Đầu tư - Bộ Tài chính tổ chức “Hội nghị Tọa đàm giải ngân vốn đầu tư công năm 2019” dưới hình thức trực tuyến nhằm trao đổi, tháo gỡ khó khăn trong quá trình thực hiện giải ngân vốn đầu tư công.

>>>Xem thêm  THÀNH LẬP CÔNG TY VỐN 100% NƯỚC NGOÀI TẠI ĐÀ NẴNG <<< 

Buổi tọa đàm được tổ chức dưới sự đồng chủ trì của ông Nguyễn Việt Hồng - Phó Tổng Giám đốc KBNN và bà Mai Thị Thùy Dương - Phó Vụ trưởng Vụ Đầu tư; Tham dự buổi tọa đàm còn có đại diện Cục Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại, đại diện các bộ, ngành, UBND các tỉnh, các sở, ban ngành địa phương và các chủ đầu tư, Ban quản lý dự án tại 63 điểm cầu của KBNN tại các tỉnh, thành phố trong cả nước.

Bà Mai Thị Thùy Dương - Phó Vụ trưởng Vụ Đầu tư phát biểu khai mạc hội nghị

5 tháng, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư đạt 23,25%

Phát biểu khai mạc buổi tọa đàm, bà Mai Thị Thùy Dương - Phó Vụ trưởng Vụ Đầu tư cho biết, “Hội nghị Tọa đàm giải ngân vốn đầu tư công năm 2019” được tổ chức nhằm lắng nghe những ý kiến, trong đó tập trung làm rõ các khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện và phân tích cụ thể nguyên nhân của việc giải ngân vốn đầu tư chậm. Từ đó đề xuất các giải pháp, kiến nghị với Chính phủ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, UBND các tỉnh để kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, qua đó thúc đẩy giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công từ nay đến năm 2019 đảm bảo theo đúng mục tiêu và kế hoạch đề ra.

Báo cáo tại buổi tọa đàm, bà Lương Thị Hồng Thúy - Phó Vụ trưởng Vụ Kiểm soát chi, KBNN đã đánh giá tình hình phân bổ thanh toán vốn đầu tư công 5 tháng năm 2019. Bà Thúy cho biết, tính đến thời điểm 31/5/2019, vốn đầu tư giải ngân ước đạt 96.899,971 tỷ đồng, đạt 23,25% so với kế hoạch Quốc hội giao và đạt 26,39% so kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, tương đương so với cùng kỳ năm 2018 (cùng kỳ năm 2018 đạt 23,54% kế hoạch Quốc hội giao và 24,5% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao. Tuy nhiên, so với kế hoạch vốn đầu tư năm 2019 được giao thì tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư 05 tháng đầu năm 2019 vẫn rất thấp.

Bà Thúy cho biết thêm, đối với các dự án do Trung ương quản lý mới có khoảng 8 đơn vị giải ngân kế hoạch vốn năm 2019 đạt trên 40% kế hoạch vốn trở lên. Trong khi đó, các dự án do địa phương quản lý, tỷ lệ giải ngân khá cao so với tỷ lệ giải ngân bình quân chung của cả nước. Tính riêng nguồn vốn đầu tư trong cân đối, vốn đầu tư từ nguồn bội chi vốn ODA và vốn bổ sung ngoài kế hoạch, thì đến nay có khoảng một số địa phương có tỷ lệ giải ngân đạt khá, trên 40% kế hoạch vốn Chính phủ giao như: Nghệ An 58,78%; Phú Thọ 49,29%; Tuyên Quang 57,91%; Nam Định 58,14%; Ninh Bình 63,14%, Lào Cai 47,36%;....

>>>Xem thêm  Tiếp tục cắt giảm 28 chi cục thuế tại 9 địa phương<<<

Toàn cảnh hội nghị

Trước tình hình tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư vẫn còn thấp, bám sát chỉ đạo điều hành của Chính phủ và chương trình, kế hoạch được giao, ngay từ những tháng đầu năm 2019, Bộ Tài chính đã chỉ đạo các đơn vị thuộc Bộ thực hiện nhiều giải pháp để góp phần thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công năm 2019. Theo đó có 9 giải pháp đã được Bộ Tài chính tích cực triển khai như: Chủ động nắm bắt kịp thời những tồn tại, vướng mắc, nguyên nhân giải ngân chậm của các Bộ, ngành, địa phương và tổng hợp các vướng mắc để xử lý theo thẩm quyền hoặc báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định; Kịp thời báo cáo về tình hình thực hiện, thanh toán vốn đầu tư công năm 2019 định kỳ hàng tháng, quý, năm theo chế độ quy định; trong đó, nêu rõ các Bộ ngành và địa phương có tỷ lệ giải ngân thấp,... để tổng hợp báo cáo Thủ tướng Chính phủ làm cơ sở đôn đốc các Bộ, ngành, địa phương có các biện pháp chỉ đạo chủ đầu tư quản lý các dự án có tỷ lệ giải ngân thấp đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư ngay từ những tháng đầu năm 2019; Tăng cường tuyên truyền và đẩy mạnh triển khai thực hiện việc giao nhận hồ sơ kiểm soát chi điện tử qua Cổng thông tin điện tử của KBNN (dịch vụ công trực tuyến); Thực hiện kiểm soát thanh toán theo nguyên tắc “thanh toán trước, kiểm soát sau” cho từng lần thanh toán và “kiểm soát trước, thanh toán sau” đối với lần thanh toán cuối cùng của hợp đồng. Thông qua đó, cải cách thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian kiểm soát chi và tạo điều kiện thuận lợi cho chủ đầu tư trong việc giải ngân vốn đầu tư xây dựng cơ bản….

Làm rõ những vướng mắc ảnh hưởng tiến độ giải ngân vốn đầu tư công

Hội nghị đã lắng nghe nhiều ý kiến đóng góp từ đại diện các bộ, ngành, UBND các tỉnh, các sở, ban ngành địa phương và các chủ đầu tư, Ban quản lý dự án. Theo phản ánh của đại diện các ban quản lý dự án, chủ đầu tư thuộc các bộ ngành và địa phương, các vướng mắc chủ yếu liên quan tới thủ tục trình tự đầu tư xây dựng cơ bản, thủ tục giao kế hoạch vốn, tiến độ phân bổ vốn chậm và đặc biệt công tác giải phóng mặt bằng còn gặp nhiều khó khăn.

Ông Dương Tấn Hiển, Phó Chủ tịch UBND TP.Cần Thơ cho biết, 5 tháng đầu năm, khối sở ngành của thành phố đã giải ngân 539 tỷ đạt 21,9%; cấp quận, huyện thanh toán tới nay là 481 tỷ đạt 31,72%. Nguyên nhân giải ngân chậm là do trong nhiều dự án công tác bồi thường hỗ trợ tái định cư khó khăn. Bên cạnh đó, các chủ đầu tư hiện đang làm thủ tục đấu thầu. Thứ ba là do đang chờ thanh toán vốn… Theo ông Hiển, giải pháp được UBND TP.Cần Thơ đưa ra đó là yêu cầu các chủ đầu tư phải tích cực triển khai các dự án theo kế hoạch vốn năm 2019 và vốn chuyển nguồn từ năm 2018, đặc biệt là tại các dự án trọng điểm của TP. Đồng thời, UBND TP. Cần Thơ cũng giao KBNN báo cáo và có điều chỉnh vốn nếu chủ đầu tư thực hiện giải ngân chậm, có thể cắt bớt nguồn vốn để chuyển sang các dự án khác. Đặc biệt, UBND TP chỉ đạo Sở Kế hoạch Đầu tư, Sở Tài chính, Sở Xây dựng, Trung tâm phát triển quỹ đất… tổ chức họp giao ban, kiểm tra nhắc nhở kiểm điểm các chủ đầu tư không thực hiện tốt công tác quản lý dự án và có biện pháp xử lý phù hợp.

Ông Lương Minh Phúc, Giám đốc Ban quản lý Dự án đầu tư xây dựng các công trình giao thông, TP.HCM cũng chia sẻ, hiện nay ban quản lý dự án đã giải ngân khoảng 500 tỷ, đạt 15%. Mục tiêu tới cuối năm sẽ đạt trên 95%. Theo ông Phúc đối với nhóm dự án sử dụng nguồn ngân sách nhà nước và đang triển khai, có tới 90% nguyên nhân giải ngân chậm là do những khó khăn trong công tác giải phóng mặt bằng. Vì thế, đơn vị phải thực hiện đan xen vừa thi công vừa vận động bà con bàn giao mặt bằng.

>>>Xem thêm  NHỮNG ĐIỀU KIỆN CỐT LÕI CHO VIỆC THÀNH LẬP CÔNG TY CÓ VỐN NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM<<<

Các đại biểu trao đổi tại hội nghị

Ông Tăng Văn Sơn, kế toán trưởng Ban Quản lý Dự án các dự án nông nghiệp, Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn lại nêu khó khăn liên quan tới các dự án ODA chưa được giao vốn và các khó khăn về chuyển ngồn vốn từ năm 2018 sang năm 2019.

Tại hội nghị, đại diện Vụ Đầu tư, Cục Quản lý nợ và Tài chính đối ngọai và KBNN đã tiếp thu, giải đáp, trao đổi thẳng thắn để làm rõ các khó khăn, vướng mắc của đại diện các bộ, ngành, UBND các tỉnh, các sở, ban ngành địa phương và các chủ đầu tư, Ban quản lý dự án.

Ông Nguyễn Việt Hồng, Phó Tổng giám đốc KBNN kết luật hội nghị

Quyết tâm cao nhất để hoàn thành kế hoạch giải ngân vốn đầu tư công

Kết luận hội nghị, ông Nguyễn Việt Hồng, Phó Tổng giám đốc KBNN đề nghị các bộ ngành, địa phương phải khẩn trương hoàn thành phân bổ dự toán kế hoạch vốn đầu tư công cho các dự án, đặc biệt là các dự án sử dụng vốn ODA để đẩy nhanh tiến độ giải ngân đầu tư công, vì hiện vẫn có một số địa phương chưa giao hết.

Thứ hai, phải có sự quyết tâm cao, phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan cơ quan để thực hiện giải ngân vốn đầu tư từ khâu chuẩn bị tới thực hiện. Các bộ, ngành, địa phương và các ban quản lý dự án phải coi đây là nhiệm vụ trọng tâm từ nay đến hết năm 2019 để có sự chỉ đạo các chủ đầu tư triển khai nội dung, tháo gỡ ngay các khó khăn vướng mắc, nhất là giải phóng mặt bằng. Đây là khó khăn lớn nhất, gây cản trở nhiều nhất, gây chậm trễ nhiều nhất đối với giải ngân vốn đầu tư công. Ông Hồng đề nghị, dù Luật đã có quy định hành lang pháp lý để thực hiện nhưng quá trình thực hiện phải làm sao phù hợp với tình hình thực tế tại từng địa bàn. Các đơn vị phải làm công tác chính trị tư tưởng để vận động người dân bàn giao giải phóng mặt bằng sớm hơn. Đây là vấn đề hệ trọng và nếu làm tốt thì công tác giải ngân sẽ nhanh hơn.

Ông Hồng cũng đề nghị qua các nội dung trao đổi tại hội nghị này, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các đơn vị trong Bộ Tài chính sẽ tổng hợp các kiến nghị, giải pháp, các tham mưu của các đại diện chủ đầu tư, các tỉnh, địa phương; báo cáo và trình cấp có thẩm quyền trình sửa đổi quy trình để cho phù hợp. Về phía các bộ, ngành, UBND các tỉnh cần phải coi công tác giải ngân vốn đầu tư là nhiệm vụ trọng tâm của 6 tháng cuối năm đúng với tinh thần chỉ đạo của Chính phủ, phấn đấu tỷ lệ giải ngân đến cuối năm đạt từ 98-100% kế hoạch; các bộ, ngành, UBND các tỉnh chỉ đạo KBNN để giải ngân, kiểm soát chi kịp thời; các cơ quan quản lý nhà nước liên quan tới công tác giải phóng mặt bằng cần nghiên cứu sớm để tham mưu kịp thời các cấp có thẩm quyền đưa vào Luật Đầu tư công cho sát thực tiễn….

Việc đẩy nhanh tiến độ, phấn đấu giải ngân 100% vốn đầu tư công là một trong những giải pháp tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng năm 2019. Do vậy, những nội dung tại “Hội nghị Tọa đàm giải ngân vốn đầu tư công năm 2019” sẽ góp phần giúp các bộ, ngành, địa phương cùng nhau tháo gỡ khó khăn, qua đó thúc đẩy tiến độ giải ngân vốn đầu tư những tháng cuối năm 2019.

>>>Xem thêm  Bộ Tài chính ban hành kế hoạch phát triển chính phủ điện tử; <<<

TN

Chính sách nổi bật có hiệu lực từ tháng 6 - 2019

Chính sách nổi bật có hiệu lực từ tháng 6 - 2019

Giảm số lượng công chức cấp xã; say rượu không được lên máy bay... là những quy định nổi bật có hiệu lực từ tháng 6.

>>>Xem thêm  THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<< 

Say rượu không được lên máy bay

Thông tư 13/2019 của Bộ giao thông Vận tải có hiệu lực từ ngày 1/6 quy định các hãng hàng không từ chối chở hành khách mất khả năng làm chủ hành vi do sử dụng rượu, bia hoặc các chất kích thích khác.

Ngoài ra, việc chấp nhận chuyên chở hành khách bị bệnh tâm thần do đại diện hãng hàng không đánh giá và quyết định. Khi chấp nhận chuyên chở phải thực hiện các yêu cầu sau đây: Hành khách bị bệnh tâm thần phải có bác sĩ hoặc thân nhân đi kèm có khả năng kiềm chế được hành vi bất thường của hành khách.

Trong trường hợp cần thiết, hành khách bị bệnh tâm thần cần phải được gây mê trước khi lên tàu bay, thời gian bay không được lâu hơn thời gian tác dụng của thuốc; hành khách bị bệnh tâm thần và hành lý, vật dụng của họ phải được kiểm tra trực quan; việc kiểm tra có thể được bố trí tại khu vực riêng.

Săn bắn, giết động vật rừng bị phạt đến 400 triệu đồng

Có hiệu lực từ 10/6, Nghị định 35/2019 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực lâm nghiệp quy định hành vi săn bắn, giết, nuôi, nhốt động vật rừng trái quy định bị phạt tiền từ 5 - 400 triệu đồng; ngoài ra còn bị áp dụng một số hình thức xử phạt bổ sung.

Hành vi đốt lửa, sử dụng lửa để săn bắt động vật rừng, lấy mật ong, lấy phế liệu chiến tranh có thể bị phạt từ 1,5-3 triệu đồng.

Các hành vi chặt, đốt, phát cây rừng, đào, bới, san ủi, nổ mìn; đắp đập, ngăn dòng chảy tự nhiên, xả chất độc... gây thiệt hại đến rừng với bất kỳ mục đích gì mà không được phép sẽ bị xử phạt đến 200 triệu đồng.

Không nhập khẩu máy móc cũ quá 10 năm tuổi

Quyết định 18/2019 của Thủ tướng quy định việc nhập khẩu máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ đã qua sử dụng, có hiệu lực từ ngày 15/6, đưa ra một số tiêu chí nhập khẩu đối với máy móc, thiết bị đã qua sử dụng như sau: Tuổi thiết bị không quá 10 năm; riêng một số loại máy móc, thiết bị lĩnh vực cơ khí, sản xuất, chế biến gỗ, sản xuất giấy và bột giấy cho phép có tuổi không quá 15 - 20 năm.

Máy móc, thiết bị phải được sản xuất theo tiêu chuẩn phù hợp với quy chuẩn Việt Nam về an toàn, tiết kiệm năng lượng và bảo vệ môi trường.

Đặc biệt không cho phép nhập khẩu máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ đã qua sử dụng trong các trường hợp các nước xuất khẩu đã loại bỏ do lạc hậu, chất lượng kém, gây ô nhiễm môi trường...

Giảm số lượng của cán bộ, công chức cấp xã

Từ ngày 25/6, Nghị định 34/2019 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung quy định về cán bộ, công chức cấp xã và người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, thôn, tổ dân phố sẽ có hiệu lực.

Theo đó, số lượng cán bộ, công chức cấp xã được giảm xuống chỉ còn: Loại 1: Tối đa 23 người (trước đây là 25 người); loại 2: Tối đa 21 người (trước đây là 23 người); loại 3: Tối đa 19 người (trước đây là 21 người).

Đối với xã, thị trấn bố trí Trưởng công an xã là công an chính quy thì số lượng cán bộ, công chức giảm một người. Số lượng cán bộ, công chức cấp xã bao gồm cả cán bộ, công chức được luân chuyển, điều động, biệt phái về cấp xã...

Ngoài ra Nghị định cũng quy định cử nhân có bằng đại học loại giỏi sẽ được tuyển thẳng vào công chức cấp xã, thay vì trải qua xét tuyển như hiện nay.

>>>Xem thêm  Bộ Tài chính ban hành kế hoạch phát triển chính phủ điện tử <<<

Bá Đô

Tháng 5: CPI tăng 0,49%

Tháng 5: CPI tăng 0,49%

Theo công bố của Tổng cục Thống kê, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 5/2019 tăng 0,49% so với tháng trước, tăng 1,5% so với tháng 12/2018, tăng 2,88% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 5 tháng đầu năm 2019, CPI tăng 2,74% so với cùng kỳ năm 2018 - mức tăng bình quân 5 tháng đầu năm thấp nhất trong 3 năm gần đây.

>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG <<< 

So với tháng trước, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính có 9 nhóm hàng tăng giá: nhóm Giao thông có mức tăng cao nhất, tăng 2,64%; Nhà ở, điện nước và vật liệu xây dựng tăng 1,28%; Đồ uống và thuốc lá tăng 0,18%; Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,13%; May mặc, mũ nón, giầy dép tăng 0,12%; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,11%; Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,1%; Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,05%; Giáo dục tăng 0,05%. Có 2 nhóm hàng giảm giá: Thuốc và dịch vụ y tế giảm 0,06%; Bưu chính viễn thông giảm 0,05%.

Theo đánh giá của Tổng cục Thống kê, các nguyên nhân làm tăng CPI tháng 5 năm 2019 như: Sau 2 đợt điều chỉnh giá trong tháng 5, giá xăng A95 tăng 360 đồng/lít, xăng E5 tăng 780 đồng/lít, dầu diezen tăng 230 đồng/lít nên bình quân giá xăng dầu tăng 5,93% so với tháng trước làm tăng CPI chung 0,25%; Giá điện tăng do tác động của việc điều chỉnh tăng giá điện trong tháng 3/2019, bên cạnh đó thời tiết nắng nóng nên nhu cầu tiêu dùng điện và nước tăng làm cho giá điện sinh hoạt tăng 6,86% và giá nước sinh hoạt tăng 1,17%. Giá gas tháng 5/2019 tăng 0,6% so với tháng 4/2019 do giá gas thế giới bình quân tháng 5/2019 công bố ở mức 527,5 USD/tấn, tăng 2,5 USD/tấn so với tháng 4/2019; Giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 0,66% do nhu cầu xây dựng tăng cùng với chi phí đầu vào tăng nên giá một số mặt hàng vật liệu xây dựng như: sắt, thép, xi măng và giá nhân công xây dựng tăng theo.

Ngoài ra, kỳ nghỉ lễ 30/4 và 1/5 kéo dài nên nhu cầu ăn uống ngoài gia đình và du lịch tăng cao làm cho giá các mặt hàng này tăng hơn so với tháng trước.

Bên cạnh các nguyên nhân làm tăng CPI, có một số nguyên nhân kiềm chế CPI tháng 5/2019 như: Giá gạo giảm 0,5% so với tháng trước; Bình quân chung cả nước giá thịt lợn tháng 5/2019 tiếp tục giảm 0,6% so với tháng 4/2019, mức giảm này thấp hơn mức giảm 3,07% của tháng 4/2019, do dịch tả lợn châu Phi đã lan rộng trên 40 tỉnh, thành phố( ) trực thuộc Trung ương, tuy nhiên người tiêu dùng đã yên tâm mua thịt lợn trở lại, một số địa phương chưa bị dịch giá thịt lợn bắt đầu tăng; Giá dịch vụ y tế giảm 0,1% do thay đổi giá dịch vụ y tế đối với người không có thẻ bảo hiểm y tế theo các Quyết định của một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương như Thanh Hóa, Hà Nội, Hưng Yên, Sơn La, Yên Bái và Đồng Tháp được quy định trong Thông tư số 37/2018/TT-BYT về quy định mức tối đa khung giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh không thuộc phạm vi thanh toán của Quỹ bảo hiểm y tế.

Lạm phát cơ bản (CPI sau khi loại trừ lương thực, thực phẩm tươi sống; năng lượng và mặt hàng do Nhà nước quản lý bao gồm dịch vụ y tế và dịch vụ giáo dục) tháng 5 năm 2019 tăng 0,13% so với tháng trước, tăng 1,9% so với cùng kỳ; 5 tháng đầu năm 2019 so cùng kỳ tăng 1,85%.

Tháng 5 năm 2019, lạm phát chung có mức tăng cao hơn lạm phát cơ bản, điều này phản ánh biến động giá chủ yếu do giá xăng dầu, điện tăng. Lạm phát cơ bản 5 tháng đầu năm 2019 so với cùng kỳ ở mức 1,85% phản ánh chính sách tiền tệ vẫn đang điều hành ổn định.

Nằm ngoài giỏ tính chỉ số CPI, chỉ số giá vàng tháng 5 giảm 0,5% và chỉ số giá đô la Mỹ tăng 0,45%.

Bình quân giá vàng thế giới đến ngày 24/5/2019 giảm 0,09% so với tháng 4/2019; bình quân tháng 5/2019 giá vàng trong nước giảm 0,5% so với tháng trước, giá vàng dao động quanh mức 3,366 triệu đồng/chỉ vàng SJC.

Trong khi đó, căng thẳng thương mại kéo dài giữa Mỹ và Trung Quốc đã hỗ trợ đồng USD, chỉ số USD bình quân đến ngày 24/5/2019 ở mức 97,495% tăng khoảng 5% so với bình quân 97% của tháng 4/2019. Theo đó, tỷ giá giữa VND và USD tháng 5/2019 trong nước có lúc tăng khá cao, tuy nhiên, do lượng dự trữ ngoại hối dồi dào cùng với hiệu quả của việc điều hành tỷ giá theo cơ chế tỷ giá trung tâm của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam với 8 đồng tiền chủ chốt nên tỷ giá VND/USD không tăng đột biến. Bình quân tháng 5/2019, giá USD bình quân ở thị trường tự do quanh mức 23.351 VND/USD.

>>>Xem thêm  Tháng 4, CPI tăng 0,31%; Lợi tức cho thuê căn hộ giảm, nhà đầu tư ngán ngẩm<<<

Chiến tranh thương mại phủ bóng, chứng khoán Mỹ không tăng nổi

Chiến tranh thương mại phủ bóng, chứng khoán Mỹ không tăng nổi

Thị trường chứng khoán Mỹ giảm điểm khi đóng cửa phiên giao dịch ngày thứ Ba, dù đi lên vào đầu phiên. Khả năng chiến tranh thương mại Mỹ-Trung kéo dài là nguyên nhân chính khiến nhà đầu tư ngại mua cổ phiếu phiên này.

>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG; 90% giao dịch nghi ngờ rửa tiền liên quan đến ngân hàng<<< 

Hôm thứ Hai, Tổng thống Donald Trump tuyên bố "chưa sẵn sàng" đi đến một thỏa thuận thương mại với Trung Quốc, dù ông vẫn lạc quan rằng hai nền kinh tế lớn nhất thế giới có thể đạt thỏa thuận trong tương lai. Cuộc chiến thuế quan dai dẳng giữa hai nước đã làm gia tăng mối lo rằng xung đột sẽ dẫn tới sự giảm tốc của nền kinh tế toàn cầu.

"Thị trường đã trụ khá vững vào đầu phiên, nhưng rồi lại yếu đi vào cuối phiên", hãng tin Reuters dẫn lời chiến lược gia cao cấp Ryan Detrick thuộc LPL Financial nhận xét. "Rõ ràng, mối lo lớn nhất của thị trường lúc này là vấn đề thương mại".

Dữ liệu công bố ngày thứ Ba cho thấy niềm tin của người tiêu dùng Mỹ tăng trong tháng 5, nhờ các hộ gia đình trở nên lạc quan hơn về thị trường việc làm. Tuy nhiên, nhiều chuyên gia kinh tế vẫn giữ quan điểm thận trọng, cho rằng số liệu này chưa phản ánh đầy đủ ảnh hưởng của xung đột thương mại Mỹ-Trung.

Tình hình bấp bênh đã khuyến khích nhà đầu tư mua vào những tài sản có độ an toàn cao, khiến lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ kỳ hạn 10 năm giảm xuống mức thấp nhất kể từ tháng 10/2017.

Trong số 11 nhóm cổ phiếu ngành chính của S&P 500, duy chỉ có nhóm dịch vụ truyền thông chốt phiên trong trạng thái tăng.

Chỉ số S&P 500, thước đo rộng nhất của chứng khoán Mỹ, hiện đã giảm gần 5% kể từ mức điểm đóng cửa cao kỷ lục thiết lập hôm 30/4. Chỉ số công nghiệp Dow Jones tính đến tuần trước đã giảm 5 tuần liên tiếp, chuỗi tuần giảm dài nhất trong 8 năm.

Cổ phiếu công nghệ, một nhóm chịu tác động mạnh của chiến tranh thương mại, đã giảm 7,3% trong tháng này.

Lúc đóng cửa, Dow Jones giảm 0,93%, còn 25.348,37 điểm. S&P 500 giảm 0,85%, còn 2.802,15 điểm. Chỉ số Nasdaq giảm 0,39%, còn 7.607, 7.607,5 điểm.

Cổ phiếu AMD tăng 9,8% sau khi nhà sản xuất con chip này công bố những sản phẩm chip mới để cạnh tranh thị phần với đối thủ Intel. Cổ phiếu Intel giảm 2,24%.

Cổ phiếu hãng vận chuyển Mỹ FedEx giảm 0,93% sau khi công ty công nghệ Trung Quốc Huawei cho biết sẽ xem xét lại mối quan hệ với FedEx. Huawei nói rằng FedEx đã chuyển hướng về Mỹ hai gói hàng mà Huawei gửi về châu Á.

Trên sàn NYSE, số mã cổ phiếu giảm giá nhiều gấp 1,94 lần số mã tăng. Trên sàn Nasdaq, tỷ lệ tương ứng là 1,71 lần.

Có tổng cộng khoảng 6,67 tỷ cổ phiếu được chuyển nhượng thành công trên các sàn giao dịch ở Mỹ phiên này, so với mức trung bình 6,99 tỷ cổ phiếu mỗi phiên của 20 ngày giao dịch gần nhất.

Dự án Luật Chứng khoán sửa đổi: Bước ngoặt mới cho sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam

Dự án Luật Chứng khoán sửa đổi: Bước ngoặt mới cho sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam

Dự án Luật Chứng khoán (sửa đổi) được xây dựng nhằm hoàn thiện thể chế, ổn định môi trường pháp lý bảo đảm cho sự phát triển ổn định, bền vững, an toàn của thị trường chứng khoán. Qua các vòng xin ý kiến, Dự thảo Luật hiện đã được hoàn thiện, dự kiến được Chính phủ trình Quốc hội cho ý kiến vào kỳ họp tháng 5/2019 và xem xét thông qua vào tháng 10/2019. Với nhiều nội dung mới đã được bổ sung, sửa đổi mang tính đột phá, Luật Chứng khoán sửa đổi được kỳ vọng khi được ban hành sẽ tạo ra bước ngoặt mới cho sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam trong tương lai.

>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNGChiến tranh thương mại phủ bóng, chứng khoán Mỹ không tăng nổi<<< 

Ngày 24/5/2019, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước tổ chức họp báo chuyên đề về Dự án Luật Chứng khoán sửa đổi

Nâng mức vốn điều lệ tối thiểu: Phù hợp thông lệ quốc tế và thực tiễn Việt Nam

Với mục tiêu nâng cao chất lượng hàng hoá trên thị trường chứng khoán, đảm bảo quy mô, tính đại chúng của công ty, tính khả thi trong thực hiện, không gây xáo trộn thị trường, Dự thảo Luật Chứng khoán sửa đổi điều kiện về cơ cấu cổ đông (có tối thiểu 10% số cổ phiếu có quyền biểu quyết do ít nhất 100 nhà đầu tư không phải là cổ đông lớn nắm giữ) cho phù hợp với thực tiễn và thông lệ quốc tế. 
Mặt khác, Dự thảo cũng nâng vốn điều lệ đã góp tối thiểu từ 30 tỷ đồng trở lên. Việc nâng mức vốn điều lệ tối thiểu của công ty đại chúng như tại Dự thảo Luật không gây tác động đối với hoạt động của công ty đại chúng cũng như quyền, lợi ích hợp pháp của cổ đông trong công ty và hoạt động giao dịch trên thị trường chứng khoán.

Đối với chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng, Dự thảo sửa đổi, nâng điều kiện về vốn điều lệ đã góp từ 10 tỷ đồng lên 30 tỷ đồng. Thông tin về cơ sở đề xuất mức nâng điều kiện về vốn điều lệ trên, bà Vũ Thị Chân Phương, Phó Chủ tịch Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước cho biết, Luật Chứng khoán đã ban hành từ năm 2006 (có hiệu lực từ 1/1/2007), đến nay đã 12 năm, quy mô của các công ty cổ phần tăng lên rất nhiều. Thậm chí, nhiều chuyên gia quốc tế đề nghị mức này là 50 tỷ đồng để tương đồng với một số nước ASEAN. Tuy nhiên, qua thống kê tại hai Sở Giao dịch, số doanh nghiệp có mức vốn từ 30 tỷ đồng trở lên chiếm đa số (hơn 80%). Mặt khác, hiện nay, các công ty đại chúng gắn với điều kiện niêm yết mà điều kiện niêm yết tối thiểu tại sàn giao dịch hiện nay là 30 tỷ đồng. Do đó, Uỷ ban Chứng khoán đề xuất mức 30 tỷ đồng tại Dự thảo Luật.

Tạo điều kiện cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo

Cũng theo bà Vũ Thị Chân Phương, theo thông lệ quốc tế, việc huy động vốn của các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo không thực hiện qua thị trường chứng khoán vì có độ rủi ro rất cao. Thông thường họ huy động trên nguồn vốn tự có, từ các quỹ đầu tư mạo hiểm hoặc từ các “shark”… Khi doanh nghiệp đủ mạnh mới có niêm yết và huy động vốn ra công chúng. Tuy nhiên, để phản ánh xu thế mới hiện nay đồng thời tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong đó có doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo tiếp cận vốn, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước đề xuất quy định điều mang tính nguyên tắc trong dự thảo luật để tạo cơ sở pháp lý, giao Chính phủ có hướng dẫn cụ thể sau này. “Có thể sau này là thành lập đề án, sau đó có Nghị định để hướng dẫn phát hành cho các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo hoặc có thể có bảng giao dịch riêng cho những loại hình giao dịch này” – bà Phương gợi ý.

Giám sát theo 3 cấp

Trước đây, Luật hiện hành quy định giám sát thị trường theo 2 cấp: Sở giao dịch Chứng khoán - Ủy ban Chứng khoán. Tức là, tại Sở Giao dịch Chứng khoán, qua hệ thống giao dịch trực tuyến, nếu Sở phát hiện giao dịch bất thường, biến động về giá, khối lượng, sẽ phân tích, báo cáo Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước. Từ đó, Uỷ ban Chứng khoán sẽ thực hiện các bước xử lý tiếp theo như thanh tra, kiểm tra, thu thập hồ sơ, dữ liệu, xử lý tiếp theo quy định.

Tuy nhiên, hiện tại, Dự án Luật Chứng khoán sửa đổi quy định giám sát ở 3 cấp: Công ty chứng khoán – Sở Giao dịch Chứng khoán – Uỷ ban Chứng khoán. Theo đó, trong quá trình cung cấp dịch vụ tại công ty chứng khoán,nếu phát hiện dấu hiệu bất thường, công ty chứng khoán phải có trách nhiệm báo cáo Sở Giao dịch Chứng khoán. Đây là thông lệ mà các nước trong khu vực ASEAN cũng như các nước phát triển như liên minh Châu Âu đều áp dụng. Trung tâm lưu ký chứng khoán mặc dù không phải là đơn vị trực tiếp giám sát các giao dịch nhưng là đơn vị cung cấp các dữ liệu phục vụ phân tích.

Dự thảo cũng quy định bổ sung quyền cho Ủy ban Chứng khoán Nhà nước như: yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin, tài liệu, dữ liệu hoặc yêu cầu tổ chức, cá nhân giải trình, đến làm việc liên quan đến nội dung thanh tra, kiểm tra; yêu cầu tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng tại Việt Nam cung cấp thông tin liên quan đến giao dịch trên tài khoản của khách hàng đối với các trường hợp có dấu hiệu thực hiện hành vi bị cấm trong hoạt động chứng khoán và thị trường chứng khoán; yêu cầu doanh nghiệp viễn thông cung cấp tên, địa chỉ, số máy gọi, số máy được gọi, thời gian gọi để xác minh, xử lý các hành vi bị cấm để tạo điều kiện cho Uỷ ban Chứng khoán trong việc thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm trong lĩnh vực chứng khoán.

Góp phần thu hút vốn đầu tư nước ngoài

Một trong những kì vọng lớn của Luật Chứng khoán sửa đổi đó là việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Đại diện Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước cho hay, đây là câu chuyện của cả nền kinh tế. Thời gian qua, Đảng, Nhà nước, Chính phủ, các Bộ, ngành đều nỗ lực trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Hằng năm, Bộ Tài chính cũng đã tổ chức các cuộc xúc tiến đầu tư nước ngoài và cũng đã đạt nhiều kết quả tốt. Hiện dòng vốn đầu tư nước ngoài, đặc biệt là các nhà đầu tư Hàn Quốc, Nhật Bản, Mỹ đang rất quan tâm đến thị trường Việt Nam.

“Tại Dự thảo Luật này, tất cả các điều khoản đều thể hiện quan điểm thu hút nhà đầu tư nước ngoài như quy định rõ ràng; sản phẩm mới; câu chuyện nâng chất lượng hàng hoá; tạo sự thông thoáng trong việc mở tài khoản, mã số giao dịch; công bố thông tin bằng tiếng Việt và Tiếng Anh,…”- bà Phương chia sẻ.

Nhằm triển khai việc mở cửa thị trường cho nhà đầu tư nước ngoài được thực hiện từng bước theo lộ trình, bảo đảm dư địa cho các Bộ, ngành trong đàm phán, ký kết và các thoả ước quốc tế, Dự thảo Luật quy định nguyên tắc nhà đầu tư nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài khi tham gia đầu tư, hoạt động trên thị trường chứng khoán Việt Nam tuân thủ quy định về tỷ lệ sở hữu nước ngoài, điều kiện, trình tự, thủ tục đầu tư theo quy định của pháp luật về chứng khoán và giao Chính phủ hướng dẫn cụ thể về quy định này thay vì quy định chi tiết tại Dự thảo Luật tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài như nội dung chính sách đề nghị xây dựng Luật…

Nâng cao chất lượng dịch vụ kiểm toán góp phần lành mạnh hóa môi trường đầu tư kinh doanh

Nâng cao chất lượng dịch vụ kiểm toán góp phần lành mạnh hóa môi trường đầu tư kinh doanh

Ngày 23/5, tại trụ sở Bộ Tài chính, Cục Quản lý giám sát kế toán, kiểm toán (KTKT) chủ trì phối hợp với Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA) tổ chức “Họp thường niên Giám đốc các công ty kiểm toán năm 2018-2019”. Tham dự họp có đại diện một số đơn vị thuộc Bộ Tài chính như: Ủy ban chứng khoán nhà nước; Vụ Đầu tư; Cục Quản lý giá…cùng với hơn 150 đại biểu đến từ các công ty kiểm toán trên toàn quốc.

>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNGChiến tranh thương mại phủ bóng, chứng khoán Mỹ không tăng nổi<<< 

Phát biểu tại cuộc họp, ông Vũ Đức Chính, Cục trưởng Cục Quản lý Giám sát kế toán, kiểm toán cho biết: Hàng năm, Bộ Tài chính phối hợp VACPA tổ chức cuộc họp thường niên Giám đốc các công ty kiểm toán nhằm tổng kết đánh giá những kết quả đạt được trong năm và đưa ra phương hướng hoạt động của lĩnh vực kiểm toán độc lập trong năm tiếp theo. Cục trưởng Vũ Đức Chính ghi nhận và đánh giá cao những nỗ lực hoạt động của các công ty kiểm toán; sự phối hợp chặt chẽ giữa Bộ Tài chính, VACPA, công ty kiểm toán trong việc thực hiện nhiệm vụ phát triển thị trường dịch vụ kiểm toán năm 2018. Hiện nay, các công ty kiểm toán cung cấp các loại hình dịch vụ đa dạng gồm: dịch vụ kiểm toán báo cáo tài chính; kiểm toán quyết toán vốn đầu tư; soát xét báo cáo tài chính; kế toán; tư vấn thuế; thẩm định giá; tư vấn tài chính, quản lý, định giá tài sản, tư vấn nguồn nhân lực; ứng dụng công nghệ thông tin và dịch vụ liên quan khác. Thông qua dịch vụ kiểm toán báo cáo tài chính do các công ty kiểm toán cung cấp đã góp phần thực hiện công khai, minh bạch Báo cáo tài chính của các DN, qua đó ngăn ngừa lãng phí, phục vụ đắc lực cho công tác quản lý và điều hành kinh tế - tài chính của Nhà nước và hoạt động kinh doanh của DN. “Kiểm toán độc lập ngày càng khẳng định được vị trí trong nền kinh tế thị trường, được các DN, tổ chức và xã hội thừa nhận và đã góp phần quan trọng trong việc làm lành mạnh hóa môi trường đầu tư, thúc đẩy phát triển thị trường vốn”, ông Vũ Đức Chính nhấn mạnh.

Cải cách hành chính công tác kiểm soát chi qua kho bạc

Cải cách hành chính công tác kiểm soát chi qua kho bạc

Chiều ngày 28/5, tại Hà Nội, Kho bạc Nhà nước (KBNN) đã tổ chức họp báo chuyên đề về “Công tác kiểm soát chi qua kho bạc gắn với cải cách hành chính, hiện đại hóa hoạt động Kho bạc Nhà nước”. Ông Ngô Chí Tùng – Phó Chánh văn phòng Bộ Tài chính cùng ông Nguyễn Quang Vinh – Phó Tổng Giám đốc KBNN đồng chủ trì họp báo.

>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG <<< 

Báo cáo kết quả thực hiện công tác kiểm soát chi NSNN gắn với cải cách thủ tục hành chính, hiện đại hóa hoạt động KBNN, ông Trần Mạnh Hà – Vụ trưởng Vụ Kiểm soát chi của KBNN cho biết, trong những năm qua, hệ thống KBNN đã đạt được những kết quả tích cực trong việc đổi mới và tăng cường cải cách thủ tục hành chính trong công tác kiểm soát chi NSNN.

Theo đó, ông Hà cho biết, đối với công tác kiểm soát chi thường xuyên, KBNN đã tổ chức thực hiện việc kiểm soát cam kết chi NSNN qua KBNN hướng tới thông lệ quốc tế, góp phần nâng cao kỷ luật tài chính tại các đơn vị và góp phần ngăn chặn tình trạng nợ đọng trong thanh toán.

Thứ hai, KBNN đã đổi mới công tác quản lý, kiểm soát chi trên cơ sở xây dựng cơ chế, quy trình quản lý, kiểm soát, thanh toán các khoản chi NSNN qua KBNN cho phù hợp với thông lệ quốc tế để vận hành hệ thống TABMIS. KBNN đã xây dựng và trình cấp có thẩm quyền hoàn thiện cơ chế, quy trình kiểm soát chi NSNN qua KBNN theo hướng đơn giản, rõ ràng, minh bạch về hồ sơ, chứng từ, phân định rõ trách nhiệm, quyền hạn của cơ quan tài chính, cơ quan chủ quản, các đơn vị sử dụng NSNN. Thủ trưởng các đơn vị sử dụng ngân sách tự chịu trách nhiệm về quyết định chi của mình, đảm bảo các khoản chi phải đúng chế độ, tiêu chuẩn và mức chi trong phạm vi dự toán chi ngân sách được cấp có thẩm quyền giao, chịu trách nhiệm về việc áp dụng các hình thức lựa chọn nhà thầu theo quy định tại Luật Đấu thầu và các văn bản hướng dẫn.

Điểm đáng chú ý là hệ thống KBNN đã bước đầu thực hiện kiểm soát chi theo ngưỡng chi đối với các khoản chi nhỏ lẻ có giá trị từ 20 triệu đồng trở xuống nhằm tiến tới việc kiểm soát chi theo giá trị, kiểm soát chi theo rủi ro.

KBNN cũng đã xây dựng hệ thống dịch vụ công tiến tới thực hiện quy trình kiểm soát chi điện tử, tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị sử dụng NSNN, các chủ đầu tư trong quá trình giao dịch với KBNN; trình Chính phủ ban hành Nghị định quy định về thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực KBNN theo hướng thống nhất về hồ sơ thủ tục đối với các khoản chi đầu tư, chi thường xuyên, phân định rõ trách nhiệm, quyền hạn, của cơ quan tài chính, cơ quan chủ quản, KBNN và các đơn vị sử dụng ngân sách.

Bên cạnh đó, hệ thống KBNN đã thực hiện xây dựng Quy chế “một cửa một giao dịch viên” trong kiểm soát chi NSNN, ban hành theo thẩm quyền quy trình kiểm soát chi trong hệ thống KBNN theo nguyên tắc mỗi đơn vị sử dụng NSNN thực hiện giao dịch với một cán bộ KBNN tại nơi giao dịch. Qua đó, rút ngắn thời gian thanh toán mà vẫn đảm bảo tính công khai, minh bạch, trách nhiệm kiểm soát và giải quyết ngay được các vướng mắc phát sinh trong quá trình kiểm soát thanh toán.

Để thực hiện tốt chủ trương không dùng tiền mặt của Chính phủ, hệ thống KBNN đã thực hiện triệt để nguyên tắc thanh toán trực tiếp cho người cung cấp hàng hóa, dịch vụ, thực hiện trả lương qua tài khoản cho các đối tượng hưởng lương NSNN, thanh toán qua thẻ chi tiêu công đối với các khoản mua sắm sử dụng vốn NSNN…

Ông Hà cho biết thêm, trong thời gian qua, thực hiện kiện toàn lại tổ chức bộ máy, tinh gọn đầu mối trong công tác kiểm soát chi theo Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương, hệ thống KBNN đã tinh gọn, giảm được 123 cấp phòng tại KBNN cấp tỉnh, trên 2.000 đầu mối cấp tổ tại KBNN cấp huyện, giải thể 43 phòng giao dịch thuộc KBNN cấp tỉnh. Qua đó góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của KBNN.

Đổi mới công tác kiểm soát chi đầu tư  

Cùng với những cải cách trong công tác kiểm soát chi thường xuyên, KBNN cũng đã có nhiều đổi mới đối với công tác kiểm soát thanh toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản.

Báo cáo tại buổi họp báo, ông Hà cho biết, thủ tục kiểm soát thanh toán tại KBNN đã được cải cách, giảm bớt đáng kể. Về thời gian kiểm soát, thanh toán vốn đầu tư cũng đã được rút ngắn so với Nghị quyết của Chính phủ và Thông tư của Bộ Tài chính. Cụ thể, đối với các dự án đủ điều kiện giải ngân, đảm bảo thời gian kiểm soát thanh toán tại cơ quan KBNN chậm nhất là 3 ngày làm việc. KBNN đã thực hiện việc kiểm soát thanh toán theo nguyên tắc “thanh toán trước, kiểm soát sau” đối với hợp đồng thanh toán nhiều lần, do vậy, KBNN các cấp sẽ hoàn thành thủ tục thanh toán cho chủ đầu tư chậm nhất một ngày làm việc kể từ khi nhận được đủ hồ sơ hợp pháp, hợp lệ theo quy định.

Một bước tiến quan trọng nữa trong việc đơn giản hóa hồ sơ thủ tục đó là KBNN đã đẩy mạnh việc triển khai thực hiện giao nhận hồ sơ kiểm soát chi điện tử qua Cổng dịch vụ công trực tuyến của KBNN. Qua đó đã góp phần tăng cường tính minh bạch trong công tác kiểm soát chi qua KBNN. Việc thống nhất cơ chế, quản lý sử dụng và thanh toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản, thống nhất quy trình thực hiện đối với tất cả các nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước, đơn giản hóa hồ sơ thủ tục, giảm bớt các bước thực hiện, rút ngắn thời gian kiểm soát chi qua KBNN… cũng là những điểm đổi mới của KBNN trong công tác kiểm soát chi đầu tư. Qua đó đã góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho chủ đầu tư trong quá trình giao dịch với KBNN.

6 giảm - 8 tự động - 4 hơn nhờ cải cách hành chính

Đánh giá ngắn gọn về những điểm đã đạt được trong cải cách thủ tục hành chính, hiện đại hóa kho bạc nói chung và công tác kiểm soát chi qua kho bạc nói riêng, ông Nguyễn Quang Vinh – Phó Tổng Giám đốc KBNN cho rằng, kết quả đạt được tựu chung lại ở “6 cái giảm – 8 cái tự động và 4 cái hơn”.

Theo ông Vinh, 6 giảm bao gồm: Giảm hồ sơ, tài liệu; Giảm về thủ tục; Giảm đầu mối thông qua cơ chế một cửa 1 giao dịch viên; Giảm thời gian kiểm soát thanh toán (từ 7 ngày rút xuống 4 ngày với đầu tư, đối với chi thường xuyên còn 1 ngày, thậm chí thông qua dịch vụ công có thể tính theo phút giao dịch); Giảm tiếp xúc trực tiếp với khách hàng; Giảm giấy tờ.

8 tự động bao gồm: Tiếp nhận hồ sơ tự động; Kiểm soát tự động; Kế toán tự động; Thanh toán tự động; Trả kết quả tự động; Lưu trữ hồ sơ tự động; Kết xuất báo cáo tự động và đối chiếu tự động. Từ những điều đó, 4 điểm tốt hơn mà kết quả cải cách hành chính và hiện đại hóa hệ thống KBNN đã mang lại là: Công khai minh bạch hơn; Chặt chẽ hơn; An toàn hơn (nhập dữ liệu chỉ 1 lần, không thể nhập lại, sai lệch hồ sơ); Hiệu quả hơn (không thất thoát, lãng phí).

Tại buổi họp báo, KBNN cũng thông tin về tình hình thực hiện công tác kiểm soát chi và số liệu chi NSNN qua KBNN trong 5 tháng đầu năm 2019. Trong phần hỏi đáp, đại diện các cơ quan thông tấn, báo chí như báo Đầu tư, Tuổi Trẻ, Tiền Phong… đã đặt một số câu hỏi với KBNN. Nội dung các câu hỏi tập trung vào tình hình giải ngân 5 tháng đầu năm, những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu mà hệ thống KBNN đã thực hiện để đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn; Công tác phối hợp thu không dùng tiền mặt, ủy nhiệm thu, thu qua POS... Dưới sự điều hành của ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Tổng Giám đốc KBNN và ông Ngô Chí Tùng – Phó Chánh Văn phòng Bộ Tài chính, các câu hỏi của các phóng viên đã được đại diện các đơn vị chức năng của KBNN trả lời và làm rõ các nội dung.

T.N

Chứng khoán sáng 27/5: Thanh khoản tụt dốc thảm hại

Chứng khoán sáng 27/5: Thanh khoản tụt dốc thảm hại

Thị trường tăng nhẹ sáng nay nhờ một số mã trụ quay đầu tăng. Tuy nhiên cả độ rộng lẫn thanh khoản vẫn đang cho thấy sự thận trọng rất cao.

>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG; 90% giao dịch nghi ngờ rửa tiền liên quan đến ngân hàng<<< 

VN-Index chốt phiên sáng có được hơn 3 điểm tương đương 0,31% so với tham chiếu nhưng chỉ có 113 mã tăng/140 mã giảm. VN30-Index tăng 0,38% với 13 mã tăng/11 mã giảm. Mặt bằng cổ phiếu thực chất là giằng co, còn điểm số phần lớn là do GAS, VNM, VIC, MSN tạo ra.

VNM tăng 1,38%, GAS tăng 1,22% là hai mã mạnh nhất trong nhóm blue-chips. Đây cũng là hai cổ phiếu lao dốc nặng nhất tuần trước: VNM giảm 3,8%, GAS giảm 3,4%. Do đó mức phục hồi sáng nay mang tính kỹ thuật khá rõ. Thêm nữa cả hai cổ phiếu này đều có thanh khoản rất nhỏ, VNM mới khớp bằng 17% phiên cuối tuần trước, GAS xấp xỉ 19%.

VIC tăng nhẹ 0,61% nhưng nhờ vốn hóa lớn nên ảnh hưởng cũng khá nổi bật tới VN-Index. VIC tuần trước cũng giảm 1,6%. MSN tăng 1,15% nhưng lại là mã tác động ít nhất trong "tứ trụ" nói trên. MSN chỉ trong 4 phiên cuối tuần trước giảm tới gần 4,5%.

Độ rộng của nhóm VN30 có khá nhiều mã tăng nhưng phần lớn là yếu: VCB tăng 0,6%, VRE tăng 0,57%, TCB tăng 0,43%, VJC tăng 0,58% là các mã còn lại tương đối đáng kể.

Điểm tích cực của nhóm blue-chips là mức giảm rất nhẹ và không có trụ giảm. VHM, SAB, HPG đều đang cố gắng trụ lại ở tham chiếu dù tình hình cũng không mấy khả quan vì lượng chặn mua quá ít. CTG giảm 0,24%, VPB giảm 0,27% là các mã lớn nhất nhóm giảm.

Sàn HSX giao dịch chủ đạo là giằng co và cổ phiếu cũng rất ít nổi bật, kể cả nhóm đầu cơ. Cả sàn có chưa tới 60 mã tăng được hơn 1%, chủ yếu là nhóm thanh khoản kém. Smallcap còn đang giảm 0,24%, Midcap giảm 0,02%.

HNX chỉ có rổ HNX30 là tăng nhẹ 0,05% nhờ bớt được ảnh hưởng của ACB. Cổ phiếu này đang giảm 0,68% trong khi cũng chỉ có PVS tăng 0,84% là đáng kể. VCG giảm 0,37%, SHB tham chiếu. HNX30 có 9 mã tăng/12 mã giảm, tình thế khá cân bằng. Trong khi đó toàn sàn có 45 mã tăng/62 mã giảm cộng với ACB khiến HNX-Index giảm 0,26% so với tham chiếu.

Giao dịch sáng nay tạo cảm giác buồn tẻ vì thị trường không có điểm nổ cần thiết và dòng tiền suy yếu quá nhiều. HSX trừ ROS thì cổ phiếu thanh khoản nhất là FPT cũng chỉ khớp hơn 44 tỷ đồng, giá giảm 1%. Blue-chips thuộc nhóm VN30 giao dịch nhiều nhất sau FPT là HPG thậm chí còn có 28 tỷ đồng. Cả rổ VN30 giao dịch phiên sáng 422,3 tỷ đồng, giảm 38% so với sáng phiên cuối tuần trước và ở mức thấp kỷ lục kể từ đầu tháng 2/2019. ROS chiếm 19,4% giá trị rổ chứng tỏ các mã còn lại giao dịch cực nhỏ.

Cả hai sàn khớp sáng nay đạt 1.119,6 tỷ đồng, giảm 36% so với phiên trước. HSX khớp thậm chí chưa tới 1.000 tỷ đồng.

Khối ngoại mua ròng là tín hiệu vui trong bối cảnh giao dịch quá chán nản. Trên HSX, mức giải ngân đạt 116 tỷ đồng, bán ra 84,3 tỷ đồng. VN30 mua 83,1 tỷ, bán 37 tỷ đồng. HNX mua 2,1 tỷ, bán 1,1 tỷ đồng. Giao dịch quá nhỏ nên cũng không có cổ phiếu nào đáng chú ý. Phía mua ròng có HSG, PLX, CII, POW nhỉnh hơn mặt bằng chung. Phía bán ròng có PVD, DHC, HPG.

Viettel châm ngòi cuộc đua nâng dung lượng Internet, VNPT và FPT sẽ tung chiêu gì?

Viettel châm ngòi cuộc đua nâng dung lượng Internet, VNPT và FPT sẽ tung chiêu gì?

Viettel vừa tung chiêu nâng gấp đôi băng thông hiện tại cho thuê bao Internet nhưng vẫn giữ nguyên giá. Động thái này sẽ khiến cho các nhà cung cấp dịch vụ như VNPT và FPT phải đưa ra "đấu pháp" để giữ khách hàng.

>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG; 90% giao dịch nghi ngờ rửa tiền liên quan đến ngân hàng<<< 

Viettel châm ngòi cho cuộc chạy đua

Mới đây, Viettel công bố chương trình ưu đãi dành riêng cho khách hàng đang sử dụng dịch vụ Internet cố định của Viettel. Theo đó, toàn bộ khách hàng sử dụng Internet Viettel sẽ được nâng gấp đôi băng thông hiện tại trong khi giá cước vẫn giữ nguyên không thay đổi.

Viettel cho rằng, sự bùng nổ của công nghệ và xu hướng chuyển dịch số đã khiến nhu cầu tiêu thụ nội dung trực tuyến ngày một tăng. Người dùng bắt đầu quen thuộc với việc xem video có độ phân giải lên tới 4K - 8K, sử dụng các công cụ lưu trữ dữ liệu trực tuyến, tạo ra xu hướng streaming, livestream và tải tài liệu dung lượng lớn lên đến đơn vị Terabyte. Điều đó đồng nghĩa với việc dịch vụ Internet cần có tốc độ cao vượt trội, băng thông lớn để phục vụ nhu cầu học tập, giải trí đa dạng.

"Đáp ứng nhu cầu của khách hàng, từ ngày 1/6/2019, Viettel áp dụng chính sách nâng gấp đôi băng thông cho khách hàng đang sử dụng dịch vụ Internet cố định với giá cước không đổi. Dải gói cước sau khi nâng của Viettel sẽ có băng thông tối thiểu là 30Mpbs, trong khi băng thông tối đa có thể lên tới vài trăm Mpbs. Động thái này của Viettel không chỉ phù hợp với xu hướng tăng tốc độ đường truyền dịch vụ Internet trên thế giới mà còn là bước đi đầu tiên nằm trong lộ trình hiện thực hóa mục tiêu đưa Việt Nam vào top 10 nước dẫn đầu về chất lượng Internet tại Châu Á của hãng Viễn thông Quân đội", đại diện Viettel nói.

Động thái này của Viettel được cho là sẽ tác động rất mạnh đến thị trường cung cấp dịch vụ Internet cố định Việt Nam bởi nếu không phản ứng nhanh rất có thể khách hàng sẽ chuyển sang nhà cung cấp dịch vụ có tốc độ tốt hơn mà giá không đổi.

Nhà mạng khác sẽ phản ứng ra sao?

Viettel tuyên bố nâng đôi dung lượng mà vẫn giữ nguyên giá sẽ nhắm đến những khách hàng cá nhân của nhà mạng này, nghĩa là những nhà cung cấp dịch vụ Internet cố định nào có nhiều khách hàng cá nhân sẽ chịu tác động lớn nhất của chính sách từ Viettel. Như vậy, VNPT và FPT sẽ là những nhà mạng đầu tiên phải đưa ra chính sách ưu đãi cho khách hàng để đảm bảo cán cân cạnh tranh không bị nghiêng về phía Viettel.

Bình luận về vấn đề này, ông Vũ Thế Bình, Tổng thư ký Hiệp hội Internet Việt Nam cho rằng, cần phải xem lại chương trình của Viettel là khuyến mại hay là chương trình dài hạn cho khách hàng. Việc nâng gấp đối dung lượng như thế này thì người tiêu dùng sẽ được lợi, nhưng cũng cần xem có bị bán dưới giá thành hay không.

"Nếu đây là chương trình dài hạn thì trước mắt những nhà mạng như VNPT và FPT Telecom sẽ bị ảnh hưởng đầu tiên bởi những doanh nghiệp này có nhiều khách hàng cá nhân. Còn những doanh nghiệp như Netnam hay CMC Telecom đánh vào phân khúc khách hàng doanh nghiệp nên trước mắt chưa bị ảnh hưởng gì" ông Vũ Thế Bình nói.

Sau động thái này của Viettel, CMC Telecom cho biết, về cơ bản CMC Telecom không bị ảnh hưởng bởi chính sách "tăng đôi dung lượng, giữ nguyên giá cũ" của Viettel bởi CMC Telecom chủ yếu phục vụ đối tượng khách hàng doanh nghiệp. Lớp khách hàng này cần chất lượng dịch vụ tốt theo tiêu chuẩn 5 sao. CMC Telecom đang phục vụ khách hàng doanh nghiệp theo tiêu chuẩn đó. Lãnh đạo CMC Telecom cũng xác nhận những doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet nào hướng tới khách hàng cá nhân sẽ là những nhà cung cấp bị ảnh hưởng lớn nhất vì chương trình của Viettel.

Trả lời ICTnews, đại diện của VNPT - VinaPhone cho hay, VNPT sẽ tung ra chương trình "Nâng gấp đôi tốc độ đường truyền, với mức giá không đổi" từ 1/6/2019. Theo đó, khách hàng của VNPT sẽ được trải nghiệm tốc độ lên tới hàng trăm Mbps, tối thiểu 30Mbps để lướt web, nghe nhạc siêu nhanh, xem video với độ phân giải cao đến 4K. Như vậy, VNPT là nhà mạng đầu tiên có phản ứng nhanh trước động thái của Viettel. Nhiều khả năng, đầu tuần tới VNPT sẽ tuyên bố chính sách này cho khách hàng của mình.

Hiện FPT Telecom chưa đưa ra tuyên bố chính thức trước động thái của Viettel. Tuy nhiên, phía FPT Telecom lại tự tin về sức mạnh về nội dung cho các thuê bao của mình sẽ giữ chân khách hàng và cũng là lợi thế để thu hút các thuê bao mới. Có lẽ trong tuần tới phía FPT Telecom cũng phải có tuyên bố cho khách hàng khi hai nhà mạng lớn là VNPT và Viettel đồng loạt công bố chính sách nâng đôi dung lượng giá không đổi.

 

Bộ Tài chính ban hành kế hoạch phát triển chính phủ điện tử

Bộ Tài chính ban hành kế hoạch phát triển chính phủ điện tử

Nhằm nâng cao ứng dụng công nghệ thông tin, đẩy mạnh phát triển chính phủ điện tử, Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định 844/QĐ-BTC về kế hoạch hành động triển khai một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm phát triển chính phủ điện tử giai đoạn 2019 - 2020, định hướng 2025.

>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG; 90% giao dịch nghi ngờ rửa tiền liên quan đến ngân hàng<<< 

Quyết định 844/QĐ-BTC nêu rõ lộ trình phát triển chính phủ điện tử của Bộ Tài chính trải qua 2 giai đoạn, từ 2019-2020 và 2021-2025. Đối với giai đoạn từ 2019-2020, Bộ Tài chính đặt ra 8 mục tiêu là, hoàn thiện khung pháp lý đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin; ban hành các văn bản quản lý, kết nối, chia sẻ dữ liệu trong ngành; tỷ lệ hồ sơ giải quyết trực tuyến đạt từ 20% trở lên; tích hợp 30% các dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 với cổng dịch vụ công quốc gia; 100% hồ sơ giải quyết thủ tục hành chính được thực hiện thông qua cổng dịch vụ công và hệ thống thông tin một cửa điện tử; tối thiểu 30% dịch vụ công trực tuyến thực hiện ở mức độ 4; 100% dịch vụ công được hỗ trợ giải đáp thắc mắc cho người dân, DN; 20% dịch vụ công trực tuyến sử dụng chữ ký số trên nền tảng di động thực hiện thủ tục hành chính; 50% dịch vụ công trực tuyến xử lý bằng hồ sơ điện tử; 20% thông tin của người dân được tự động nhập vào biểu mẫu trực tuyến; 50% dịch vụ công trực tuyến sử dụng dữ liệu từ cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký DN.

Trong khi đó, giai đoạn 2021-2025 Bộ Tài chính đặt ra 7 mục tiêu cụ thể. Ngoài việc tiếp tục phát triển các hệ thống nền tảng chính phủ điện tử, kết nối với hệ thống thông tin của các nước ASEAN và một số nước khác, thì 100% giao dịch trên cổng dịch vụ công quốc gia, cổng dịch vụ công và hệ thống thông tin một cửa điện tử của Bộ Tài chính được xác thực điện tử. Bên cạnh đó, tích hợp 50% các dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 với cổng dịch vụ công quốc gia; tỷ lệ hồ sơ giải quyết theo dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 đạt từ 50% trở lên; 80% thủ tục hành chính đáp ứng yêu cầu được triển khai dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4;  90% người dân và DN hài lòng về việc giải quyết thủ tục hành chính; 60% các hệ thống thông tin liên quan đến người dân, DN được liên thông qua nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu; 90% hồ sơ công việc tại được xử lý trên môi trường mạng…

 

Doanh số bán ô tô của Honda Việt Nam năm 2019 tăng trưởng 150%, đạt mức cao kỷ lục

Doanh số bán ô tô của Honda Việt Nam năm 2019 tăng trưởng 150%, đạt mức cao kỷ lục

Sản lượng bán hàng của HVN trong năm tài chính 2019 đều tăng trưởng trong 2 lĩnh vực ô tô và xe máy.

>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG, CẦN CHUẨN BỊ GÌ TRƯỚC KHI THÀNH LẬP CÔNG TY<<< 

Chiều ngày 23/5/2019, tại buổi tổng kết hoạt động tài chính 2019 và kế hoạch phát triển năm tài chính 2020 của Honda Việt Nam (HVN), ông Keisuke Tsuruzono – Tổng giám đốc HVN cho biết, thị trường ô tô và xe máy đang trên đà phát triển và Việt Nam là thị trường chiến lược của Honda.

Trong năm tài chính 2019, sản lượng bán hàng bao gồm xe máy, ô tô và sản phẩm máy động lực của toàn tập đoàn đạt khoảng 31,8 triệu xe.

Đối với vực kinh doanh xe máy, sản lượng bán hàng xe máy toàn cầu đạt 20,2 triệu xe (tăng 3,5% so với cùng kỳ năm tài chính 2018) chủ yếu nhờ tăng trưởng ở châu Á, đặc biệt là Indonesia và Việt Nam.

Trong lĩnh vực kinh doanh ô tô, sản lượng bán hàng ô tô toàn cầu của Honda đạt 5,32 triệu xe (tăng 2,4% so với năm tài chính 2018), trong đó tăng trưởng chính tại thị trường Trung Quốc và Nhật Bản.

Lĩnh vực kinh doanh sản phẩm động lực, sản lượng đạt 6,3 triệu sản phẩm (tăng 0,6% so với năm tài chính 2018).

Honda kỳ vọng rằng năm tài chính 2020 sẽ duy trì được sản lượng ở cả lĩnh vực kinh doanh xe máy và máy động động lực, mục tiêu tương ứng là 20,25 triệu xe máy và 6,39 triệu sản phẩm máy động lực.

Riêng mảng ô tô, do ảnh hưởng thuế tiêu thụ tại Nhật Bản cũng như nhu cầu tiêu dùng giảm ở thị trường Mỹ, dự đoán sản lượng ô tô sẽ giảm nhẹ.

Tại thị trường Việt Nam, tổng dung lượng thị trường xe máy trong năm tài chính 2019 đạt khoảng 3,37 triệu xe (tăng khoảng 2,7 so với kỳ trước). Trong đó, doanh số bán hàng của HVN đạt mức 2,56 triệu xe, tăng 7,6% so với năm tài chính 2018, thị phần đạt 76,8%.

Về xuất khẩu, bên cạnh việc tập trung hoạt động kinh doanh trong nước, trong kỳ vừa qua, sản lượng xuất khẩu xe nguyên chiếc (CBU) đạt 153.000 xe, tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 368 triệu USD bao gồm cả xuất khẩu xe nguyên chiếc và phụ tùng, tăng 11,2% so với năm tài chính 2018.

Trong năm tài chính 2020, HVN sẽ đẩy mạnh sản lượng xuất khẩu xe nguyên chiếc lên 156.000 chiếc, tăng khoảng 2% so với năm tài chính 2019. HVN dự đoán dung lượng thị trường xe máy tiếp tục ổn định và HVN sẽ giữ vững doanh số và thị phần trên thị trường.

Theo ông Keisuke Tsuruzono, năm tài chính 2019 đánh dấu sự trở lại của ngành công nghiệp ô tô khi môi trường và các điều kiện kinh doanh đã dần ổn định, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà sản xuất và kinh doanh ô tô trong nước phát triển.

Tổng dung lượng thị trường đạt 355.592 xe, trong đó, mảng xe du lịch đạt hơn 266.000 xe, tăng 45% so với kỳ trước.

Với HVN, năm tài chính 2019 cũng đánh dấu bước phát triển của lĩnh vực kinh doanh ô tô với doanh số bán ra đạt 32.218 xe, tăng 150% so với kỳ trước, cao hơn mức tăng trưởng chung của thị trường xe du lịch, đồng thời tạo nên kỷ lục về doanh số kể từ khi HVN tham gia vào mảng sản xuất và kinh doanh ô tô Việt Nam.

Samsung sẽ lãi thêm ít nhất 1 tỷ USD nhờ 'thảm họa Huawei'

Samsung sẽ lãi thêm ít nhất 1 tỷ USD nhờ 'thảm họa Huawei'

Được lợi chỗ này, nhưng hãng điện tử Hàn Quốc cũng có thể chịu thiệt chỗ khác.

Samsung Electronics là một trong những hãng sẽ hưởng lợi sau vụ việc Mỹ cấm vận Huawei , sau khi vào thứ 4 vừa qua nhiều nhà mạng Nhật Bản thông báo sẽ không bán sản phẩm mới nhất hãng điện tử Trung Quốc này.

Tuy vậy các nhà phân tích cũng nói rằng Samsung nên cẩn thận vì vụ việc này cũng có thể là con dao 2 lưỡi, và hãng này cũng có thể 'chịu nhiệt' khi nó ảnh hưởng tới toàn bộ thị trường smartphone nói chung. Samsung cũng có một hệ thống cung cấp linh kiện cho Huawei, và sẽ bị giảm doanh thu nếu như Huawei suy thoái.

Huawei và Samsung là 2 nhà sản xuất smartphone lớn nhất Thế giới, và hiện đang cạnh tranh ở mọi thị trường. Huawei đang có lợi thế ở sân nhà Trung Quốc của họ, còn Samsung lại phát triển mạnh mẽ ở thị trường Mỹ, nơi mà các công ty của Trung Quôc đã bị giới hạn từ lâu.

Lee Seung-woo, một nhà phân tích tại công ty đầu tư và bảo mật Eugene nói rằng Samsung có thể tăng lãi lên thêm 1.13 tỷ USD nếu như giành được 50% trong con số 100 triệu máy/năm mà Huawei đã có được ở các thị trường ngoài Trung Quốc, tương ứng với số tiền lợi nhuận tăng 14.1% cho mảng thiết bị di động.

Ông Lee chia sẻ: "Mảng sản xuất smartphone của Huawei sẽ giảm một cách nhanh chóng ở các thị trường quốc tế, sau khi hãng này mất đối tác phần mềm chủ lực (Google), đây chính là cơ hội để Samsung phục hồi sản phẩm của mình, sau một thời gian dài bị Huawei xâm chiếm."

Vào quý một năm nay, mảng smartphone của Samsung giảm 8% xuống còn 72 triệu đơn vị, trong khi đó Huawei đã tăng tới 50% và đạt 59.1 triệu đơn vị.

Samsung vẫn giữ vị trí đứng đầu với thị phần lên tới 21%, nhưng Huawei cũng đã phát triển nhanh chóng và đạt được 17%. Cổ phiếu của Samsung đã tăng 2.74% trong thứ 3 tuần này, ngay sau khi tin Google cắt quan hệ với hãng đối thủ Huawei.

Vàng thế giới lên cao nhất trong 1 tuần khi chứng khoán toàn cầu lao dốc

Vàng thế giới lên cao nhất trong 1 tuần khi chứng khoán toàn cầu lao dốc

Các hợp đồng vàng tương lai tiếp tục tăng nhẹ lên mức đóng cửa cao nhất trong 1 tuần vào ngày thứ Năm (23/05), chủ yếu nhờ đà lao dốc trên các thị trường chứng khoán toàn cầu do dự báo bất đồng thương mại Mỹ - Trung sẽ kéo dài, MarketWatch đưa tin.

>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG, CẦN CHUẨN BỊ GÌ TRƯỚC KHI THÀNH LẬP CÔNG TY<<< 

Kim loại quý cũng tìm thấy hỗ trợ sau khi biên bản cuộc họp của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) công bố 1 ngày trước đó cho thấy các thành viên có vẻ hài lòng với lập trường kiên nhẫn về lãi suất.

Kết thúc phiên giao dịch ngày thứ Năm, hợp đồng vàng giao tháng 6 tiến 11.20 USD(tương đương 0.9%) lên 1,285.40 USD/oz, mức đóng cửa cao nhất kể từ ngày 16/05/2019, dữ liệu từ FactSet cho thấy. Hợp đồng này đã khởi sắc hôm thứ Tư (22/05) và tiếp tục tăng trong phiên giao dịch điện tử, khi biên bản họp của Fed công bố.

Theo CNBC, cũng trong ngày thứ Năm, hợp đồng vàng giao ngay cộng 1% lên 1,285.63 USD/oz.

Vàng tiếp tục tăng giá vào ngày thứ Năm khi các chỉ số chứng khoán Mỹ lao dốc. Chứng khoán châu Âu và châu Á cũng chìm trong sắc đỏ. Chỉ số đồng USD (ICE U.S. Dollar Index) – thước đo diễn biến của đồng USD so với 6 đồng tiền chủ chốt khác – lùi 0.2% xuống 97.889, góp phần thúc đẩy vàng, vốn được neo giá theo đồng bạc xanh.

Biên bản cuộc họp ngày 30/04 – 01/05 từ Ủy ban Thị trường Mở Liên bang (FOMC)  công bố vào ngày thứ Tư (22/05) cho thấy các thành viên FOMC đồng ý rằng trạng thái bất động có thể kéo dài “một thời gian”.

“Lãi suất đang ổn định, nếu không thể giảm xuống vào cuối năm nay”, ông Wright nói.

“FOMC cũng có thể buộc phải bổ sung vào bảng cân đối kế toán khi xung đột thuế quan Mỹ - Trung bước vào giai đoạn bế tắc và nhu cầu của Trung Quốc đối với trái phiếu Chính phủ Mỹ bắt đầu chấm dứt. Đây đều là yếu tố tác động tích cực đến sự phục hồi của vàng”, ông Wright chia sẻ.

Về dữ liệu kinh tế công bố vào ngày thứ Năm, số người nộp đơn xin trợ cấp thất nghiệp giảm xuống 211,000 người, nhưng các doanh nghiệp Mỹ tăng trưởng trong tháng 5 với tốc độ thấp nhất kể từ trước khi Tổng thống Mỹ Donald Trump đắc cử, với chỉ số sản xuất IHS Markit giảm từ 52.6 trong tháng 4 xuống 50.6 trong tháng này. Doanh số bán nhà ở mới trong tháng 4 ở mức 673,000 nhà , rớt 6.9% so với tháng 3.

Trong số các kim loại trên sàn Comex, hợp đồng bạc giao tháng 7 tiến 1.1% lên 14.613 USD/oz. Hợp đồng đồng giao tháng 7 nhích gần 0.1% lên 2.681 USD/lb.

Trong khi đó, hợp đồng bạch kim giao tháng 7 lùi 0.7% xuống 799.50 USD/oz. Hợp đồng paladi giao tháng 6 mất 0.4% còn 1,307.80 USD/oz.

Diễn biến giá vàng giao ngay 3 phiên vừa qua

Diễn biến giá vàng giao ngay trên sàn New York

 

Nhận diện thách thức và giải pháp cơ cấu lại NSNN và nợ công tại Việt Nam

Nhận diện thách thức và giải pháp cơ cấu lại NSNN và nợ công tại Việt Nam

Bên lề Hội nghị PEMNA, Thứ trưởng Bộ Tài chính Đỗ Hoàng Anh Tuấn đã trả lời phóng viên các cơ quan thông tấn báo chí xung quanh những chủ đề được thảo luận tại Hội nghị cũng như ý nghĩa các vấn đề này đối với việc thực hiện cơ cấu lại NSNN và quản lý nợ công đảm bảo nền tài chính quốc gia an toàn, bền vững ở Việt Nam hiện nay.

>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG, CẦN CHUẨN BỊ GÌ TRƯỚC KHI THÀNH LẬP CÔNG TY<<< 

Hội nghị toàn thể PEMNA năm 2019 có chủ đề “Cơ cấu lại NSNN và quản lý nợ công để đảm bảo nền tài chính quốc gia an toàn, bền vững”. Xin ông cho biết chủ đề này có ý nghĩa như thế nào trong bối cảnh hiện nay của Việt Nam?

Thứ trưởng Đỗ Hoàng Anh Tuấn: Hôm nay Bộ Tài chính Việt Nam phối hợp với Ngân hàng thế giới và Bộ Tài chính và Kinh tế Hàn Quốc tổ chức Hội thảo quốc tế về diễn đàn quản lý, chọn chủ đề đó là “Cơ cấu lại NSNN và quản lý nợ công để đảm bảo nền tài chính quốc gia an toàn, bền vững” để phục vụ đảm bảo an ninh tài chính quốc gia và phục vụ phát triển kinh tế nhanh và bền vững.

Đây là một diễn đàn để Việt Nam trao đổi những thách thức cũng như kết quả đạt được trong thực hiện nhiệm vụ chiến lược của mình, đó là tái cơ cấu lại nền tài chính quốc gia, trong đó trọng tâm là tái cơ cấu ngân sách và nợ công, đảm bảo an ninh an toàn cho nền tài chính quốc gia.

Trong thời gian qua thực hiện chiến lược này chúng ta đã đạt được những kết quả quan trọng, đó là chúng ta đã phục hồi được tỷ lệ động viên vào ngân sách đạt trên 23,5% GDP, quan trọng hơn tỷ lệ thu nội địa đạt trên 80% GDP. Tỷ lệ thu thu từ dầu khí hay tài nguyên khoáng sản chỉ còn dưới 4%.

Về quản lý nợ công, chúng ta đã đạt được bước tiến đáng kể khi giảm bội chi NS từ 5% trước đây xuống dưới 3,5% cho 2 năm gần đây. Trong đó, quyết toán 2017 tỷ lệ này chỉ còn 2,74% GDP. Nhờ vậy, nợ công giảm từ 63,8% năm 2015-2016 xuống 58,4% vào năm 2018. Đáng chú ý, chủ yếu nợ công đó từ việc phát hành trái phiếu Chính phủ trong nước với thời hạn trên 10 năm, mức lãi suất khá hợp lý khoảng 4,6-4,72%.

Như vậy, có thể thấy rằng chủ đề của Hội nghị PEMNA 2019 có nội dung quan trọng và cũng chính là mục tiêu Việt Nam đang kiên định thực hiện trong thời gian qua và trong giai đoạn sắp tới.

Xin ông cho biết vai trò và lợi ích của Việt Nam khi tham gia vào Mạng lưới Quản lý chi tiêu công tại châu Á (PEMNA)? Và với vai trò là nước chủ nhà của Hội nghị toàn thể PEMNA 2019, Bộ Tài chính kỳ vọng sẽ đạt được điều gì thông qua Hội nghị năm nay?

Thứ trưởng Đỗ Hoàng Anh Tuấn: Như tôi đã nói ở trên, tuy đạt được kết quả ban đầu, nhưng nền tài chính ngân sách Việt Nam vẫn còn nhiều thách thức. Thông qua Hội nghị chúng ta có thể trao đổi, làm việc với các đối tác, học tập kinh nghiệm các nước giải quyết những thách thức của nền tài chính. Trong đó, thách thức quan trọng là thách thức liên quan đến chính sách động viên, làm thế nào để chính sách động viên thu ngân sách trên cơ sở khuyến khích được DNVVN và siêu nhỏ, chống được chuyển giá, mở rộng cơ sở thuế thực hiện tỷ lệ động viên nhằm khuyến khích nền kinh tế phát triển.

Thứ hai, tiếp tục cơ cấu lại nợ công, các nước trong khu vực chỉ nợ công 48%, chúng ta dù đã giảm nhưng tỷ lệ nợ công vẫn còn cao, chiếm 58% GDP. Như vậy, cần tiếp tục hạ tỷ lệ này để đảm bảo nền tài chính quốc gia an toàn bền vững. Đồng thời tiếp tục cơ cấu lại nợ công.

Thứ ba, quản lý chi tiêu NS sao cho giải quyết được tình trạng giải ngân chậm, sử dụng không hiệu quả trong đầu tư công, quản lý NS qua đầu ra, tăng đầu tư công trong chi tiêu NS. Làm sao đạt được tỷ lệ bền vững 27-28% như năm 2017-2018.

Thứ tư, xây dựng Kho bạc quản lý chi tiêu NS hiện đại, thực hiện quan hệ giao dịch của kho bạc với tổ chức, người dân theo cấp độ 3, 4 hướng tới xây dựng kho bạc điện tử.

Thứ năm, từng bước cùng các bộ ngành thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt theo khu vực công trong toàn xã hội, đồng thời chuyển đổi từ kho bạc điện tử sang kho bạc số trong thời gian 3-5 năm tới. Đây là những vấn đề thách thức sẽ được thảo luận trong HN này để tìm ra giải pháp.

Ông Nguyễn Thành Nam: Việt Nam đang đứng trước thời cơ 'giành độc lập” về công nghệ!

Ông Nguyễn Thành Nam: Việt Nam đang đứng trước thời cơ 'giành độc lập” về công nghệ!

“Bản chất của chiến tranh thương mại Mỹ - Trung là cuộc chiến về công nghệ. Mỹ cho rằng Trung Quốc đã ăn cắp chất xám của mình. Cũng có thể là thật. Bằng cách nào đó trong thời gian rất ngắn Trung Quốc đã có được những công nghệ mà Mỹ tích luỹ hàng trăm năm. Đấy là bài học của chúng ta”, ông Nguyễn Thành Nam, cựu CEO FPT nói với Trí Thức Trẻ.

>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG, CẦN CHUẨN BỊ GÌ TRƯỚC KHI THÀNH LẬP CÔNG TY<<< 

"Make in Vietnam" là khẩu hiệu được Bộ TTTT đặc biệt nhấn mạnh tại Diễn đàn quốc gia phát triển doanh nghiệp công nghệ Việt Nam đầu tháng 5 với mục tiêu hướng đến một đất nước hùng cường.

 

"Nội hàm của cụm từ này muốn thể hiện những sản phẩm công nghệ được sáng tạo tại Việt Nam,thiết kế tại Việt Nam, làm ra tại Việt Nam", Bộ trưởng Bộ TTTT Nguyễn Mạnh Hùng nói, bởi ông cho rằng nếu cứ tập trung gia công, lắp ráp, Việt Nam rất khó thực hiện được những khát vọng của mình.

Phía Bộ TTTT, dù đã giải thích rất kỹ về ý nghĩa và tính toán truyền thông của khẩu hiệu này, dù vậy, "Make in Vietnam" đến nay vẫn khiến cộng đồng có nhiều tranh cãi. Nhưng với những người trong giới công nghệ lâu năm như ông Nguyễn Thành Nam, Founder của Funix, cựu CEO FPT thì những tranh luận về tính đúng/sai của slogan, là điều thừa thãi.

"Đây là một tuyên bố mạnh mẽ của Chính phủ về quyết tâm giành độc lập về mặt công nghệ, vốn là điều khó trước đây. Khẩu hiệu này theo tôi là được ra đời đúng thời điểm", ông Nguyễn Thành Nam nói.

Thời điểm ở đây có nghĩa là việc đất nước đang trở thành một trung tâm thu hút đầu tư của cả thế giới. "Nếu không ai quan tâm đầu tư thì sẽ không thể tự có công nghệ được", ông Nam khẳng định.

Thế và lực của Việt Nam cũng ngày một được khẳng định, theo ông Nam. Đây là một thuận lợi, một thời cơ lớn cho "quyết tâm giành độc lập về công nghệ", bởi chỉ khi thế nước mạnh, Việt Nam mới có thể đàm phán "tất tay" với các nước khác. "Độc lập là buộc phải chiến đấu, giành lấy chứ không phải tự nhiên mà có được".

Bên cạnh đó, cuộc chiến tranh thương mại Mỹ - Trung cũng là thời cơ cho Việt Nam trong việc chinh phục mục tiêu này do xung đột của hai cường quốc về bản chất là cuộc chiến công nghệ.

Vàng thế giới khởi sắc khi chứng khoán Mỹ sụt giảm

Vàng thế giới khởi sắc khi chứng khoán Mỹ sụt giảm

Các hợp đồng vàng tương lai quay đầu tăng nhẹ vào ngày thứ Tư (22/05), một ngày sau khi ghi nhận mức thấp nhất trong gần 3 tuần, khi kim loại quý tìm thấy hỗ trợ từ đà sụt giảm của chứng khoán Mỹ, MarketWatch đưa tin.

>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG, CẦN CHUẨN BỊ GÌ TRƯỚC KHI THÀNH LẬP CÔNG TY<<< 

Giá các hợp đồng vàng tiếp tục tăng lên trong phiên giao dịch điện tử, ngay sau khi biên bản cuộc họp của Ủy ban Thị trường Mở Liên bang (FOMC) ngày 30/04 -01/05 được công bố, cho thấy các thành viên bỏ phiếu có vẻ hài lòng với lập trường kiên nhẫn về lãi suất.

“Các thành viên Ủy ban cho thấy cách tiếp cận kiên nhẫn của họ đối với lãi suất, và lưu ý rằng một số rủi ro bất lợi đối với tăng trưởng vẫn còn”, George Gero, Giám đốc điều hành tại RBC Wealth Management, nhận định. “Tất cả đều như dự báo, nhưng vàng và bạc đã hoạt động tương đối tốt mặc dù chỉ số đồng USD dao động quanh mốc 98”.

 Kết thúc phiên giao dịch ngày thứ Tư, trước khi biên bản họp được công bố, hợp đồng vàng giao tháng 6 nhích 1 USD (tương đương gần 0.1%) lên 1,274.20 USD/oz. Trong phiên giao dịch điện tử sau khi biên bản cuộc họp của Fed công bố, hợp đồng này dao động ở mức 1,274.30 USD/oz.

Theo CNBC, cũng trong ngày thứ Tư, hợp đồng vàng giao ngay gần như đi ngang ở mức 1,273.68 USD/oz.

Vàng tăng nhẹ trong phiên ngày thứ Tư khi các chỉ số chứng khoán Mỹ nhuốm sắc đỏ, với Dow Jones rớt 70 điểm, tương đương 0.3% khi các hợp đồng vàng chốt phiên.

Vàng hầu như không thể đạt được đà tăng mạnh trong bối cảnh sự không chắc chắn về thương mại Mỹ - Trung tiếp diễn, vốn thường hỗ trợ hoạt động mua vàng.

“Mặc dù có sự không chắc chắn về đàm phán thương mại, nhưng nhà đầu tư lại không có nhu cầu nắm giữ tài sản trú ẩn an toàn như vàng”, Naeem Aslam, Giám đốc phân tích thị trường tại TF Global Markets, cho hay.

Ông Aslam chỉ ra dữ liệu cho thấy chứng chỉ quỹ SPDR Gold ETF đã ghi nhận dòng vốn rút ra lớn nhất kể từ năm 2016, với số tiền vượt quá 926 triệu USD chỉ trong tuần đầu tiên của tháng 5/2019. Đáng chú ý, tuần trước, dòng tiền vào là 120 triệu USD, tốt hơn so với tuần trước đó có dòng tiền ra là 303 triệu USD.

“Thay vào đó, vàng đã mất giá do sức mạnh của đồng USD và xu hướng này vẫn còn mạnh mẽ”, ông Aslam nói.

Vào ngày thứ Tư, Chỉ số đồng USD (ICE U.S. Dollar Index) – thước đo diễn biến của đồng USD so với 6 đồng tiền chủ chốt khác – gần như đi ngang tại mức 98.056, nhưng đã tăng 0.6% từ đầu tháng đến nay.

Ngoài ra, về vấn đề thương mại, Đại sứ Trung Quốc tại Mỹ cho biết vào cuối ngày thứ Ba (21/05) rằng Bắc Kinh đã sẵn sàng nối lại các cuộc đàm phán thương mại, nhưng Mỹ còn thiếu quyết đoán. Trong khi đó, Chủ tịch Trung Quốc, Tập Cận Bình, đang cố gắng vực dậy tinh thần của đất nước, với lời kêu gọi người dân Trung Quốc chuẩn bị cho cuộc trường chinh mới để đối mặt với khả năng xung đột thương mại với Mỹ kéo dài.

Trong số các kim loại trên sàn Comex, hợp đồng bạc giao tháng 7 tiến 0.3% lên 14.449 USD/oz. Hợp đồng paladi giao tháng 6 nhích gần 0.1% lên 1,313.50 USD/oz.

Trong khi đó, hợp đồng đồng giao tháng 7 mất 1.3% còn 2.678 USD/lb. Hợp đồng bạch kim giao tháng 7 lùi 1.2% xuống 805.30 USD/oz.

Sụt gần 3%, dầu WTI chứng kiến phiên giảm mạnh nhất trong gần 3 tuần

Sụt gần 3%, dầu WTI chứng kiến phiên giảm mạnh nhất trong gần 3 tuần

Các hợp đồng dầu thô tương lai giảm mạnh vào ngày thứ Tư (22/05), với dầu WTI ghi nhận phiên tồi tệ nhất trong gần 3 tuần, sau khi dữ liệu từ Chính phủ Mỹ cho biết dự trữ dầu thô nội địa tiếp tục tăng, trái ngược với dự báo giảm trước đó, MarketWatch đưa tin.

“Mặc dù nhập khẩu giảm mạnh, nhưng hoạt động lọc dầu thấp hơn so với mức năm trước đã khiến dự trữ dầu thô tại Mỹ tăng tuần thứ 2 liên tiếp – hiện vọt hơn 37 triệu thùng, tương đương 8.5%, trong 9 tuần qua”, Matt Smith, Giám đốc nghiên cứu hàng hóa tại ClipperData, nhận định.

>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG, CẦN CHUẨN BỊ GÌ TRƯỚC KHI THÀNH LẬP CÔNG TY<<< 

Kết thúc phiên giao dịch ngày thứ Tư, hợp đồng dầu thô ngọt nhẹ WTI giao tháng 7 trên sàn Nymex sụt 1.71 USD (tương đương 2.7%) xuống 61.42 USD/thùng, đánh dấu phiên giảm mạnh nhất kể từ ngày 02/05/2019, dữ liệu từ FactSet cho thấy.

Hợp đồng dầu Brent giao tháng 7 trên sàn Luân Đôn mất 1.19 USD (tương đương 1.7%) còn 70.99 USD/thùng.

Cả dầu WTI và dầu Brent đều ghi nhận mức đóng cửa thấp nhất kể từ ngày 13/05/2019.

Vào ngày thứ Tư, Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA) cho biết nguồn cung dầu thô nội địa vọt 4.7 triệu thùng trong tuần kết thúc ngày 17/05/2019, cao hơn dự báo tăng 2.4 triệu thùng của Viện Xăng dầu Mỹ (API), nhưng trái ngược hoàn toàn với dự báo giảm 2 triệu thùng từ các nhà phân tích tham gia cuộc thăm dò của Platts. Đây cũng là tuần tăng thứ 2 liên tiếp của dự trữ dầu thô tại Mỹ.

Báo cáo còn cho thấy tổng sản lượng dầu thô nội địa ước tính đạt 12.2 triệu thùng/ngày trong tuần trước, tăng 100,000 thùng so với tuần trước đó.

Bên cạnh đó, dữ liệu của EIA cũng cho biết dự trữ xăng vọt 3.7 triệu thùng trong tuần trước, cao hơn dự báo tăng 1 triệu thùng từ một cuộc thăm dò. Còn dự trữ các sản phẩm chưng cất cộng 800,000 thùng trong tuần trước, trái ngược so với dự báo giảm 1 triệu thùng từ cuộc thăm dò của Platts.

Phil Flynn, Chuyên gia phân tích thị trường cấp cao tại Price Futures Group, cho biết thị trường đã chứng kiến “một loạt các vấn đề về lọc dầu”, và có “những vấn đề ràng buộc với Kênh vận chuyển Houston”. Cũng có ý kiến cho rằng “các nhà máy lọc dầu đang dự trữ vì họ lo ngại nguồn cung bị thắt chặt trong vài tuần tới”, ông Flynn nói.

Dầu WTI suy yếu hôm thứ Ba (21/05), khi xung đột thương mại Mỹ - Trung gây sức ép lên triển vọng nhu cầu năng lượng. Tuy nhiên, căng thẳng ở khu vực Trung Đông đã cung cấp một số hỗ trợ cho dầu Brent.

Căng thẳng ở khu vực Trung Đông lại bùng lên sau khi phiến quân Houthi có liên hệ với Iran ở Yemen vào ngày thứ Ba đã nhận trách nhiệm về cuộc tấn công vào một sân bay và căn cứ quân sự của Ả-rập Xê-út bằng một máy báy ném bom không người lái, một cuộc tấn công được Ả-rập Xê-út thông báo khi căng thẳng ở Trung Đông vẫn “nóng” giữa Tehran và Mỹ. 

Cũng trong phiên giao dịch ngày thứ Tư, hợp đồng xăng giao tháng 6 lùi 1.4% xuống 1.991 USD/gallon. Hợp đồng dầu sưởi giao tháng 6 mất 1.5% còn 2.049 USD/gallon.

Hợp đồng khí thiên nhiên giao tháng 6 sụt 2.7% xuống 2.543 USD/MMBtu.

 

Chính phủ trình sửa hai Luật kinh doanh bảo hiểm và Sở hữu trí tuệ

Chính phủ trình sửa hai Luật kinh doanh bảo hiểm và Sở hữu trí tuệ

Chiều 20/5, các đại biểu Quốc hội nghe tờ trình, báo cáo thẩm tra về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm và Luật Sở hữu trí tuệ, thảo luận tại tổ về Dự án Luật này.

Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XIV, chiều 20/5, các đại biểu Quốc hội nghe tờ trình, báo cáo thẩm tra về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm và Luật Sở hữu trí tuệ, thảo luận tại tổ về dự án luật này.

>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG, CẦN CHUẨN BỊ GÌ TRƯỚC KHI THÀNH LẬP CÔNG TY<<< 

Góp phần đảm bảo sự tương thích với các cam kết quốc tế

Thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ trình bày Tờ trình về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm và Luật Sở hữu trí tuệ, Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh nêu rõ việc ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm và Luật Sở hữu trí tuệ theo trình tự, thủ tục rút gọn là cần thiết, nhằm thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước về việc thi hành đầy đủ, nghiêm túc các cam kết quốc tế; bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, minh bạch, khả thi, dễ tiếp cận, hiệu lực và hiệu quả của hệ thống pháp luật; tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho tổ chức, cá nhân hoạt động một cách hiệu quả, góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế-xã hội.

Bên cạnh đó, việc ban hành Luật sẽ góp phần bảo đảm sự tương thích với các cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên, đặc biệt là Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (Hiệp định CPTPP).

Nội dung sửa đổi, bổ sung Luật Kinh doanh bảo hiểm tập trung vào một số vấn đề như: Bổ sung các quy định về giải thích từ ngữ đối với dịch vụ phụ trợ bảo hiểm; tư vấn bảo hiểm; đánh giá rủi ro bảo hiểm; tính toán bảo hiểm; giám định tổn thất bảo hiểm; hỗ trợ giải quyết bồi thường bảo hiểm; sửa đổi, bổ sung quy định về quyền tham gia các tổ chức xã hội-nghề nghiệp của tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm; bổ sung quy định về cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm…

Nội dung sửa đổi, bổ sung Luật Sở hữu trí tuệ bao gồm một số vấn đề chính: Sáng chế, chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, kiểm soát biên giới…

Trình bày Báo cáo thẩm tra dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm và Luật Sở hữu trí tuệ, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội Nguyễn Khắc Định khẳng định, Ủy ban Pháp luật thống nhất với sự cần thiết ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Sở hữu trí tuệ.

Về phạm vi điều chỉnh, dự án Luật sửa đổi, bổ sung 7 điều thuộc 5 chương của Luật Kinh doanh bảo hiểm nhằm bổ sung quy định về dịch vụ phụ trợ bảo hiểm, gồm tư vấn bảo hiểm, đánh giá rủi ro bảo hiểm, tính toán bảo hiểm, giám định tổn thất bảo hiểm và hỗ trợ giải quyết bồi thường bảo hiểm để thực hiện cam kết về mở cửa thị trường dịch vụ phụ trợ bảo hiểm theo Hiệp định CPTPP và sửa đổi Phụ lục 4 của Luật Đầu tư để xác định dịch vụ phụ trợ bảo hiểm là ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện; đồng thời, sửa đổi, bổ sung 11 điều thuộc 8 chương của Luật Sở hữu trí tuệ để thực thi các cam kết trong 8 điều của Hiệp định CPTPP theo 4 nhóm vấn đề lớn, bao gồm: Sáng chế, chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.

Ủy ban Pháp luật tán thành với phạm vi điều chỉnh của dự án Luật, vì các quy định được sửa đổi, bổ sung của Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Sở hữu trí tuệ cũng chính là những nội dung đã được Phụ lục 3 ban hành kèm theo Nghị quyết số 72/2018/QH14 xác định cần sửa đổi, bổ sung theo lộ trình cam kết trong Hiệp định CPTPP liên quan đến bảo hiểm và sở hữu trí tuệ. Nội dung dự thảo Luật phù hợp với chủ trương của Đảng, bảo đảm tính hợp hiến, tính thống nhất của hệ thống pháp luật.

Bên cạnh đó, số lượng các điều, khoản của Luật Kinh doanh bảo hiểm và Luật Sở hữu trí tuệ được sửa đổi, bổ sung theo dự án Luật không nhiều và có chung mục đích để thực hiện Hiệp định CPTPP, do đó, Ủy ban Pháp luật nhất trí với đề nghị của Chính phủ về áp dụng hình thức “một luật sửa nhiều luật” để sửa đổi, bổ sung các quy định có liên quan của hai luật nêu trên.

Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội Nguyễn Khắc Định cho rằng nội dung dự thảo Luật về cơ bản đã đáp ứng yêu cầu thực hiện Hiệp định CPTPP theo đúng lộ trình thực hiện các cam kết liên quan đến bảo hiểm và sở hữu trí tuệ, phù hợp với nội dung được xác định; bảo đảm phù hợp với chủ trương của Đảng, tính hợp hiến, tính thống nhất của hệ thống pháp luật và đủ điều kiện để trình Quốc hội xem xét theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Ông Nguyễn Khắc Định cho biết, Ủy ban Pháp luật sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với cơ quan soạn thảo và các cơ quan có liên quan để tiếp thu ý kiến đại biểu Quốc hội, hoàn thiện dự thảo luật cả về nội dung và kỹ thuật lập pháp để trình Quốc hội xem xét, thông qua. 

Những thành phố trả lương cao nhất thế giới

Những thành phố trả lương cao nhất thế giới

San Francisco (Mỹ) năm nay vượt Zurich (Thụy Sĩ) để giữ vị trí thành phố có mức thu nhập trung bình tháng cao nhất thế giới.

>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG, CẦN CHUẨN BỊ GÌ TRƯỚC KHI THÀNH LẬP CÔNG TY<<< 

Deutsche Bank vừa công bố báo cáo Mapping the World’s Prices 2019, đánh giá chi phí sinh hoạt và chất lượng sống của cư dân tại 56 thành phố trên thế giới có liên quan đến thị trường tài chính toàn cầu. Theo đó, San Francisco (Mỹ) đã vượt Zurich (Thụy Sĩ) để giữ vị trí thành phố có mức lương cao nhất, với trung bình sau thuế hơn 6.500 USD một tháng. Xếp sau là Zurich (Thụy Sĩ), New York, Boston và Chicago (Mỹ).

 

>>>Xem thêm Chiến lược đầu tư nào sẽ có xu hướng gia tăng trong năm 2019?, <<<

5 năm qua, San Francisco đã tăng 7 bậc trong tiêu chí này. "Tốc độ tăng trưởng nhanh trong ngành công nghệ của Mỹ đã giúp San Francisco đánh bại các thành phố khác về thu nhập", báo cáo của Deutsche Bank cho biết, "Dù chi phí sinh hoạt ở đây vẫn tăng lên mỗi năm, các tiêu chí giá cả khác chúng tôi theo dõi cũng vậy, thành phố này vẫn còn đỡ đắt đỏ hơn nhiều nơi khác trên thế giới". Báo cáo tính toán lương trung bình, đồng nghĩa các thành phố lớn sẽ có thứ hạng cao hơn, do tập trung nhiều người có thu nhập cao hơn.

Trong khảo sát này, Deutsche Bank đổi giá các hàng hóa và dịch vụ sang USD. Vì thế, sự chuyển biến chủ yếu đến từ việc đôla Mỹ tăng giá trong 5 năm qua, giúp các thành phố Mỹ cải thiện vị trí so với các thành phố khác. Giai đoạn này, đồng bạc xanh đã mạnh lên 20% so với euro và 23% so với bảng Anh.

Dù vậy, Zurich vẫn nắm ngôi đầu trong nhiều tiêu chí. Thành phố này đứng số một về chất lượng cuộc sống, giá cả hàng hóa - dịch vụ và chi phí hẹn hò.

Báo cáo của Deutsche Bank được công bố hàng năm, bắt đầu từ 2012. Họ xếp hạng các thành phố trên nhiều tiêu chí, gồm chất lượng cuộc sống, chi phí hẹn hò, lương tháng, tiền thuê nhà hàng tháng, giá iPhone, giá truy cập Internet, giá một cốc cappuccino, chi phí đi nghỉ cuối tuần và các sản phẩm tạo ra thói quen xấu (bia và thuốc lá).

Hà Thu

VNEXPRESS

Vàng thế giới xuống đáy gần 3 tuần khi đồng USD khởi sắc

Vàng thế giới xuống đáy gần 3 tuần khi đồng USD khởi sắc

Các hợp đồng vàng tương lai quay đầu giảm nhẹ vào ngày thứ Ba (21/05), khi chứng khoán toàn cầu phục hồi và đồng USD mạnh lên một chút, qua đó làm giảm sức hấp dẫn của vàng và đẩy giá kim loại xuống mức đóng cửa thấp nhất trong gần 3 tuần, MarketWatch đưa tin

>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG, CẦN CHUẨN BỊ GÌ TRƯỚC KHI THÀNH LẬP CÔNG TY<<< 

Kết thúc phiên giao dịch ngày thứ Ba, hợp đồng vàng giao tháng 6 lùi 4.10 USD (tương đương 0.3%) xuống 1,273.20 USD/oz, mức đóng cửa thấp nhất kể từ ngày 02/05/2019.

Theo CNBC, cũng trong ngày thứ Ba, hợp đồng vàng giao ngay mất 0.4% còn 1,272.55 USD/oz.

“Đồng USD đã tăng so với các đồng tiền khác, vì vốn đã tăng vào đồng USD thay vì vàng”, Jeff Wright, Phó Chủ tịch điều hành tại GoldMining, cho hay. Chỉ số đồng USD (ICE U.S. Dollar Index) – thước đo diễn biến của đồng USD so với 6 đồng tiền chủ chốt khác – nhích 0.1% lên 98.022 khi các hợp đồng vàng chốt phiên.

“Không có nhiều thông tin kinh tế có ý nghĩa trong tuần này, hướng đến ngày Tưởng niệm Liệt sĩ Mỹ (Memorial Day) nên hoạt động thị trường đã giảm”, ông Wright cho biết. “Vàng thậm chí còn suy yếu trong tuần này”.

Đà tăng gần đây của vàng được hỗ trợ bởi căng thẳng thương mại Mỹ - Trung leo thang và nỗi lo về những bất ổn chính trị khác, bao gồm mối đe dọa leo thang quân sự giữa Mỹ và Iran và việc Anh rời khỏi Liên minh châu Âu (EU).

“Bất chấp lo ngại về cuộc chiến thương mại, sự không chắc chắn về Brexit và các cuộc bầu cử sắp diễn ra ở châu Âu, nhu cầu tài sản trú ẩn an toàn của nhà đầu tư vẫn ở mức vừa phải”, Carlo Alberto De Casa, Giám đốc phân tích tại ActivTrades, nhận định.

Chỉ số Dow Jones và S&P 500 đều khởi sắc trong phiên ngày thứ Ba, với hầu hết các thị trường chứng khoán ở châu Âu và Trung Quốc đểu tăng điểm.

Các hợp đồng vàng tương lai xoay sở để xóa bớt đà sụt giảm hồi đầu phiên sau khi dữ liệu cho thấy doanh số bán nhà ở sẵn có của Mỹ giảm 0.4% so với tháng 3 xuống 5.19 triệu trong tháng 4.

>>>Xem thêm Chiến lược đầu tư nào sẽ có xu hướng gia tăng trong năm 2019?, Sửa đổi một số điều kiện về công ty đại chúng phù hợp thực tiễn và thông lệ quốc tế<<<

Các tài sản rủi ro, như chứng khoán, dường như đã tăng sau khi Bộ Thương mại Mỹ cho biết sẽ cấp giấy phép 90 ngày đối với một số công ty để tiếp tục xuất khẩu cho Công ty viễn thông Huawei của Trung Quốc.

Trong số các kim loại trên sàn Comex, hợp đồng bạc giao tháng 7 hạ 0.2% xuống 14.41 USD/oz. Hợp đồng đồng giao tháng 7 lùi 0.4% xuống 2.715 USD/lb.

Hợp đồng paladi giao tháng 6 mất 1.4% còn 1,312.50 USD/oz. Trong khi đó, hợp đồng bạch kim giao tháng 7 tiến 0.2% lên 815.40 USD/oz.

Diễn biến giá vàng giao ngay 3 phiên vừa qua

An Trần

FILI

Quá muộn để dừng dùng nguồn vốn ODA?

Quá muộn để dừng dùng nguồn vốn ODA?

Dù thừa nhận ODA là nguồn vốn có nhiều lợi thế, như lãi suất thấp, thời gian trả nợ dài nhưng cũng không thể phủ nhận nguồn vốn ODA cũng là loại hàng hóa “khuyến mãi” trọn gói với nhiều góc khuất, trong đó cả lợi ích lẫn mất mát luôn đi cùng.

>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG, CẦN CHUẨN BỊ GÌ TRƯỚC KHI THÀNH LẬP CÔNG TY<<< 

Tuổi Trẻ Online đã thông tin về kết quả kiểm toán năm 2018 được Kiểm toán Nhà nước công bố cho thấy hàng loạt dự án ODA điều chỉnh quy mô, tăng vốn đầu tư từ vài ngàn đến vài chục ngàn tỉ đồng so với tổng mức đầu tư ban đầu được phê duyệt.

Một loạt các vấn đề đang xảy ra đối với một số dự án ODA như trả lương chuyên gia nước ngoài cao, kiểm soát tỉ giá không tốt, chọn phương thức thanh toán bất lợi, tính thuế sai quy định... đã biến nhiều dự án vay vốn ưu đãi ODA trở nên đắt đỏ. Tuy nhiên, một số ý kiến chuyên gia cho rằng có lẽ đã quá muộn để dừng dùng nguồn vốn ODA.

Thi công dự án tuyến metro số 1 Bến Thành - Suối Tiên, đoạn đi qua ga Ba Son

>>>Xem thêm Chiến lược đầu tư nào sẽ có xu hướng gia tăng trong năm 2019?, <<<

Theo TS Trần Ngọc Thơ, việc phía Việt Nam phải tuân thủ theo các điều kiện của nhà tài trợ nên "lợi thì cũng có lợi, nhưng mất mát lại quá lớn".

Ông Thơ cho rằng không khó để nhận thấy, với sự hỗ trợ tối đa về chính trị và nguồn lực tài chính từ chính quyền trung ương của một số nước, các nước chủ nhà rất dễ phải theo chiến lược "ép mua trọn gói " (bundling strategy) từ nguồn vốn ODA.

Chẳng hạn để nhận được ODA, nước chủ nhà bị đề nghị phải nhận nhà đầu tư, nhà thầu xây dựng là người nước ngoài; hoặc phải trả nợ vay bằng các nguồn nguyên liệu thô; hay phải cho phép họ phát triển các dự án bất động sản ở những vị trí đắc địa hoặc nhạy cảm.

Thậm chí là những đề xuất thanh toán bằng đồng tiền nước ngoài trong giao dịch thương mại.

"Nói ngắn gọn, đây là một chiến lược mà các nước phải chịu đánh đổi bằng cách thế chấp tương lai cho một số nhà tài trợ vốn ODA. Tất cả những điều này, hơn nữa trong bối cảnh nợ công có xu hướng tăng cao, nên đặt vấn đề dừng, thậm chí dừng hẳn tiếp nhận vốn ODA lúc này e rằng cũng đã quá muộn", ông Thơ nêu quan điểm.

 

Thi công dự án tuyến metro số 1 Bến Thành - Suối Tiên đoạn đi qua quận 9

Tuy nhiên, nếu thay ODA bằng nguồn vốn tư nhân trong nước dưới các hình thức hợp tác công tư, như BT chẳng hạn, ông Thơ cũng lưu ý khả năng phát sinh nhiều vấn đề lớn.

"Trong bối cảnh tư bản thân hữu và lợi ích nhóm tràn lan hiện nay, liệu chủ trương đổi đất lấy hạ tầng, dưới "cái gọi là" dừng tiếp nhận vốn ODA có tốt hơn?", ông Thơ đặt vấn đề.

Dưới góc nhìn của ông Thơ, nguồn tài trợ nào cho phát triển cơ sở hạ tầng cũng có những vấn đề lớn và để lại những hệ lụy quá lớn trong dài hạn nếu không có những thay đổi thể chế phù hợp.

Chính vì vậy theo ông Thơ, vấn đề hiện nay là ngoài việc đặt vấn đề lựa chọn nguồn tài trợ nào là tối ưu, cũng nên đặt vấn đề làm thế nào để kiểm soát lợi ích nhóm và vấn đề công khai minh bạch, trách nhiệm giải trình và hình phạt thích đáng nếu để xảy ra tham nhũng và lãng phí.

TRẦN VŨ NGHI

TUỔI TRẺ 

Vì sao ông lớn bán lẻ Pháp, Đức tạm biệt Việt Nam?

Vì sao ông lớn bán lẻ Pháp, Đức tạm biệt Việt Nam?

Nhiều đại gia bán lẻ phương Tây như Metro, Parkson, Auchan… đều phải chia tay Việt Nam vì đuối sức trong cạnh tranh với đối thủ.

Thị trường bán lẻ Việt Nam (VN) liên tiếp chứng kiến sự ra đi của các tập đoàn bán lẻ hàng đầu châu Âu dù đây được đánh giá là thị trường đầy hấp dẫn với sức mua ngày càng tăng cao.

>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG, CẦN CHUẨN BỊ GÌ TRƯỚC KHI THÀNH LẬP CÔNG TY<<< 

Tập đoàn hàng đầu nước Pháp ra đi

Chủ tịch Tập đoàn Auchan Retail, ông Edgard Bonte, vừa cho biết đã quyết định bán 18 siêu thị tại VN sau gần năm năm có mặt, nhường thị trường cho nhà bán lẻ khác. Ông tiết lộ năm năm hoạt động tại thị trường Việt chỉ thu về cho doanh nghiệp 45 triệu euro (50,4 triệu USD) vào năm ngoái và vẫn đang trên đà thua lỗ.

Bà Vũ Thị Kim Nương, Giám đốc truyền thông Auchan VN (Auchan), giải thích thêm nguyên nhân khiến Auchan rút khỏi thị trường VN là do kết quả kinh doanh không đạt lợi nhuận, thua lỗ. Đại diện đơn vị này cũng cho hay đang tiến hành đàm phán với các đơn vị bán lẻ tại VN để nhượng lại hệ thống cửa hàng của tập đoàn bán lẻ nổi tiếng nước Pháp này.

Bước chân vào VN từ năm 2015, không giống nhiều chuỗi bán lẻ khác, Auchan chọn cách bắt tay với các tập đoàn bất động sản lớn để hợp tác xây dựng siêu thị ngay chính tại chung cư của chủ đầu tư. Hệ thống siêu thị này từng lên kế hoạch đầu tư 500 triệu USDvới tham vọng mở 300 siêu thị và cửa hàng tại nước ta.

Thế nhưng đến nay mới có 18 siêu thị được mở tại Hà Nội, TP.HCM và Tây Ninh. Đáng chú ý, tập đoàn bán lẻ nổi tiếng của Pháp từng nhiều lần thay đổi nhận diện thương hiệu từ S.Mart thành Simply và nay là Auchan nhưng vẫn không thay đổi được doanh thu, thậm chí còn rơi vào vòng thua lỗ và buộc phải bán đi. Theo một số nhân viên tại siêu thị Auchan Hoàng Văn Thụ, họ sẽ phải nghỉ làm khi các siêu thị này chính thức đóng cửa.

Auchan không phải là ông lớn nước ngoài duy nhất tạm biệt thị trường Việt. Trước Auchan, hãng phân phối Casino Group (Pháp) cũng đã bán lại hệ thống siêu thị Big C VN cho Tập đoàn Central Group của gia tộc tỉ phú Thái Chirathivat với tổng giá trị thương vụ lên tới 1,05 tỉ USD.

Một thương vụ đình đám khác là Tập đoàn TCC của Thái Lan đã mua lại toàn bộ cơ sở bán buôn của Tập đoàn Metro (Đức) tại VN với tất cả trung tâm và các bất động sản liên quan trị giá 655 triệu euro. Trước khi chuyển nhượng, Metro có 19 trung tâm thương mại tại 14 tỉnh, thành; năm kho trung chuyển và tổng cộng khoảng 3.600 nhân viên.

Tập đoàn này chia tay VN sau nhiều năm kinh doanh không khả quan và thương hiệu Metro biến mất khỏi thị trường sau khi được bán lại cho đối tác Thái, khi bị đổi tên thành Mega Market VN.

>>>Xem thêm Chiến lược đầu tư nào sẽ có xu hướng gia tăng trong năm 2019?, <<<

Thị trường hấp dẫn nhưng đành chia tay

TS Đào Xuân Khương, chuyên gia tư vấn phân phối bán lẻ, cho rằng có nhiều lý do khiến các đại gia bán lẻ ngoại tạm biệt thị trường nước ta. Ví dụ, các siêu thị Auchan thường nằm ở các tòa nhà, khu chung cư. Với việc chọn địa điểm này, độ nhận biết về thương hiệu rất hạn chế, chỉ xoay quanh khu chung cư đó.

Thứ hai, Auchan chỉ đơn thuần là siêu thị mua sắm nên chỉ thu hút được khách hàng lân cận, không thu hút được khách hàng xa tới vui chơi kết hợp mua sắm vào cuối tuần. Thứ ba, Auchan chưa có nhiều giải pháp để kéo khách hàng đến như nhiều siêu thị khác, dẫn tới khách hàng rất vắng, doanh thu thấp và không có lợi nhuận.

 “Nhìn chung mô hình kinh doanh của Auchan là không hiệu quả. Mở siêu thị, chi phí sẽ rất lớn về mặt bằng, tồn kho cao… trong khi doanh số không đủ bù đắp nên việc rút khỏi thị trường cũng là điều dễ hiểu” - TS Đào Xuân Khương bình luận.

Chuyên gia thương hiệu Võ Văn Quang cũng đánh giá tính hiệu quả trong quản trị của Auchan chưa thật sự tốt: “Qua trực tiếp khảo sát, tôi nhận thấy chất lượng, kỷ luật dịch vụ và chọn lựa quản lý nguồn cung cấp là những điểm yếu của hệ thống siêu thị này. Mặt khác, Auchan vào VN hơi muộn, khi mà thị trường bán lẻ ở phân khúc siêu thị đại chúng đã gần như được lấp đầy”.

Vị chuyên gia này cũng nhận xét Auchan bị kẹp cứng giữa những Co.opmart, Big C và Lotte nhưng lại không định vị được sự khác biệt. “Chính vì thế, dù Auchan là tập đoàn nổi tiếng của Pháp nhưng bị lu mờ trước trào lưu Hàn Quốc với siêu thị Lotte Mart; Nhật Bản với siêu thị Aeon, Family Mart… đang chinh phục khắp châu Á” - ông Quang nhìn nhận.

Đối thủ mới đáng gờm

Các chuyên gia đều có chung nhận định thời gian tới thị trường bán lẻ VN sẽ khó thu hút thêm các tập đoàn bán lẻ châu Âu ở phân khúc đại chúng bởi phân khúc này đang bị cạnh tranh quyết liệt. Tuy vậy, với phân khúc siêu thị hàng hiệu thì các thương hiệu hàng đầu Âu-Mỹ vẫn chiếm ưu thế. Với phân khúc siêu thị đại chúng, các tập đoàn ở khu vực lân cận như Thái Lan, Hàn Quốc nhìn thấy cơ hội và khả năng tiếp cận của mình rõ rệt hơn so với các tập đoàn ở xa như Đức, Pháp.

“Tuy nhiên, thị trường bán lẻ VN ở phân khúc siêu thị đại chúng sẽ phát triển không theo kiểu cũ mà hình thành các thị trường ngách với những chuỗi bán lẻ chuyên ngành như nội thất và dụng cụ cơ khí xây dựng, chuỗi bán phụ tùng ô tô…” - chuyên gia thương hiệu Võ Văn Quang nhận định.

Còn TS Đào Xuân Khương dự báo thị trường bán lẻ trong thời gian tới là sự phát triển của cửa hàng quy mô vừa, không phải nhỏ không phải lớn như siêu thị nhưng tiện lợi. Những cửa hàng 100-200 m2 phục vụ như cửa hàng tiện lợi, bán hàng tươi sống thiết yếu sẽ phát triển. Đây là mô hình mà Bách hóa XANH đang theo đuổi.

Tuy nhiên, dù ở mô hình nào thì các siêu thị cũng phải cạnh tranh gay gắt với thương mại điện tử đang phát triển rất nhanh. Do vậy, để tồn tại và phát triển, siêu thị cần liên tục đổi mới, tạo ra sự khác biệt và đặc biệt là am hiểu văn hóa tiêu dùng người Việt. Trong đó, các mô hình mua sắm kết hợp vui chơi, giải trí, thư giãn… sẽ thắng thế.

Bán gần 90 cửa hàng với giá… 1 USD

Hồi tháng 4-2019, Công ty Cổ phần Cửa hiệu và Sức sống, chủ sở hữu chuỗi cửa hàng tiện lợi Shop&Go, đã nhượng lại toàn bộ chuỗi gồm 87 cửa hàng tiện lợi đang hoạt động cho Công ty VinCommerce với giá 1 USD. Đại diện công ty này chia sẻ nguyên nhân phải bán chuỗi cửa hàng do kết quả kinh doanh không được như kỳ vọng sau 14 năm đầu tư phát triển.

Tương tự, hệ thống trung tâm thương mại Parkson đến từ Malaysia gia nhập thị trường VN từ năm 2005, từng nuôi tham vọng mở 2-3 trung tâm tại các đô thị lớn của VN nhưng Parkson có dấu hiệu đuối sức trong cuộc đua giành thị phần. Cuối cùng đơn vị này đã lần lượt phải đóng cửa các trung tâm thương mại khi kết quả kinh doanh sụt giảm mạnh.

Nhiều ý kiến cho rằng các đại gia này thất bại vì chưa hiểu được hành vi mua sắm và văn hóa tiêu dùng của người VN. Tuy vậy, theo TS Khương, không phải ông lớn nào rút khỏi VN đều do kinh doanh thất bại mà họ ra đi vì nhiều lý do. Ví dụ, Tập đoàn Casino bán hệ thống Big C cho đại gia Thái Lan nằm trong chiến lược kinh doanh của họ. 

TÚ UYÊN

PHÁP LUẬT TPHCM

THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG

ĐÀ NẴNG

Địa chỉ: 41 Phan Triêm, Phường Hòa Xuân, Đà Nẵng
Điện thoại: 0236.3.707404
Mobile: 0915.888.404
Email: business@dng.vn 

SÀI GÒN

Địa chỉ: Tầng 7, Tòa nhà HP, 60 Nguyễn Văn Thủ, Đakao, Quận 1
Điện thoại: 02822446739
Mobile: 0833.888.404
Email: info@hcm.com.vn

HÀ NỘI

Địa chỉ: Tòa nhà Anh Minh, 36 Hoàng Cầu, p. Ô Chợ Dừa, quận Đống Đa
Điện thoại: 02422612929
Mobile: 0899.888.404
Email: info@hno.vn

 

GỌI NGAY

0915.888.404