Liên hệ ngay DNG Business để nhận dịch vụ tốt nhất: 0915.888.404
Chính phủ đã hoàn thiện Dự thảo Luật Chứng khoán sửa đổi và có Tờ trình trình Quốc hội về Dự án Luật. Một trong những nội dung đáng chú ý tại Dự thảo Luật Chứng khoán sửa đổi là nội dung liên quan đến công ty đại chúng.
Thực hiện Nghị quyết số 57/2018/QH14 của Quốc hội về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2019 và điều chỉnh Chương trình xây dựng Luật, pháp lệnh năm 2018, Chính phủ đã có Tờ trình số 97/TTr-CP ngày 22/3/2019 trình Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về Dự án Luật Chứng khoán sửa đổi.
Trên cơ sở ý kiến của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội tại phiên họp thứ 33 ngày 16/4/2019 và Báo cáo thẩm tra sơ bộ về dự án Luật của Uỷ ban Kinh tế ngày 8/4/2019, Chính phủ đã hoàn thiện Dự án Luật Chứng khoán sửa đổi và có Tờ trình số 186/TTr-CP ngày 9/5/2019 trình Quốc hội về dự án Luật.
Việc xây dựng Luật Chứng khoán sửa đổi nhằm hoàn thiện thể chế, ổn định môi trường pháp lý bảo đảm cho sự phát triển ổn định, bền vững, an toàn của thị trường chứng khoán, đáp ứng yêu cầu hội nhập, nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước đối với thị trường chứng khoán, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư, bảo đảm thị trường chứng khoán là kênh huy động vốn trung và dài hạn quan trọng của nền kinh tế.
Dự thảo Luật Chứng khoán sửa đổi về cơ bản giữ nguyên bố cục của Luật hiện hành, gồm 10 Chương, 136 Điều. So với Luật Chứng khoán hiện hành, Dự thảo Luật sửa đổi 97 Điều, bổ sung 31 Điều, bãi bỏ 31 Điều và giữ nguyên 08 Điều.
Ngoài các nội dung sửa đổi về những quy định chung; về chào bán chứng khoán; thị trường chứng khoán; đăng ký, lưu ký, bù trừ và thanh toán chứng khoán; quy định về cấp phép thành lập và và hoạt động liên quan đến công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ; công bố thông tin; thanh tra, xử lý vi phạm trong lĩnh vực chứng khoán,…. một nội dung sửa đổi đáng chú ý tại Dự thảo Luật Chứng khoán sửa đổi là nội dung liên quan đến công ty đại chúng.
Theo đó, với mục tiêu nâng cao chất lượng hàng hoá trên thị trường chứng khoán, đảm bảo quy mô, tính đại chúng của công ty, tính khả thi trong thực hiện, không gây xáo trộn thị trường, Dự thảo Luật sửa đổi điều kiện về cơ cấu cổ đông (có tối thiểu 10% số cổ phiếu có quyền biểu quyết do ít nhất 100 nhà đầu tư không phải là cổ đông lớn nắm giữ) cho phù hợp thực tiễn và thông lệ quốc tế.
Đồng thời, nâng điều kiện về vốn điều lệ đã góp tối thiểu từ 30 tỷ đồng trở lên. Theo Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước, việc nâng mức vốn điều lệ tối thiểu của công ty đại chúng như Dự thảo Luật không tác động đối với hoạt động của các công ty đại chúng cũng như quyền, lợi ích hợp pháp của cổ đông trong công ty và hoạt động giao dịch trên thị trường chứng khoán do:
(i) Đối với công ty đại chúng chưa niêm yết/đăng ký giao dịch mà không đáp ứng điều kiện về vốn điều lệ tối thiểu theo quy định mới của Luật sẽ không còn tư cách công ty đại chúng và không phải thực hiện nghĩa vụ của công ty đại chúng; quyền lợi của chính công ty đại chúng, cổ đông trong công ty và thị trường không bị ảnh hưởng, xáo trộn do cổ phiếu của công ty đó chưa niêm yết/đăng ký giao dịch trên thị trường;
(ii) Đối với công ty đại chúng đã niêm yết/đăng ký giao dịch mà không đáp ứng điều kiện của Luật, để đảm bảo quyền của cổ đông, không gây tác động đến hoạt động giao dịch cổ phiếu của các công ty này trên thị trường, dự thảo Luật quy định điều khoản chuyển tiếp, theo đó, các công ty này không bị huỷ tư cách công ty đại chúng, trừ trường hợp Đại hội đồng cổ đông công ty thông qua việc huỷ tư cách công ty đại chúng.
Cũng theo cơ quan soạn thảo, để đảm bảo chặt chẽ, công khai, minh bạch, nhằm ngăn ngừa tình trạng lách luật, thực hiện mua gom trong thời hạn dài dẫn đến sở hữu tỷ lệ chi phối/kiểm soát công ty mà không chào mua công khai, thực hiện thâu tóm không công bằng, dự thảo Luật sửa đổi quy định rõ các chủ thể phải thực hiện chào mua công khai, sửa đổi các mốc sở hữu cụ thể phải chào mua công khai; trường hợp không phải chào mua công khai được Đại hội đồng cổ đông thông qua phải quy định rõ đối tượng chuyển nhượng, nhận chuyển nhượng.
Về quy định công ty đại chúng mua lại cổ phiếu của chính mình, Dự thảo luật sửa đổi theo hướng thống nhất với quy định của Điều 131 Luật Doanh nghiệp, công ty mua lại cổ phiếu của chính mình phải làm thủ tục giảm vốn điều lệ tương ứng với tổng giá trị mệnh giá các cổ phiếu được công ty mua lại, ngoại trừ một số trường hợp như mua lại cổ phiếu lẻ theo phương án phát hành cổ phiếu để trả cổ tức, phát hành cổ phiếu từ nguồn vốn chủ sở hữu; công ty chứng khoán mua lại cổ phiếu của chính mình để sửa lỗi giao dịch hoặc mua lại cổ phiếu lô lẻ.
Về quản trị công ty đại chúng, Dự thảo Luật sửa đổi một số quy định về nguyên tắc quản trị công ty áp dụng với công ty đại chúng phù hợp với nguyên tắc quản trị công ty của Tổ chức hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD/G20 năm 2015); quy định một số nội dung chủ yếu về quản trị công ty đại chúng và giao Chính phủ quy định chi tiết.
HP
>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG, CẦN CHUẨN BỊ GÌ TRƯỚC KHI THÀNH LẬP CÔNG TY<<<
Sáng 20/5 kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa 14 sẽ chính thức khai mạc. Dự kiến kỳ họp thứ 7, Quốc hội sẽ làm việc trong thời gian 20 ngày, bế mạc vào ngày 14/6.
Quốc hội sẽ dành 60% thời gian cho công tác cho xây dựng pháp luật, với việc thông qua 7 dự án Luật, 2 Nghị quyết và cho ý kiến về 9 dự án Luật khác.
Trong sáng nay, trước khi khai mạc, Quốc hội họp phiên trù bị để nghe, cho ý kiến và biểu quyết chương trình kỳ họp. Sau đó nghe báo cáo việc cho thôi làm nhiệm vụ đại biểu Quốc hội khóa XIV đối với ông Lê Đình Nhường (Thiếu tướng) thuộc Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Thái Bình.
>>>Xem thêm Quyết liệt cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước, Quá lệ thuộc vào nguồn vốn ngân hàng, doanh nghiệp dễ gặp rủi ro<<<
Theo chương trình dự kiến, ngày làm việc đầu tiên, Quốc hội sẽ nghe báo cáo của Chính phủ, báo cáo thẩm tra của Ủy ban Kinh tế đánh giá bổ sung kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và ngân sách Nhà nước năm 2018; tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và ngân sách Nhà nước những tháng đầu năm 2019.
Quốc hội dành thời gian nghe Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam Trần Thanh Mẫn trình bày báo cáo tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và nhân dân.
Đáng chú ý, Quốc hội cũng nghe tờ trình đề nghị Quốc hội phê chuẩn quyết toán ngân sách Nhà nước năm 2017 và báo cáo thẩm tra của Ủy ban Tài chính - Ngân sách về vấn đề này.
Quốc hội cũng nghe báo cáo kiểm toán quyết toán ngân sách Nhà nước năm 2017; tờ trình và báo cáo thẩm tra về việc bổ sung danh mục dự án mới vào kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016-2020…
Theo Tổng Thư ký Quốc hội Nguyễn Hạnh Phúc, điểm đổi mới đáng chú ý nhất trong kỳ họp này là Quốc hội sẽ thí điểm ứng dụng công nghệ nhiều hơn trong việc cung cấp thông tin cho đại biểu Quốc hội.
Ông Phúc nêu ví dụ, như tra cứu hệ thống pháp luật quốc tế liên quan đến một dự án luật mà Quốc hội đang xem xét, quá trình xây dựng quy định về lĩnh vực đó. Việc thăm dò ý kiến của ĐBQH cũng được thực hiện qua thông tin điện tử.
Việc triển khai phần mềm mới hỗ trợ hoạt động của các đại biểu Quốc hội sẽ cho phép các vị ĐBQH không cần phải mang theo tài liệu bản giấy, mọi tài liệu cần thiết đều có thể tra cứu trên smartphone hoặc thiết bị di động khác.
Vẫn theo Tổng Thư ký Quốc hội, đây là phần mềm rất hữu ích, nhưng tại kỳ họp này chỉ là bước thí điểm, nên các cơ quan phục vụ vẫn chưa bỏ hẳn văn bản giấy.
Đến cuối kỳ họp, các đại biểu, những người sử dụng sẽ thực hiện việc đánh giá về phần mềm này và Văn phòng Quốc hội sẽ tổng hợp để làm căn cứ tiếp tục hoàn thiện phần mềm.
Việc đổi mới này theo ông Nguyễn Hạnh Phúc, đó là một phần trong xây dựng Quốc hội điện tử.
Về hoạt động giám sát tối cao, Quốc hội sẽ xem xét chuyên đề việc thực hiện chính sách, pháp luật về quy hoạch, quản lý, sử dụng đất đai tại đô thị từ khi Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực đến hết năm 2018.
Quốc hội cũng sẽ xem xét tình hình kinh tế - xã hội, kết hợp thảo luận về sử dụng vốn vay, quản lý nợ công; kết quả kiểm điểm và xử lý trách nhiệm trong việc để xảy ra các vi phạm quản lý sử dụng vốn, tài sản Nhà nước tại doanh nghiệp và cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước.
Về hoạt động chất vấn, tại kỳ họp này Quốc hội sẽ tổ chức như thông lệ, nghĩa là dành 2,5 ngày cho hoạt động này, nội dung theo nhóm vấn đề do các ĐBQH lựa chọn.
Theo Hoàng Đan
Trí Thức trẻ
Sơ thảo Báo cáo đánh giá quốc gia đa chiều của Tổ chức Hợp tác kinh tế và phát triển (OECD) gần đây đã phân tích sự phát triển của Việt Nam dựa trên nhiều khía cạnh.
Báo cáo của OECD được đưa ra nhằm hỗ trợ Việt Nam trong quá trình xây dựng Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021 – 2030 và kế hoạch 5 năm 2021 – 2025.
Việt Nam sau hơn 30 năm đổi mới đã có những bước tiến dài trên con đường phát triển với nhiều thành tựu quan trọng. Các đánh giá từ quốc tế gần đây cho thấy nền kinh tế 94 triệu dân có triển vọng tăng trưởng tốt với tốc độ bình quân nhanh nhất trong khu vực, khoảng 6%.
Liên Hợp Quốc cũng đánh giá Việt Nam là 1 trong 6 nước trên thế giới hoàn thành trước hạn nhiều Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ và đang tích cực triển khai các Mục tiêu Phát triển bền vững.
Tuy nhiên, quốc gia này vẫn đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức. Điều này buộc Việt Nam phải có những đánh giá khách quan, sâu và đa chiều, từ đó, đưa ra được các giải pháp đồng bộ.
Quá trình đánh giá quốc gia đa chiều là sự học hỏi lẫn nhau, theo ông Mario Pezzini, Giám đốc Trung tâm Phát triển của OECD. Bởi ông cho biết không có một mô hình hay cách làm duy nhất để đạt được mục tiêu phát triển. Do vậy, Việt Nam cần xem xét các kinh nghiệm của những nước đã, đang phát triển để tìm nguồn cảm hứng.
"Mục tiêu cuối cùng của chúng ta là mang lại phúc lợi, hạnh phúc cho người dân", ông nhấn mạnh.
Phân tích về hạn chế chủ yếu đối với con đường tăng trưởng bền vững của Việt Nam, đại diện OECD lưu ý đến việc Việt Nam cần lưu ý vấn đề cải thiện năng suất lao động để đảm bảo sự thịnh vượng kinh tế quốc gia.
Về vốn, OECD cho rằng việc dựa chủ yếu vào nguồn vốn ngân hàng do thị trường vốn phát triển chưa đầy đủ khiến cho nguồn lực đi vào kinh tế tư nhân trong nước chưa hiệu quả. Do đó, đây cũng là vấn đề cần lưu tâm trong tương lai.
Báo cáo của OECD cũng đánh giá một số vấn đề liên quan đến thể chế là điểm nghẽn, gây khó khăn cho khát vọng phát triển nhanh và bền vững của Việt Nam như năng lực thực thi pháp luật và thừa hành công vụ thiếu minh bạch, quản trị DNNN còn hạn chế, chi phí không chính thức vẫn phổ biến.
Ngoài ra, theo tổ chức này, Việt Nam đang đối mặt với các vấn đề như sử dụng không hiệu quả tài nguyên; ô nhiễm môi trường và xả rác thải lớn; hạn chế trong tiếp cận giáo dục; hệ thống hưu trí và chăm sóc sức khỏe không bền vững về tài chính…
Do vậy, để khắc phục, Việt Nam được khuyến nghị phát triển một nền kinh tế mang tính hội nhập và hiệu quả hơn, phải tập trung đầu tư vào những lĩnh vực có năng suất cao nhất và sử dụng công nghệ sản xuất sạch.
Việt Nam cần mở rộng kết nối doanh nghiệp trong nước với khu vực FDI, đảm bảo môi trường thể chế minh bạch hơn và tin cậy, đặc biệt chú ý xây dựng nguồn vốn con người với tư cách là chìa khóa của phát triển trong bối cảnh làn sóng công nghệ đang phát triển nhanh chóng.
Nền kinh tế cũng được lưu ý về cải thiện năng lực tài chính cho sự phát triển trước hiện tượng già hoá dân số khiến nhu cầu đầu tư và chi tiêu tăng hơn.
Mặt khác, OECD cho rằng Việt Nam cần nâng cao hơn nữa năng lực quản trị, điều hành phục vụ sự phát triển bền vững. Đây là tập hợp các vấn đề như cách thức quản lý, điều hành của Chính phủ, chế độ tiền lương, sự phối hợp giữa các cơ quan và các cấp chính quyền, tổ chức cung cấp các dịch vụ công, chế độ hưu trí và các chính sách an sinh xã hội, quản lý phát triển đô thị và môi trường.
S.Huỳnh
Theo Trí thức trẻ
Nguy cơ rửa tiền trong lĩnh vực ngân hàng có thể liên quan đến nguồn gốc từ tội tham ô tài sản, đánh bạc và trốn thuế.
Theo Báo cáo tóm tắt kết quả đánh giá rủi ro hoạt động rửa tiền, tài trợ khủng bố tại Việt Nam 2012-2017, ba lĩnh vực có nguy cơ rửa tiền thuộc nhóm cao là ngân hàng, bất động sản và kênh chuyển tiền phi chính thức.
Báo cáo khẳng định rằng, không phải tất cả khoản tiền thu bất chính đều được tội phạm đưa vào chu trình tẩy rửa tiền. Song điều này cũng chứng tỏ, so với các lĩnh vực khác trong nền kinh tế, khả năng tội phạm lựa chọn hệ thống ngân hàng nhằm hợp pháp hóa các khoản thu bất chính là cao hơn.
Cụ thể, lĩnh vực ngân hàng chiếm gần 90% tổng số báo cáo giao dịch đáng ngờ (STR) gửi đến Cục phòng, chống rửa tiền, cao hơn các lĩnh vực khác. Căn cứ những vụ đại án và các số liệu về STR, nguy cơ rửa tiền trong lĩnh vực ngân hàng có thể liên quan đến tội tham ô tài sản (tội phạm chủ yếu liên quan đến những người có chức vụ, quyền hạn), đánh bạc và trốn thuế. Theo đó, để che giấu nguồn tiền thu được, tội phạm thường sử dụng tài khoản ngân hàng dưới tên người khác để nhận và chuyển các khoản tiền có nguồn gốc bất hợp pháp.
Ngoài lĩnh vực ngân hàng, bất động sản và kênh chuyển tiền phi chính thức cũng nằm trong nhóm có nguy cơ rửa tiền cao.
Bất động sản thu hút nhiều nguồn tiền đầu tư giá trị lớn, các giao dịch mua bán, chuyển nhượng bất động sản có thể thực hiện bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản và không thông qua sàn giao dịch bất động sản, nên rất khó cho các cơ quan chức năng kiểm tra, xác định nguồn gốc của tiền.
Ngoài ra, với các vụ đại án về tham ô, cũng như vụ đánh bạc nghìn tỷ đồng đang bị điều tra về rửa tiền, các tài sản thu được từ các vụ án đều liên quan đến các bất động sản. "Để rửa tiền, các đối tượng phạm tội thường nhờ người thân trong gia đình mua, chuyển nhượng, cho tặng bất động sản", báo cáo viết cho rằng đây là những căn cứ để khẳng định bất động sản có thể là kênh có nguy cơ rửa tiền cao.
Với lợi ích về phí chuyển tiền, tính tiện lợi, không phải chứng minh mục đích chuyển tiền, tính đơn giản về thủ tục... so với các kênh chuyển tiền chính thức, các kênh phi chính thức (chuyển tiền ngầm) cũng được sử dụng để chuyển kiều hối về Việt Nam. Đồng thời, kênh này cũng tiềm ẩn nguy cơ rửa tiền cao hơn, báo cáo nhận xét.
Các lĩnh vực còn lại như chứng khoán, casino, kiều hối, bảo hiểm, kế toán - kiểm toán... được xếp ở nhóm có nguy cơ rửa tiền trung bình hoặc thấp.
Phân tích kết quả có được, báo cáo cũng đánh giá mức độ tổn thương quốc gia về rửa tiền của Việt Nam ở mức trung bình cao.
Từ năm 2010 đến năm 2017, Cục phòng, chống rửa tiền đã tiếp nhận 7.285 báo cáo giao dịch đáng ngờ, trong đó khối ngân hàng chiếm 83,5%. Cục đã chuyển giao 614 vụ việc liên quan đến 3.588 báo cáo giao dịch đáng ngờ cho cơ quan chức năng để phục vụ công tác điều tra.
Mỗi lượng biến động vài chục nghìn đồng, trong bối cảnh giá vàng thế giới tuần này được dự báo tăng.
Sáng nay, Tập đoàn DOJI niêm yết giá vàng miếng SJC tại 36,28 - 36,38 triệu đồng một lượng. So với cuối tuần trước, giá này tăng 10.000 đồng ở chiều mua nhưng lại giảm 40.000 đồng ở chiều bán.
Tại Công ty Vàng bạc Đá quý Phú Nhuận (PNJ), giá vàng đang đi lên. Giá mua tăng 10.000 đồng, lên 36,3 triệu đồng mỗi lượng. Giá bán tăng tương tự, lên 36,4 triệu đồng.
Trên thị trường thế giới, giá vàng sáng nay vẫn dao động quanh mốc đóng cửa cuối tuần trước – 1.277 USD một ounce. Phiên cuối tuần trước, kim loại quý xuống thấp nhất 2 tuần, do đồng đôla mạnh lên sau các số liệu lạc quan về kinh tế Mỹ. Quy đổi sang tiền Việt, giá thế giới hiện tương đương 36,1 triệu đồng một lượng (chưa thuế, phí, gia công), thấp hơn thị trường trong nước khoảng 100.000 đồng.
Tuần này, khảo sát của Kitco với các nhà phân tích, nhà đầu tư, lãnh đạo ngân hàng cho thấy, 50% dự báo giá tăng. 33% cho rằng giá vàng sẽ đi xuống, còn lại nghiêng về khả năng giá đi ngang.
Trên thị trường ngoại hối, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố sáng nay là 23.069 đồng một USD, tăng 15 đồng so với cuối tuần trước. Giá bán đôla Mỹ tại Vietcombank hiện quanh 23.350 – 23.470 đồng, tăng 20 đồng ở cả hai chiều.
Làn sóng công nghệ số mang lại tiềm năng chuyển đổi Việt Nam thành một nền kinh tế vượt trội của châu Á, cùng mức sống cao hơn cho người dân.
Báo cáo Tương lai nền kinh tế số Việt Nam hướng tới năm 2030 và 2045 do CSIRO (Tổ chức Nghiên cứu Khoa học và Công nghiệp Australia) phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ thực hiện chỉ ra 4 kịch bản phát triển cho nền kinh tế Việt Nam đến năm 2045.
Trong kịch bản tối ưu Chuyển đổi số, mức tăng thêm GDP đạt 1,1%/năm (tương đương 168,6 tỷ USD), Việt Nam thực hiện chuyển đổi số cơ bản ở tất cả các ngành nghề và dịch vụ công. Cùng với đó, xuất khẩu các sản phẩm và dịch vụ CNTT&TT tăng. Song, rủi ro là nguy cơ tấn công mạng trên toàn quốc cao hơn, bất bình đẳng giữa nông thôn – thành thị gia tăng; Phát sinh các vấn đề liên quan tới những việc làm bị thay thế bởi tự động hóa.Theo đó, trong kịch bản xấu nhất Truyền thống, mức độ chuyển đổi số của Việt Nam ở mức thấp và ngành công nghệ thông tin và truyền thông (CNTT&TT) hoạt động nhỏ lẻ, GDP tăng thêm chỉ đạt mức 0,38%/năm (tương đương 60,9 tỷ USD). Rủi ro của kịch bản này là năng suất lao động thấp sẽ dẫn đến mất đi năng lực cạnh tranh về kinh tế, làm gia tăng tỷ lệ nghèo đói trong xã hội.
Hai kịch bản còn lại là xuất khẩu số và tiêu dùng số có tăng trưởng GDP thêm ở mức tương ứng là 0,45% (66,9 tỷ USD) và 0,63% (102,8 tỷ USD). Tuy nhiên, theo bà Lucy Cameron, Tư vấn nghiên cứu cao cấp CSIRO, cả hai kịch bản xuất khẩu số và tiêu dùng số đều không có lợi cho sự phát triển bền vững của Việt Nam.
“Ở kịch bản Xuất khẩu số, yêu cầu đầu tư có thể thấp hơn so với kịch bản Chuyển đổi số và xuất khẩu trong lĩnh vực CNTT&TT tăng, nhưng năng suất lao động của Việt Nam sẽ thấp và hầu hết các ngành công nghiệp sẽ mất đi năng lực cạnh tranh. Cùng với đó, Việt Nam cũng chưa thể thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình”, bà Cameron phân tích.
>>>Xem thêm THỦ TỤC THÀNH LẬP CÔNG TY 2019, 4 công nghệ 'chìa khóa thành công' cho doanh nghiệp năm 2019<<<
Trong khi ở kịch bản Tiêu dùng số có thể đạt tăng trưởng và chất lượng dịch vụ được nâng cao… Tuy nhiên, nguồn lực trong nước yếu sẽ khiến hệ thống đảm bảo an ninh mạng kém, không tận dụng hiệu quả tác động của quá trình số hóa trong hầu hết các ngành nghề.
“Cùng với đó, việc phụ thuộc vào sản phẩm và dịch vụ CNTT&TT từ nước ngoài khiến Việt Nam bị động. Vay mượn quá nhiều để chi trả cho cơ sở hạ tầng và chuyển đổi công nghiệp dẫn đến nợ quốc gia lớn”, bà Cameron cho biết thêm.
Năm 2019, Việt Nam được coi là một thị trường mới nổi hàng đầu thế giới (theo đánh giá của World Bank). Câu chuyện phát triển của Việt Nam đang dần được hé mở. Với khát vọng vươn lên vị thế quốc gia có mức thu nhập trung bình cao vào năm 2035, Việt Nam đang nhắm tới nền kinh tế số làm bàn đạp cho kỷ nguyên tăng trưởng tiếp theo.
GM_PC_ARTICLE_INPAGE_BANNER
Nhiều chuyên gia đánh giá, để duy trì mức tăng trưởng cao, Việt Nam phải vượt qua nhiều thách thức như dân số già hóa, biến đổi khí hậu, tốc độ phát triển nhanh, đô thị hóa tác động xấu đến môi trường… Tuy nhiên, thách thức lớn nhất sẽ là việc hoạch định chính sách về phân bổ nguồn lực để đảm bảo nợ thấp và tăng trưởng bền vững.
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc phát biểu tại hội nghị.
Phát biểu tại hội nghị “Khoa học, công nghệ và Đổi mới sáng tạo – Trụ cột cho phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam” diễn ra ngày 15/5, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc khẳng định công nghệ mới cùng với nguồn nhân lực phù hợp (có khả năng sử dụng, kiểm soát và sáng tạo công nghệ mới) là yếu tố quyết định cho tăng trưởng trong dài hạn, là chìa khóa để Việt Nam đột phá vượt qua trạng thái dừng, thoát bẫy thu nhập trung bình.
Nếu không mạnh dạn đầu tư cho khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, chúng ta sẽ bị mắc kẹt trong chính cái hố năng suất thấp, giá trị gia tăng thấp và bẫy thu nhập trung bình của chính chúng ta.
“Cả Nhà nước và khu vực tư nhân cần nhận thức đúng tầm quan trọng của đầu tư cho KH&CN, ưu tiên chi cho KH&CN một cách tương xứng hơn, hiệu quả hơn. Chú trọng tính thiết thực, hiệu quả, không làm theo phong trào, gây lãng phí”, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh./.
Theo Vân Anh
VOV
Mức đầu tư cho khoa học công nghệ khá thấp so với trung bình thế giới, lãnh đạo Chính phủ cho rằng cả khu vực nhà nước và tư nhân cần chú trọng hơn nữa vấn đề này.
Tăng đầu tư cho công nghệ
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chỉ ra khu vực nhà nước và tư nhân của Việt Nam chi cho khoa học và công nghệ chỉ khoảng 0,44% GDP, khá thấp so với mức trung bình 2,23% của thế giới.
Tại Hội thảo "Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo - một trụ cột cho phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam", sáng 15/5, người đứng đầu Chính phủ nhấn mạnh nếu không đầu tư cho khoa học công nghệ, Việt Nam sẽ mắc kẹt trong bẫy thu nhập trung bình, giá trị thấp. Thủ tướng cho rằng cả Nhà nước và khu vực tư nhân cần chú trọng đầu tư cho khoa học công nghệ hơn nữa.
>>>Xem thêm Việt Nam lựa chọn kịch bản nào để đón làn sóng số.<<<
Dẫn Báo cáo Chỉ số Hiệu quả Đổi mới sáng tạo, Thủ tướng cho hay Việt Nam đã thành công trong việc tiếp cận với kiến thức khoa học công nghệ của thế giới và hòa nhập vào các chuỗi giá trị toàn cầu, tạo điều kiện cho việc trao đổi tri thức hiệu quả. Một số tổ chức, doanh nghiệp Việt Nam đã rất quan tâm đầu tư cho khoa học công nghệ, đổi mới, sáng tạo đã đạt được kết quả tương xứng.
Trong giai đoạn tiếp theo, Lãnh đạo Chính phủ yêu cầu Bộ Khoa học & Công nghệ sớm hoàn thiện "Chỉ thị thúc đẩy, hấp thụ phát triển khoa học công nghệ và hoạt động đổi mới sáng tạo, bao gồm quỹ phát triển khoa học công nghệ của doanh nghiệp" và đệ trình các chính sách cụ thể.
Bộ này cần phát huy vai trò điều phối, nâng cao hiệu quả công tác giữa các bộ, ngành, các cấp trong phát triển và ứng dụng kết quả khoa học và công nghệ vào phát triển kinh tế - xã hội.
Đầu tư vốn con người
Chia sẻ tại hội thảo, ông Alan Atkisson, Phó Tổng giám đốc tổ chức hợp tác phát triển quốc tế Thụy Điển (SIDA) cho biết trong hơn một thập kỷ qua, Thụy Điển dành 3,5% GDP để phát triển đổi mới sáng tạo.
Kinh nghiệm của Thụy Điển là huy động nhân lực toàn xã hội tham gia vào quá trình này. "Chúng ta cần phân biệt hệ thống và con người trong hệ thống đó. Nếu không có ngườn nhân lực tốt, được đào tạo bài bản thì hệ thống đó cũng không hiệu quả", vị chuyên gia nói.
Đồng quan điểm, ông Joshua Tabah, Tổng giám đốc Cơ quan Hợp tác Phát triển Canada - một trong những nền kinh tế dần đầu về dữ liệu - chia sẻ tầmquan trọng trong việc phát triển tiềm năng của mọi người. "Chúng tôi được đầu tư về giáo dục, khoa học, trong đó, đặc biệt là sự đầu tư dành cho trẻ em gái và phụ nữ", ông Tabah cho hay.
Trong bài phát biểu của mình, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cũng nhấn mạnh tới yếu tố con người với khẩu hiệu: "Tài nguyên là luôn có hạn, còn sự sáng tạo của con người là vô hạn".
Lãnh đạo Chính phủ yêu cầu Bộ Khoa học & Công nghệ phối hợp với các bộ ngành để phát huy vai trò của các trường đại học, viện nghiên cứu trong việc tăng cường nền tảng vốn con người cho đổi mới sáng tạo. Đặc biệt, công tác đào tạo phải gắn liền các hoạt động nghiên cứu ứng dụng với nhu cầu doanh nghiệp, nhu cầu của nền kinh tế.
Theo Nam Anh
Theo ND
Phó Thủ tướng Chính phủ Vương Đình Huệ yêu cầu Tổng cục Hải quan giải quyết vướng mắc cho doanh nghiệp, đồng thời nói vui rằng: "Nếu khó quá thì thuê Phó Thủ tướng xuống, tôi làm cho. Tôi cũng biết chút về kế toán”.
Sáng 13/5, Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam tổ chức “Hội nghị giám sát các giải pháp cải cách kiểm tra chuyên ngành, giảm thời gian thông quan hàng hóa xuất nhập khẩu”.
Tại hội nghị, đại diện một số công ty đề cập đến Công văn 858 của Tổng cục Hải quan có hiệu lực từ tháng 3/2019 báo cáo quyết toán cho vật tư tiêu hao và công cụ, dụng cụ, nhưng lại gây khó khăn, vướng mắc khi mỗi doanh nghiệp có cách hiểu khác nhau vì không có định nghĩa rõ ràng.
Cục trưởng Cục Giám sát quản lý (Tổng cục Hải quan) Âu Anh Tuấn cho biết, Thông tư của Bộ Tài chính đã quy định rõ, đối với nguyên liệu, vật tư sử dụng trong quá trình sản xuất thì doanh nghiệp phải xây dựng định mức, còn đối với vật tư tiêu hao không xác định định mức cụ thể thì doanh nghiệp phải theo dõi mức sử dụng theo nguyên tắc tồn kho cuối kỳ. Tuy nhiên, ông cho biết sẽ ghi nhận ý kiến doanh nghiệp và có hướng dẫn cụ thể.
>>>Xem thêm Việt Nam lựa chọn kịch bản nào để đón làn sóng số. Thủ tướng: Việt Nam chi cho khoa học công nghệ 0,44% GDP<<<
Hội nghị giám sát các giải pháp cải cách kiểm tra chuyên ngành
Nghe trả lời của ông Tuấn, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ yêu cầu phải nói khi nào giải quyết triệt để, không nói chung chung được. Ông Huệ yêu cầu hết tháng 5, nếu chưa giải quyết được thì gửi thẳng văn bản lên Thủ tướng. Ông cũng lưu ý không để chuyện rất nhỏ này gây ra vướng mắc cho doanh nghiệp, vì nhỏ với cơ quan quản lý nhưng lại là vấn đề lớn của doanh nghiệp.
“Nếu khó quá thì thuê Phó Thủ tướng xuống, tôi làm cho. Tôi cũng biết chút về kế toán”, Phó Thủ tướng nói vui và đề nghị giải quyết ngay vướng mắc cho DN, có quy định hướng dẫn thống nhất trong toàn quốc.
Theo Phó Thủ tướng, Nghị quyết số 02/NQ-CP nêu rõ tạo thuận lợi phải đi với chống gian lận thương mại, yêu cầu các bộ, ngành rà soát tính phù hợp, chặt chẽ trong cắt giảm thủ tục hải quan chuyên ngành.
“Thủ tục, mặt hàng nhập khẩu nào không hợp lý thì cắt giảm, nhưng thủ tục, mặt hàng nhập khẩu không đáng cắt mà lại cắt, bãi bỏ thủ tục kiểm tra chuyên ngành mà không hợp lý, phải rà lại. Không thể mở toang cửa quốc gia được”, Phó Thủ tướng nói.
Phó Thủ tướng cũng cảnh báo, nếu cắt giảm máy móc thì dễ bị các “nhóm lợi ích” vận động. “Quan điểm của Chính phủ là vừa tạo thuận lợi thương mại đến nơi đến chốn, cắt giảm triệt để vòi vĩnh, sách nhiễu nhưng chống gian lận thương mại cũng phải quan tâm. Phải tăng cường giám sát, nếu có sơ hở thì bộ trưởng, người đứng đầu bộ, ngành đó phải chịu trách nhiệm”, Phó Thủ tướng nói.
Theo Văn Kiên
Tiền phong
Doanh nghiệp quá lệ thuộc vào nguồn vốn ngân hàng trong khi thị trường vốn cổ phiếu, trái phiếu phát triển chưa tương xứng tạo ra nhiều rủi ro.
Trong bối cảnh rủi ro ngoại sinh gia tăng, diễn biến phức tạp và khó lường nhưng nền kinh tế Việt Nam ngày càng mở và hội nhập sâu rộng, việc xây dựng các giải pháp phù hợp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh , đưa doanh nghiệp (DN) vượt qua thách thức, khắc phục hạn chế, tồn tại, tăng khả năng kháng cự và thích ứng với các cú sốc bên ngoài của nền kinh tế là việc làm hết sức cấp bách.
>>>Xem thêm Việt Nam lựa chọn kịch bản nào để đón làn sóng số. 'Nếu khó quá thì thuê Phó Thủ tướng xuống làm cho'<<<
Chuyên gia kinh tế, TS. Cấn Văn Lực.
Một yếu tố có ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh và phát triển của DN Việt Nam hiện nay, đó chính là việc đảm bảo nguồn vốn. Nhưng theo chuyên gia kinh tế, TS. Cấn Văn Lực, các DN hiện nay phát triển thiếu cân bằng trong việc huy động nguồn tài chính. DN quá lệ thuộc vào nguồn vốn ngân hàng trong khi thị trường vốn cổ phiếu, trái phiếu DN phát triển chưa mạnh mẽ, chưa tương ứng tiềm ẩn nhiều rủi ro cho DN.
“Các DN hiện nay vay nợ nhiều, hệ số đòn bẩy cao nên một khi có biến động bên ngoài sẽ gặp rủi ro rất lớn và khả năng không trả được nợ rất cao. Do đó, các DN cần xem xét lại năng lực tài chính của mình đặc biệt liên quan đến hệ số nợ, hệ số đòn bẩy”, TS. Cấn Văn Lực nêu rõ.
Để có sự chuẩn bị, chủ động trước những biến động của nền kinh tế thế giới có tác động đến nền kinh tế Việt Nam, nhiều chuyên gia cho rằng, các DN Việt Nam cần có kế hoạch ứng xử tốt, chủ động đón lường các thuận lợi, thách thức đem lại. Trong đó, việc chủ động đối mới, nâng cao năng lực cạnh tranh là tiền đề cơ bản và quan trọng để các DN thích ứng và tồn tại.
Chuyên gia kinh tế, TS. Cấn Văn Lực cho rằng, các doanh nghiệp Việt cần nâng cao trình độ quản trị, chất lượng sản phẩm, có chiến lược phát triển kinh doanh, thị trường và thương hiệu. Tăng cường đầu tư và ứng dụng công nghệ trong bối cảnh kinh tế số, kinh doanh số. Để làm được điều này, yếu tố cơ bản vẫn là phát triển nguồn nhân lực, DN cần chú trọng lực lượng lao động có tay nghề và trình độ chuyên môn cao, có kiến thức về kinh doanh số và ngoại ngữ…
Ngoài ra, để nâng cao năng lực hội nhập, các DN cần chú trọng việc tuân thủ các tiêu chuẩn, chuẩn mực theo các hiệp định FTA mà Việt Nam đã ký kết, đảm bảo hưởng tối đa các ưu đãi, tận dụng cơ hội từ chiến tranh thương mại mang lại. Chủ động nắm bắt thông tin và lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế để chủ động đưa ra chiến lược hoạt động phù hợp.
Theo TS. Cấn Văn Lực, doanh nghiệp muốn tăng khả năng chống chịu đối với cú sốc bên ngoài của nền kinh tế cần nâng cao năng lực quản trị, đặc biệt là quản trị tài chính, cấu trúc vốn và đòn bẩy tài chính.
“DN cần chủ động tìm hiểu và sử dụng các công cụ phòng ngừa rủi ro tài chính (tỷ giá, lãi suất, giá cả hàng hóa) như các công cụ tài chính phái sinh; tăng tính minh bạch, quản trị bài bản để có thể tham gia sâu hơn vào thị trường vốn. Ngoài ra cần chủ động nắm bắt tính chu kỳ của nền kinh tế và của từng ngành nghề sản xuất, kinh doanh cụ thể cũng như diễn biến thị trường hàng hóa, thị trường tài chính, tiền tệ trong nước và quốc tế để xây dựng phương án dự phòng, cũng như các kịch bản ứng phó”, TS. Cấn Văn Lực khuyến cáo.
TS. Hà Huy Tuấn, Phó Chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia.
Để thích ứng và tăng cường tính cạnh tranh trong bối cảnh mới, TS. Hà Huy Tuấn, Phó Chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia lưu ý, các DN cần nâng cao sức cạnh tranh của mình bằng việc đầu tư thêm vào công tác nghiên cứu khoa học mang tính ứng dụng; tăng cường tính liên kết giữa các DN với các cơ quan nhà nước. Bởi khi DN có những sản phẩm và mô hình mới hay có thông tin cập nhật, cần chia sẻ với các cơ quan nhà nước để họ hiểu rõ hơn về nội tại của DN từ đó hỗ trợ và tạo ra những khung pháp lý tạo điều kiện cho DN.
Mặt khác theo TS. Hà Huy Tuấn, trong thời đại công nghệ thông tin như hiện nay, thông tin và số liệu rất quan trọng nên các DN phải tăng cường chia sẻ, cập nhật thông tin và tăng cường trao đổi với nhau. Những DN vừa và nhỏ cần tăng cường liên kết trong đầu tư nghiên cứu, phát triển khoa học công nghệ nhằm giảm thiểu được mức đầu tư, từ đó tận dụng được những sáng tạo, những nghiên cứu của các DN đối tác có cùng định hướng.
Và để làm được những điều này, TS. Hà Huy Tuấn cho rằng, tập trung phát triển nguồn nhân lực là yếu tố căn bản của mỗi DN. Trong bối cảnh cạnh tranh về nguồn nhân lực giữa các DN đang diễn ra hết sức khốc liệt, đòi hỏi mỗi DN cần đầu tư nhiều hơn trong việc đào tạo, bồi dưỡng và thu hút nguồn nhân lực có chất lượng cao. Khi được đầu tư thích đáng, tự thân nguồn nhân lực sẽ đưa ra được những giải pháp, những mô hình mới, giúp DN tăng cường tính cạnh tranh bền vững./.
Theo Nguyễn Quỳnh
Theo quy định tại Nghị định 119/2018/NĐ-CP, chậm nhất đến ngày 01/11/2020, toàn bộ các tổ chức, cá nhân phải hoàn thành việc chuyển đổi sang sử dụng HĐĐT khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ. Hà Nội là Tp có số lượng DN lớn thứ hai cả nước.
Vậy cơ quan thuế đã có những giải pháp gì để đẩy mạnh triển khai thực hiện HĐĐT đáp ứng được yêu cầu đã được đặt ra tại Nghị định 119?
Việc quản lý và sử dụng HĐĐT từ trước tới nay được điều chỉnh bởi Nghị định số 51/2010/NĐ-CP; Nghị định số 04/2014/NĐ-CP và Thông tư số 32/2011/TT-BTC. Ngày 12/9/2018, Chính phủ ban hành Nghị định số 119/2018/NĐ-CP hướng dẫn quản lý, sử dụng HĐĐT theo phương thức mới – có kết nối dữ liệu điện tử với cơ quan thuế. Nghị định 119/2018/NĐ-CP quy định về HĐĐT khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ có hiệu lực từ ngày 01/11/2018, quy định đến 01/11/2020, toàn bộ các tổ chức, cá nhân phải hoàn thành việc chuyển đổi sang sử dụng HĐĐT theo quy định tại Nghị định 119/2018/NĐ-CP.
Nhằm giúp người nộp thuế, đặc biệt là các tổ chức, doanh nghiệp trên địa bàn làm quen với HĐĐT và hoàn thiện giải pháp về HĐĐT trong giai đoạn chuyển tiếp từ tháng 11/2018 đến tháng 11/2020, tránh những rủi ro khi cơ quan thuế triển khai áp dụng HĐĐT đồng loạt mà doanh nghiệp chưa ký được hợp đồng với nhà cung cấp dịch vụ sẽ ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, năm 2019, Cục Thuế TP Hà Nội đẩy mạnh triển khai HĐĐT đến hầu tất cả các doanh nghiệp trên địa bàn Thủ đô.
Kế hoạch dự kiến triển khai với rất nhiều hoạt động như: đẩy mạnh tuyên truyền về lợi ích của việc sử dụng HĐĐT, hướng dẫn chính sách về quản lý, sử dụng HĐĐT đồng thời tuyên truyền về các hoạt động mà Cục Thuế TP Hà Nội đã, đang và sẽ triển khai nhằm đẩy mạnh việc sử dụng HĐĐT trên địa bàn; tổ chức hỗ trợ, hướng dẫn doanh nghiệp thực hiện HĐĐT từ khâu đăng ký đến các khâu sử dụng và báo cáo về hóa đơn thông qua các lớp tập huấn, thông qua điện thoại, email tư vấn phối hợp với hình thức hỗ trợ trực tiếp tại bộ phận một cửa của cơ quan thuế các cấp;
Cục Thuế TP Hà Nội cũng dự kiến sẽ phối hợp làm việc với các nhà cung cấp giải pháp về HĐĐT với mục tiêu đảm bảo kết nối dữ liệu về HĐĐT phục vụ cho công tác quản lý thuế trong giai đoạn vẫn đang sử dụng HĐĐT chưa có kết nối dữ liệu với cơ quan thuế như hiện tại, chuẩn bị sẵn sàng các cơ sở dữ liệu về hóa đơn để triển khai quản lý hóa đơn theo phương thức mới đã được quy định tại Nghị định số 119/2018/NĐ-CP.
Danh sách các nhà cung cấp dịch vụ về HĐĐT uy tín, đủ năng lực kết nối với cơ quan thuế sẽ được Cục Thuế TP Hà Nội công khai trên website của Cục Thuế TP Hà Nội để các doanh nghiệp, tổ chức trên địa bàn an tâm liên hệ, sử dụng dịch vụ.
Để chương trình kế hoạch được triển khai đồng bộ, thống nhất từ Văn phòng Cục đến 30 Chi cục Thuế quận, huyện, thị xã, Cục Thuế TP Hà Nội đã thành lập Tổ chỉ đạo, Tổ triển khai do Cục trưởng Cục Thuế trực tiếp là tổ trưởng, 01 đồng chí Phó Cục trưởng giữ vai trò tổ phó thường trực và các đồng chí thành viên là Trưởng các phòng thanh kiểm tra thuế, các phòng chức năng có liên quan và các đồng chí Chi cục trưởng Chi cục Thuế quận, huyện, thị xã trên địa bàn.
NA
Để đẩy nhanh tiến trình cổ phần hóa, thoái vốn theo đúng tiến độ đề ra, một trong những giải pháp được đề xuất là Thủ trưởng, người đứng đầu các Bộ, ngành, địa phương, Ủy ban quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm đôn đốc các Tập đoàn, Tổng công ty, DNNN triển khai thực hiện phương án cổ phần hóa, thoái vốn, cơ cấu lại đã được phê duyệt.
Thu 4.657 tỷ đồng từ thoái vốn
Trong 4 tháng đầu năm 2019, Bộ Tài chính đã tích cực phối hợp các bộ, ngành và địa phương tập trung rà soát, đánh giá việc thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp.
Do trong các tháng đầu năm, các bộ, ngành và địa phương chủ yếu tập trung rà soát, đánh giá việc thực hiện chính sách cổ phần hóa, triển khai kế hoạch cổ phần hóa, nên mới có 02 doanh nghiệp được cấp có thẩm quyền phê duyệt phương án cổ phần hóa với tổng giá trị doanh nghiệp là 295 tỷ đồng, trong đó giá trị vốn nhà nước là 276 tỷ đồng.
Lũy kế giai đoạn 2016 - tháng 4/2019, đã có 161 doanh nghiệp được cấp có thẩm quyền phê duyệt phương án cổ phần hóa với tổng giá trị doanh nghiệp là 442.571 tỷ đồng, trong đó giá trị vốn nhà nước là 206.300 tỷ đồng.Tuy nhiên trong 161 doanh nghiệp đã cổ phần hóa chỉ có 30 doanh nghiệp cổ phần hóa thuộc danh mục phải cổ phần hóa theo công văn số 991/TTg-ĐMDN.
Như vậy, tiến độ cổ phần hóa các doanh nghiệp còn chậm, không đạt được kế hoạch đề ra theo công văn số 991/TTg-ĐMDN ngày 10/7/2017 của Thủ tướng Chính phủ, số lượng doanh nghiệp phải cổ phần hóa còn lại là 97 doanh nghiệp, chiếm 76% kế hoạch đề ra.
Về tình hình thoái vốn, trong 04 tháng đầu năm 2019 có 09 doanh nghiệp thuộc danh mục ban hành theo Quyết định số 1232/QĐ-TTg thực hiện thoái vốn với giá trị 759 tỷ đồng, thu về 4.657 tỷ đồng.
Lũy kế giai đoạn 2016 - tháng 4/2019, cả nước đã thoái được 22.830 tỷ đồng, thu về 167.619 tỷ đồng.
Như vậy, việc triển khai thoái vốn nhà nước theo Quyết định số 1232/QĐ-TTg còn chậm, chỉ có 87 đơn vị thực hiện thoái vốn theo kế hoạch với tổng giá trị thoái khoảng 4.549 tỷ đồng (7,5% kế hoạch), không đạt kế hoạch đề ra.
Theo Bộ Tài chính bên cạnh những mặt tích cực, công tác cổ phần hóa, thoái vốn hiện còn tồn tại một số hạn chế như một số Bộ, ngành, địa phương, tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước còn chưa thực sự nghiêm túc triển khai kế hoạch cổ phần hóa, thoái vốn, cơ cấu lại DNNN theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và chấp hành chế độ báo cáo.
Vai trò, nhận thức, trách nhiệm của người đứng đầu doanh nghiệp, đơn vị còn chưa cao, chưa quyết liệt trong việc đổi mới hoạt động của doanh nghiệp, công khai minh bạch, đúng quy định pháp luật, đảm bảo nguyên tắc thị trường, chống lợi ích nhóm trong cổ phần hóa và thoái vốn nhà nước.
Bên cạnh đó, quá trình cổ phần hóa DNNN cần có nhiều thời gian để xử lý vướng mắc về tài chính, đất đai, lao động trong giai đoạn trước cổ phần hóa làm kéo dài thời gian thực hiện cổ phần hóa. Đặc biệt là vấn đề xác lập hồ sơ pháp lý đất đai do Ủy ban nhân dân địa phương thực hiện chậm, kéo dài thời gian hơn so với quy định dẫn đến các doanh nghiệp phải điều chỉnh tiến độ cổ phần hóa.
Việc chậm quyết toán bàn giao sang công ty cổ phần của các doanh nghiệp cổ phần hóa đã chuyển sang hoạt động dưới hình thức công ty cổ phần, làm ảnh hưởng đến công tác bàn giao và thu nộp các khoản về Quỹ Hỗ trợ sắp xếp và phát triển doanh nghiệp. Việc bàn giao quyền đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước về SCIC còn chậm, chưa đảm bảo kế hoạch theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.
Nhiều doanh nghiệp chậm đăng ký giao dịch, niêm yết trên thị trường chứng khoán làm ảnh hưởng đến tính công khai, minh bạch của thị trường, chậm đổi mới công tác quản trị doanh nghiệp sau cổ phần theo thông lệ và chuẩn mực của các doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán, cũng như hạn chế công tác giám sát của toàn xã hội đối với hoạt động của các doanh nghiệp này.
Các giải pháp chính
Để tiếp tục đẩy mạnh công tác đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN, trọng tâm là các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước, các Bộ, ngành, địa phương, tập đoàn, Tổng công ty nhà nước cần tập trung khắc phục những tồn tại, hạn chế, nghiêm túc, khẩn trương, quyết liệt triển khai các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội, Chính phủ và chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, trong đó tập trung vào một số nhiệm vụ, giải pháp:
Một là, tiếp tục quán triệt sâu sắc các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả DNNN theo Nghị quyết số 12-NQ/TW ngày 03/6/2017 của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 5 khóa XII, Nghị quyết số 60/NQ-QH14 của Quốc hội, tạo sự nhất trí cao trong toàn hệ thống chính trị để nâng cao hơn nữa nhận thức và có hành động quyết liệt, cụ thể trong thực hiện.
Hai là, tiếp tục hoàn thiện thể chế, khung khổ pháp lý về tổ chức quản lý và hoạt động của DNNN và doanh nghiệp có vốn nhà nước về cổ phần hóa, thoái vốn, cơ cấu lại doanh nghiệp theo chỉ đạo, phân công của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ tại Nghị quyết số 97/NQ-CP ngày 02/10/2017, Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 01/01/2019 và Chỉ thị số 01/CT-TTg ngày 05/01/2019.
Ba là, hoàn thành việc phê duyệt hoặc trình cấp có thẩm quyền phê duyệt để triển khai đề án cơ cấu lại các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực quản lý theo đúng quy định tại Quyết định số 707/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Thủ trưởng, người đứng đầu các Bộ, ngành, địa phương, Ủy ban quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp chịu trách nhiệm đôn đốc các Tập đoàn, Tổng công ty, DNNN triển khai thực hiện phương án cổ phần hóa, thoái vốn, cơ cấu lại đã được phê duyệt.
Bốn là, các DNNN thuộc diện cổ phần hóa cần khẩn trương rà soát toàn bộ quỹ đất đang quản lý, sử dụng để lập phương án sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai trình Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có ý kiến về phương án và giá đất để cấp có thẩm quyền phê duyệt trước khi tổ chức xác định giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa theo đúng quy định tại Nghị định số 167/2017/NĐ-CP ngày 31/12/2017 và Nghị định số 126/2017/NĐ-CP ngày 16/11/2017.
Năm là, cơ quan đại diện chủ sở hữu chỉ đạo người đại diện phần vốn nhà nước đôn đốc các doanh nghiệp đã cổ phần hóa: Thực hiện nghiêm việc đăng ký giao dịch, niêm yết trên thị trường chứng khoán theo quy định của pháp luật.
TM
Chính phủ ban hành Nghị định số 40/2019/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật bảo vệ môi trường. Trong đó, Nghị định số 40/2019/NĐ-CP có sửa đổi, bổ sung quy định về nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất từ nước ngoài vào Việt Nam.
Cụ thể, Nghị định số 40/2019/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Điều 55 Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 về phế liệu nhập khẩu làm nguyên liệu sản xuất từ nước ngoài vào Việt Nam và đối tượng nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất.
Theo Nghị định, phế liệu nhập khẩu làm nguyên liệu sản xuất phải đáp ứng yêu cầu quy định tại khoản 1 Điều 76 Luật bảo vệ môi trường. Tổ chức, cá nhân nhập khẩu phế liệu được lựa chọn làm thủ tục hải quan tại cơ quan hải quan quản lý cửa khẩu nhập hoặc cơ quan hải quan nơi có nhà máy, cơ sở sản xuất sử dụng phế liệu nhập khẩu (cơ sở sản xuất); được lựa chọn địa điểm kiểm tra chất lượng phế liệu nhập khẩu tại cửa khẩu nhập hoặc tại cơ quan hải quan nơi có cơ sở sản xuất sử dụng phế liệu nhập khẩu hoặc tại cơ sở sản xuất sử dụng phế liệu nhập khẩu.
Phế liệu nhập khẩu chỉ được phép dỡ xuống cảng khi đáp ứng các yêu cầu sau: Phế liệu nhập khẩu chỉ được phép dỡ xuống cảng khi tổ chức, cá nhân nhận hàng trên Bản lược khi hàng hóa (E-Manifest) có Giấy xác nhận đủ điều kiện về bảo vệ môi trường trong nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất còn hiệu lực và còn khối lượng phế liệu nhập khẩu; Tổ chức, cá nhân nhận hàng trên E-Manifest có Văn bản xác nhận đã ký quỹ bảo đảm phế liệu nhập khẩu đối với phế liệu ghi trên E-Manifest theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 57 Nghị định số 40/2019/NĐ-CP.
>>>Xem thêm Quyết liệt cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước, 'Nếu khó quá thì thuê Phó Thủ tướng xuống làm cho'<<<
Cơ quan hải quan có trách nhiệm kiểm tra các điều kiện trên trước khi cho phép dỡ phế liệu xuống cảng.
Về điều kiện nhập khẩu, Nghị định 40/2019/NĐ-CP cũng nêu rõ các tổ chức, cá nhân có cơ sở sản xuất sử dụng phế liệu nhập khẩu phải đáp ứng các yêu cầu và trách nhiệm về bảo vệ môi trường quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 76 Luật bảo vệ môi trường; Có báo cáo đánh giá tác động môi trường được Bộ Tài nguyên và Môi trường phê duyệt, trong đó có nội dung sử dụng phế liệu nhập khẩu làm nguyên liệu sản xuất và được cấp giấy xác nhận hoàn thành công trình bảo vệ môi trường hoặc giấy phép xử lý chất thải nguy hại, trong đó có nội dung sử dụng phế liệu làm nguyên liệu sản xuất đối với các dự án đã đi vào vận hành.
Đối với dự án mới xây dựng phải đáp ứng các yêu cầu quy định tại Điều 16b và Điều 17 Nghị định số 18/2015/NĐ-CP.
Ngoài ra, các tổ chức, cá nhân này phải có Giấy xác nhận đủ điều kiện về bảo vệ môi trường trong nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất theo quy định của pháp luật.
Nghị định trên có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2019.
PL
Theo thông tin từ Tổng cục Thống kê,chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 4/2019 tăng 0,31% so với tháng trước, tăng 1,0% so với tháng 12/2018, tăng 2,93% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân bốn tháng đầu năm 2019, CPI tăng 2,71% so với cùng kỳ năm 2018 - mức tăng bình quân bốn tháng đầu năm thấp nhất trong 3 năm gần đây.
So với tháng trước CPI tháng 4 năm 2019 tăng 0,31%, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính có 9 nhóm hàng tăng giá: nhóm Giao thông có mức tăng cao nhất, tăng 4,29%; Nhà ở, điện nước và vật liệu xây dựng tăng 0,6%; Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,15%; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,11%; Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,1%; Đồ uống và thuốc lá tăng 0,08%; May mặc, mũ nón, giầy dép tăng 0,06%; Giáo dục tăng 0,05%; Thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,01%. Có 2 nhóm hàng giảm giá: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,57%; Bưu chính viễn thông giảm 0,07%.
Nhiều biến động làm tăng CPI
Theo đánh giá của Tổng cục Thống kê, một số nguyên nhân làm tăng CPI tháng 4 năm 2019 như:
Giá xăng dầu điều chỉnh tăng vào ngày 2/4/2019 và 17/4/2019, bình quân tháng 4/2019 giá xăng dầu tăng 9,88% so với tháng trước, trong đó: giá xăng A95 tăng 2.690 đồng/lít, xăng E5 tăng 2.490 đồng/lít, dầu diezen tăng 1.520 đồng/lít so với tháng trước; Bên cạnh đó, giá vé tàu hỏa tăng 2,76% do Tổng công ty Đường sắt Việt Nam tăng giá khi nhu cầu tăng cao vào dịp nghỉ lễ Giỗ tổ Hùng Vương và chuẩn bị nghỉ lễ 30/4 - 1/5 làm cho chỉ số giá nhóm giao thông tăng 4,29% làm CPI tháng 4/2019 tăng khoảng 0,4%.
Giá điện tăng theo Quyết định số 648/QĐ-BCT của Bộ Công Thương ngày 20/3/2019 nên chỉ số giá điện sinh hoạt tăng 1,85% so với tháng trước.
Giá gas tháng 4/2019 tăng 1,42% so với tháng 3/2019 do giá gas thế giới bình quân tháng 4/2019 công bố ở mức 525 USD/tấn, tăng 20 USD/tấn so với tháng 3/2019.
Giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 0,98% do nhu cầu xây dựng bắt đầu tăng cùng với chi phí đầu vào tăng nên giá một số mặt hàng vật liệu xây dựng như: sắt, thép, xi măng, giá nhân công xây dựng tăng theo.
Từ tháng 4/2019, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam tăng giá sách giáo khoa năm học 2019 - 2020 làm cho chỉ số giá nhóm sách giáo khoa tăng 0,76%.
Các nguyên nhân làm giảm CPI tháng 4 năm 2019
Bên cạnh các nguyên nhân làm tăng CPI, còn có một số nguyên nhân kiềm chế CPI tháng 4/2019 như sau: Giá thịt lợn giảm 3,07% do dịch tả lợn châu Phi đang lây lan tại nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, người tiêu dùng có xu hướng hạn chế sử dụng các sản phẩm thịt lợn.
Giá đường giảm 0,67% do giá đường thế giới giảm và nhu cầu tiêu thụ chậm trong khi nguồn cung dồi dào; Giá rau tươi, quả tươi giảm do nguồn cung dồi dào.
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 4 giai đoạn 2010 - 2019
Đơn vị tính: %
Năm 2010
Năm 2011
Năm 2012
Năm 2013
Năm 2014
Năm 2015
Năm 2016
Năm 2017
Năm 2018
Năm 2019
CPI tháng 4 năm báo cáo so với tháng trước
0,14
3,32
0,05
0,02
0,08
0,33
0,0
0,31
CPI bình quân bốn tháng đầu năm so với cùng kỳ năm trước
8,69
13,95
14,57
6,83
4,73
0,8
1,41
4,8
2,8
2,71
CPI tháng 4 năm báo cáo so với tháng 12 năm trước
4,27
9,64
2,6
2,41
0,88
0,04
1,33
0,9
1,05
1,0
CPI tháng 4 năm báo cáo so với cùng kỳ năm trước
9,23
17,51
10,54
6,61
4,45
0,99
1,89
4,3
2,75
2,93
Nguồn: Tổng cục Thống kê
Lạm phát cơ bản (CPI sau khi loại trừ lương thực, thực phẩm tươi sống; năng lượng và mặt hàng do Nhà nước quản lý bao gồm dịch vụ y tế và dịch vụ giáo dục) tháng 4 năm 2019 tăng 0,09% so với tháng trước, tăng 1,88% so với cùng kỳ; bốn tháng đầu năm 2019 so với cùng kỳ tăng 1,84%.
Tháng 4 năm 2019, lạm phát chung có mức tăng cao hơn lạm phát cơ bản, điều này phản ánh biến động giá chủ yếu do giá xăng dầu, điện tăng. Lạm phát cơ bản bốn tháng đầu năm 2019 so với cùng kỳ ở mức 1,84% phản ánh chính sách tiền tệ vẫn đang điều hành ổn định.
Lạm phát cơ bản tháng 4 trong các năm gần đây
Lạm phát cơ bản tháng 4 năm báo cáo so với tháng trước
0,3
0,21
0,07
0,19
0,09
Lạm phát cơ bản bốn tháng đầu năm so với cùng kỳ năm trước
11,61
5,24
3,63
2,34
1,76
1,62
1,34
1,84
Lạm phát cơ bản tháng 4 năm báo cáo so cùng kỳ năm trước
9,22
5,12
3,46
2,2
1,5
1,88
Lạm phát cơ bản bình quân năm so với năm trước
8,19
4,77
3,31
2,05
1,87
1,48
KH
1,6-1,8
Gửi tiết kiệm, đầu tư vàng, chứng chỉ tiền gửi ghi danh, ngoại tệ... được nhiều tổ chức lựa chọn để tái đầu tư khoản tiền nhàn rỗi.
Tiền gửi ngân hàng
Các chuyên gia đánh giá, tiền gửi ngân hàng vẫn là kênh đầu tư truyền thống, đáng tin cậy, có sự bảo đảm của Ngân hàng Nhà nước. Trong bối cảnh lãi suất huy động đang trên đà tăng, đây sẽ là một trong những kênh tích lũy, đầu tư cho các dòng tiền.
Theo báo cáo của Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia, nguồn vốn huy động vào các tổ chức tín dụng từ tổ chức kinh tế và dân cư năm 2018 ước tăng 15% so với năm 2017.
Bên cạnh đó, theo quy định của Ngân hàng Nhà nước từ đầu năm 2019, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn của các ngân hàng sẽ giảm từ 45% xuống chỉ còn 40%. Điều này đồng nghĩa với việc các ngân hàng sẽ phải tăng nguồn vốn trung và dài hạn thông qua việc huy động tiền gửi trong các kỳ hạn này.
Để làm điều này, nhiều ngân hàng rục rịch tăng lãi suất, tung khuyến mãi nhằm thu hút thêm khách hàng. Đây là cơ hội cho các doanh nghiệp tận dụng sinh lời từ nguồn tiền nhàn rỗi.
Chứng chỉ tiền gửi ghi danh
Đây là sản phẩm mới được nhiều ngân hàng triển khai mạnh trong thời gian gần đây. Tiền gửi ghi danh phát hành dưới dạng chứng chỉ là một loại giấy tờ có giá với đầy đủ tính năng của sản phẩm tiền gửi có kỳ hạn.
Bên cạnh đó, sản phẩm này còn có nhiều điểm ưu việt hơn như mức lãi suất cùng kỳ hạn cao hơn lãi suất tiền gửi. Khách hàng mua các sản phẩm chứng chỉ tiền gửi có thể chuyển quyền, cầm cố vay vốn dễ dàng. Nhờ đó, các tổ chức sẽ có nguồn vốn linh hoạt cho các kế hoạch trong tương lai.
Tiêu biểu, Ngân hàng Bảo Việt (BaoViet Bank) cũng triển khai chương trình phát hành chứng chỉ tiền gửi ghi danh dành cho khách hàng tổ chức với lãi suất lên đến 8% mỗi năm. Sản phẩm được cung cấp tại tất cả các điểm giao dịch trên toàn quốc. Theo đại diện ngân hàng, tổng giá trị phát hành là 2.000 tỷ đồng. Khách hàng có thể gửi với các kỳ hạn từ 12 đến 60 tháng.
Đầu tư vàng
Vàng luôn được xem là một loại tài sản có tính tiết kiệm đối với người Việt. Tính về số lượng, vàng miếng và tiền vàng vẫn chiếm tới 70% tổng tiêu thụ vàng tại Việt Nam. Theo số liệu thống kê của Hội đồng Vàng thế giới năm 2017, Việt Nam xếp thứ 14 trên thế giới về lượng tiêu thụ vàng trên đầu người.
Đại diện BaoViet Bank đánh giá, đầu tư vàng thường là kênh được nhiều nhà đầu tư "thích an toàn" trước những biến động khó lường của nền kinh tế.
Tuy vậy, giá vàng có xu hướng tỷ lệ nghịch với sự tăng trưởng của nền kinh tế nên đối với những nhà đầu tư muốn đạt được lợi nhuận lớn trong thời gian ngắn thì đây không phải là kênh đầu tư thích hợp. Ví dụ, vàng trong nước liên tục duy trì quanh mức giá 36,2-37 triệu đồng, ít thay đổi trong suốt thời gian dài.
Nhiều chuyên gia dự đoán, kênh đầu tư này sẽ tiếp tục duy trì trạng thái hiện nay khi sự tương đồng giữa thị trường vàng trong nước và vàng thế giới bị giảm triệt để sau động thái chặn tình trạng "vàng hóa" nền kinh tế của Ngân hàng Nhà nước cách đây 5 năm.
Tích trữ ngoại tệ
Năm 2018, lãi suất USD trên thị trường thế giới liên tục tăng nhưng tại các ngân hàng Việt Nam, lãi suất tiền gửi USD gần như bằng 0. Các chuyên gia đánh giá, việc nắm giữ ngoại tệ được xem là kênh đầu tư "lép vế" hơn so với tiền gửi có kỳ hạn ngân hàng trong năm 2018.
Tuy nhiên, việc dự trữ ngoại hối ở Việt Nam vẫn tăng mạnh. Theo báo cáo của Chính phủ tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa 14 hồi tháng 5/2018, Ngân hàng Nhà nước đang dự trữ hơn 63,5 tỷ USD. Trong khi đó, lượng ngoại tệ ròng Ngân hàng Nhà nước mua vào trong năm 2018 đạt khoảng 6 tỷ USD.
Các chuyên gia đánh giá, trong bối cảnh tỷ giá trên thị trường liên tục giảm do nguồn cung ngoại tệ dồi dào, nhà điều hành tranh thủ cơ hội này để mua vào.
Bên cạnh đó, đồng USD trên thị trường thế giới đang trong xu hướng điều chỉnh và được dự báo sẽ đảo chiều giảm mạnh trong năm nay sau khi đã tăng khá mạnh trong năm qua. Điều đó góp phần giảm bớt áp lực đến tỷ giá trong nước cũng như hạn chế được phần nào tâm lý găm giữ ngoại tệ để chờ tỷ giá tăng.
Dù vậy, theo các chuyên gia, dù chọn kênh đầu tư nào, các tổ chức, doanh nghiệp cũng cần nghiên cứu kỹ để tránh rủi ro, nhất là trong bối cảnh thị trường còn nhiều bấp bênh.
Tâm Anh
Đây là các công nghệ then chốt trong chuyển đổi số của các doanh nghiệp tại Việt Nam, theo nhận định của ban tổ chức Vietnam Mobile Day (VMD) 2019.
VMD 2019 dẫn lời các chuyên gia cho rằng, chuyển đổi số (digital transformation) với sức phủ lớn, đang đặt ra hai kịch bản cho các doanh nghiệp: hoặc chết, hoặc phát triển vượt bậc nếu biết tận dụng lợi thế công nghệ. Sau đây là 5 xu hướng then chốt ảnh hưởng đến thành công của chuyển đổi số.
Thanh toán di động
Xu hướng này đã trở thành phương thức thanh toán phổ biến tại nhiều quốc gia phát triển, thúc đẩy các giao dịch thanh toán cho toàn thị trường. Các ưu điểm của nó bao gồm: nhanh chóng, chính xác và hạn chế chi phí.
Theo Vụ Thanh toán (Ngân hàng Nhà nước), giá trị thanh toán qua qua di động và ví điện tử đến hết quý III/2018 tăng 126% và 161%. so với cùng kỳ 2017. VMD 2019 cho rằng, các ứng dụng đặt xe và đặt thức ăn đã góp phần không nhỏ cho sự tăng trưởng vượt bậc này.
Tự động hóa
Tự động hóa quy trình (Robotics Process Automation – RPA) trở thành giải pháp rất "thời thượng" trong năm 2018. RPA thường được đặt trong nhóm với Trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligence – AI) và Học máy (Machine Learning – ML) và sự phát triển của tổ hợp này đã bùng nổ được một thời gian. Tuy nhiên, khi tách riêng ra, RPA được dự đoán sẽ tăng trưởng đáng kinh ngạc như một thị trường độc lập.
Theo báo cáo của Forrester, thị trường RPA thế giới trị giá khoảng 250 triệu USD vào năm 2016, ước tính sẽ tăng lên 2,1 tỷ đôla vào năm 2021. Chỉ riêng trên thị trường phần mềm G2 Crowd, số lượng và tần suất truy cập vào trang danh mục RPA đã tăng đáng kể trong suốt năm 2018.
Từ thời điểm danh mục được thêm vào tháng 2/2018 đến cuối tháng 10/2018, lưu lượng truy cập không phải trả tiền cho RPA đã tăng gần 10 lần và hiện là hạng mục cao thứ mười về lưu lượng truy cập miễn phí G2 Crowd, điều đó có nghĩa người mua đang rất tích cực tìm kiếm các giải pháp tự động hóa.
Internet vạn vật
Theo dự báo mới nhất của Business Insider Intelligence, sẽ có hơn 64 tỷ thiết bị IoT được cài đặt trên toàn thế giới vào năm 2026, tăng từ khoảng 10 tỷ vào năm 2018. Các công ty và người tiêu dùng sẽ chi gần 15.000 tỷ USD cho các thiết bị IoT, giải pháp và hệ thống hỗ trợ đến năm 2026. Đầu tư hàng năm dự kiến sẽ vượt 1.000 tỷ USD vào năm 2021.
Tại Việt Nam, các chuyên gia dự báo IoT sẽ gắn liền "như hình với bóng" cùng chiếc smartphone của từng cá nhân. TopDev cho rằng cuộc đua sẽ nóng bỏng hơn giữa những nhà cung cấp khi có đến 22% các doanh nghiệp khảo sát tin rằng, IoT sẽ là một trong những mũi nhọn đáng đầu tư nhất trong năm nay.
Mạng 5G
Một trong những công nghệ được mong chờ hàng đầu năm nay là mạng 5G. Không chỉ có tốc độ đường truyền nhanh gấp nhiều lần so với 4G LTE, 5G còn có thể cho phép số lượng thiết bị kết nối gấp 100 lần trong 1 đơn vị diện tích.
Theo khảo sát của Ericsson, 92% các chuyên viên trong số 100 nhà điều hành viễn thông toàn cầu đồng ý rằng 5G sẽ mở đường cho sự nổi lên của các ứng dụng công nghệ. Đặc biệt hơn, mạng dữ liệu 5G sẽ giúp thiết lập Internet vạn vật trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống, thông qua việc đặt nền móng để phát huy hết toàn bộ tiềm năng của nó.
"Mạng 5G sẽ thay đổi cách thức kinh doanh viễn thông và cung cấp các khả năng mới, biến đổi mới trong không gian IoT. Nó sẽ tăng thêm sức hấp dẫn cho các giải pháp di động. Đó là lý do tại sao gần một nửa các nhà cung cấp IoT cho biết họ có kế hoạch hỗ trợ mạng 5G cho các giải pháp của họ trong hai năm tới", Business Insider Intelligence nhận định.
Viễn Thông
Để tiếp tục củng cố, xây dựng cơ cấu thu ngân sách bền vững, cùng với cải cách đồng bộ hệ thống chính sách thuế, các chuyên gia cho rằng, cần có chính sách để động viên vào ngân sách các nguồn thu tiềm năng như thuế tài sản, các khoản thu liên quan đến tài nguyên..
Thời gian qua, hệ thống chính sách thuế đã được bổ sung, sửa đổi phù hợp với thực tiễn phát sinh, theo kịp xu hướng quốc tế. Trong các khoản thu nội địa, cơ cấu thu cũng được điều chỉnh theo hướng hợp lý hơn. Trong đó, tỷ trọng thu từ thuế GTGT tăng nhanh, trở thành nguồn động viên ngân sách quan trọng nhất hiện nay, đạt 25,49% năm 2018- cao hơn so với mức 22,36% giai đoạn 2006-2010. Tỷ trọng thu từ thuế TNDN (không kể dầu thô) trong 3 năm từ 2016-2018 có xu hướng giảm, đạt khoảng 14,86% tổng thu NSNN năm 2018. Thuế TNCN cũng trở thành một trong những nguồn thu quan trọng với tỷ trọng thu ước đạt 7,19% năm 2018, so với mức 5,92% năm 2016. Đặc biệt, thuế bảo vệ môi trường áp dụng từ năm 2012 đang chiếm tỷ lệ ngày càng cao trong tổng thu NSNN, tạo thêm nguồn lực đáp ứng các nhu cầu chi.
Cùng với đó, hệ thống chính sách tài chính để khai thác nguồn lực từ đất đai tương đối đầy đủ, phù hợp với cơ chế thị trường, tạo nguồn lực tài chính quan trọng cho NSNN. Chỉ tính riêng năm 2018, số thu từ tiền sử dụng đất ước đạt 146,6 nghìn tỷ đồng, tăng gấp 3 lần so với năm 2011; số thu từ tiền thuê đất ước đạt 32 nghìn tỷ đồng, tăng hơn 5 lần so với năm 2011. Nhờ đó, quy mô thu ngân sách được mở rộng, đáp ứng tốt hơn các nhu cầu chi. Tổng thu NSNN năm 2018 ước đạt 25,7% GDP, cao hơn mức bình quân 24,91% giai đoạn 2016-2018 và 23,57% GDP của giai đoạn 2011 - 2015.
Mặc dù vậy, theo đánh giá của ThS Phạm Thị Thu Hồng (Viện Chiến lược và chính sách tài chính, Bộ Tài chính), hệ thống thuế còn phức tạp, lồng ghép quá nhiều ưu đãi miễn giảm, chưa đảm bảo tính trung lập của chính sách. Các sắc thuế được giao quá nhiều chức năng nhiệm vụ khi vừa phải điều tiết thu nhập, kích thích sản xuất, điều tiết vĩ mô nền kinh tế, vừa bảo vệ sản xuất trong nước, tăng sức cạnh tranh về thuế đối với các nước khác. Các sắc thuế đối với tài sản, tài nguyên, thuế môi trường chưa thực sự phát huy được hiệu quả trong việc huy động nguồn thu, thúc đẩy việc khai thác, sử dụng hiệu quả tài sản, tài nguyên, kiểm soát, ngăn chặn các hoạt động tàn phá môi trường.
Đặc biệt, cơ cấu thu nội địa chưa thực sự đảm bảo sự bền vững. Trong các khoản thuế trực thu, tỷ trọng các sắc thuế TNCN hay thuế tài sản (thuế nhà, đất) vẫn khiêm tốn. Đáng chú ý, tỷ lệ thu thuế TNCN đang trong xu thế giảm, trong khi mức sống và thu nhập người dân tiếp tục được cải thiện. Cạnh đó, dù thu NSNN của Việt Nam đang dựa vào chủ yếu vào thuế TNDN và các sắc thuế gián thu, nhưng dự báo khả năng để tiếp tục tăng mức độ động viên từ những sắc thuế này rất hạn chế, do quy mô đã cận ngưỡng, gây cản trở đến sự phục hồi, duy trì tăng trưởng của nền kinh tế. Mặt khác, cơ cấu thu chưa có sự cân đối hợp lý giữa các khoản thuế thu nhập, thuế tiêu dùng và thuế tài sản, trong đó một số sắc thuế mang tính chất là thuế tài sản như thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế sử dụng đất phi nông nghiệp thì số thu chỉ chiếm khoảng 7-8% tổng thu, tương đương 0,03% GDP. “So sánh với mức trung bình của các nước đang phát triển là 0,6% GDP, thì con số này vẫn thấp”- bà Hồng nhấn mạnh.
Chính vì vậy, thời gian tới, để tiếp tục củng cố, xây dựng cơ cấu thu NSNN bền vững, cần cải cách đồng bộ hệ thống chính sách thuế, đơn giản hóa các chính sách ưu đãi thuế, đảm bảo việc thực hiện ưu đãi có tính chọn lọc và gắn với các định hướng phát triển ngành, lĩnh vực, đảm bảo tính cạnh tranh, hỗ trợ tăng trưởng. Cùng với đó, có chính sách động viên kịp thời các nguồn thu tiềm năng như thuế tài sản, các khoản thu liên quan đến tài nguyên, tài sản nhà nước; cũng như có cơ chế xử lý các vấn đề liên quan đến xói mòn cơ sở thuế. Đặc biệt, cần xử lý có kết quả vấn đề nợ thuế để hạn chế gian lận, thất thu. Bên cạnh đó, thực hiện cơ cấu lại chi NSNN theo một lộ trình tổng thể, từng bước giảm dần quy mô chi thường xuyên và tăng chi đầu tư phát triển, nâng cao kỷ luật tài khóa.
Trong tháng 4/2019, cả nước có 14.854 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là 167 nghìn tỷ đồng, tăng 19% về số doanh nghiệp và tăng 30,3% về số vốn đăng ký so với tháng trước.
Như vậy, đây là tháng có số doanh nghiệp thành lập mới và số vốn đăng ký của các doanh nghiệp thành lập mới đạt cao nhất trong 4 tháng đầu năm nay.
Số vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp đạt 11,2 tỷ đồng, tăng 27,3%; tổng số lao động đăng ký của các doanh nghiệp thành lập mới là 131,4 nghìn người, giảm 14,5%. Trong tháng, cả nước còn có 2.714 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 44,4% so với tháng trước; 2.495 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, tăng 81,7%; có 1.904 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, tăng 1,2%; 1.189 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 23,9%.
Tính chung 4 tháng đầu năm nay, cả nước có 43.305 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký là 542,4 nghìn tỷ đồng, tăng 4,9% về số doanh nghiệp và tăng 31,7% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2018 ; vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới đạt 12,5 tỷ đồng, tăng 25%.
Nếu tính cả 872 nghìn tỷ đồng vốn đăng ký tăng thêm của các doanh nghiệp thay đổi tăng vốn thì tổng số vốn đăng ký bổ sung thêm vào nền kinh tế trong 4 tháng năm 2019 là 1.414,4 nghìn tỷ đồng. Bên cạnh đó, còn có 17.463 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 52,6% so với cùng kỳ năm trước, nâng tổng số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong 4 tháng năm nay lên gần 60,8 nghìn doanh nghiệp.
Tổng số lao động đăng ký của các doanh nghiệp thành lập mới trong 4 tháng năm nay là 449,1 nghìn người, tăng 35,2% so với cùng kỳ năm trước.
Theo lĩnh vực hoạt động, trong 4 tháng đầu năm nay phần lớn các lĩnh vực có số doanh nghiệp thành lập mới tăng so với cùng kỳ năm trước, trong đó:
Một số lĩnh vực có số doanh nghiệp thành lập mới tiếp tục giảm so với cùng kỳ năm trước: Dịch vụ lưu trú và ăn uống có 2 nghìn doanh nghiệp (chiếm 4,6%), giảm 4,3%; tài chính, ngân hàng và bảo hiểm có 448 doanh nghiệp (chiếm 1%), giảm 13,3%; khai khoáng có 200 doanh nghiệp (chiếm 0,5%), giảm 6,1% và vận tải, kho bãi có 1 doanh nghiệp, giảm 99,9%.
Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư số 10/2019/TT-BTC Hướng dẫn việc xác định giá trị tài sản là kết quả của nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng vốn nhà nước.
Thông tư áp dụng đối với Cơ quan quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng vốn nhà nước; Cơ quan, tổ chức, cá nhân được giao quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản là kết quả của nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng vốn nhà nước...
Xác định giá trị tài sản là kết quả của nhiệm vụ khoa học và công nghệ: Xác định các đặc điểm của tài sản là kết quả của nhiệm vụ khoa học và công nghệ (đặc điểm pháp lý, kinh tế, kỹ thuật và các đặc điểm khác); Xác định mục đích, đối tượng sử dụng kết quả xác định giá trị, thời điểm xác định giá trị, cơ sở giá trị, quy trình tiến hành công việc xác định giá trị tài sản; Lựa chọn phương pháp xác định giá trị tài sản theo quy định tại Điều 7, Điều 8, Điều 9 và Điều 10 Thông tư 10/2019; Tiến hành điều tra, khảo sát, thu thập thông tin, dữ liệu liên quan (ví dụ: kinh phí đầu tư cho nhiệm vụ, giá giao dịch trên thị trường, chi phí và thu nhập tạo ra từ việc thương mại hóa kết quả của nhiệm vụ khoa học và công nghệ...); Phân tích, xử lý thông tin, dữ liệu; Xác định giá trị kết quả của nhiệm vụ khoa học và công nghệ theo phương pháp được lựa chọn.
Ngoài ra, lập Báo cáo kết quả thẩm định giá hoặc Báo cáo kết quả xác định giá trị tài sản theo quy định tại Điều 11 Thông tư 10/2019, trình cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định giá trị tài sản là kết quả của nhiệm vụ khoa học và công nghệ.
Thông tư hướng dẫn việc xác định giá trị tài sản được lựa chọn theo các phương pháp như: Phương pháp xác định giá trị tài sản dựa trên kinh phí đầu tư cho nhiệm vụ khoa học và công nghệ; Các phương pháp xác định giá trị tài sản theo cách tiếp cận từ chi phí; Các phương pháp xác định giá trị tài sản theo cách tiếp cận từ thị trường; Các phương pháp xác định giá trị tài sản theo cách tiếp cận từ thu nhập.
Về chi phí xác định giá trị tài sản; thanh toán chi phí xác định giá trị tài sản Thông tư quy định như sau:
Chi phí xác định giá trị tài sản bao gồm chi phí thuê thẩm định giá; chi phí thuê tổ chức dịch vụ có chức năng tư vấn về giá để xác định giá trị tài sản; chi văn phòng phẩm và các chi phí khác liên quan trực tiếp đến việc xác định giá trị tài sản.
Mức chi cho các chi phí trên thực hiện theo các quy định tại Điều 33 Nghị định 70/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ quy định việc quản lý, sử dụng tài sản được hình thành thông qua việc triển khai thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng vốn nhà nước.
Đối với tài sản có quyết định giao quyền sở hữu: Nguồn kinh phí để chi trả cho chi phí xác định giá trị tài sản được sử dụng từ nguồn thu từ giao quyền sở hữu tài sản. Trường hợp việc xử lý tài sản không phát sinh nguồn thu hoặc số thu không đủ bù đắp chi phí thì phần chi phí còn thiếu được quyết toán và chi trả từ nguồn kinh phí của cơ quan quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ.
Đối với tài sản có quyết định giao quyền sử dụng: Cơ quan quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ thực hiện việc chi trả chi phí xác định giá trị tài sản bằng nguồn ngân sách nhà nước dành cho sự nghiệp khoa học và công nghệ; đồng thời gửi hồ sơ yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân được giao quyền sử dụng tài sản thực hiện việc hoàn trả chi phí xác định giá trị tài sản; Trong thời gian 60 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ yêu cầu hoàn trả chi phí xác định giá trị tài sản, cơ quan, tổ chức, cá nhân được giao quyền có trách nhiệm hoàn trả chi phí xác định giá trị tài sản cho cơ quan quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ.
Kể từ ngày 3/6/2019, tại Việt Nam sẽ áp dụng hình thức thoái vốn theo phương thức dựng sổ. Đây được cho là phương thức phát hành hiệu quả, đã được áp dụng ở nhiều nước, được kỳ vọng tạo ra biến chuyển mới trong công tác chuyển nhượng vốn nhà nước, tạo động lực để nâng cấp, hoàn thiện hệ thống các công ty chứng khoán Việt Nam. Hiện tại, HNX đã hoàn tất nâng cấp hệ thống đấu giá và bổ sung thêm tính năng dựng sổ, sẵn sàng để đưa phương thức này vào áp dụng.
Lợi ích khi sử dụng phương thức dựng sổ
Ngày 11/4/2019, Bộ Tài chính ban hành Thông tư 21/2019/TT-BTC hướng dẫn việc bán cổ phần lần đầu và chuyển nhượng vốn Nhà nước theo phương thức dựng sổ. Thông tư có hiệu lực kể từ ngày 03/06/2019, tạo hành lang pháp lý để sớm đưa phương thức này áp dụng rộng rãi tại Việt Nam.
Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cho biết, thực tế, phương thức dựng sổ để bán cổ phần là một phương thức phổ biến, được nhiều nước trên thế giới sử dụng từ lâu. Với phương thức này, tổ chức bảo lãnh phát hành sẽ đứng ra quảng bá, thăm dò nhu cầu mua của nhà đầu để dựng sổ, xác định giá phát hành sao cho sát nhất với nhu cầu của thị trường, mang lại hiệu quả tài chính tốt nhất cho tổ chức phát hành.
Tại Việt Nam, IPO dù đã trải qua nhiều năm áp dụng vào thực tiễn nhưng đối với cơ quan quản lý nhà nước cũng như các tổ chức phát hành, nhà đầu tư, tổ chức tư vấn, tổ chức trung gian...vẫn còn nhiều bất cập cần được khắc phục nhất là trong vấn đề định giá doanh nghiệp, xác định giá phát hành…
Việc áp dụng phương thức dựng sổ vào thị trường Việt Nam là cần thiết, nhất là trong giai đoạn hiện nay khi Việt Nam đang trong tiến trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước, cần có biện pháp hữu hiệu để đảm bảo các đợt phát hành được tổ chức thành công. Ngoài ra, việc áp dụng phương thức dựng sổ còn tạo động lực để nâng cấp, hoàn thiện hệ thống các công ty chứng khoán Việt Nam, giúp các công ty chứng khoán thể hiện khả năng tư vấn của mình trong môi trường cạnh tranh bình đẳng.
Theo Thông tư 21/2019/TT-BTC, bước thăm dò nhu cầu mua của nhà đầu tư được thực hiện bởi tổ chức bảo lãnh phát hành thông qua việc tổ chức giới thiệu bán cổ phần (phải mời tối thiểu 30 nhà đầu tư, đồng thời phải có thông báo mời công chúng quan tâm đến tham dự đăng trên trang thông tin điện tử của doanh nghiệp tối thiểu 10 ngày trước ngày tổ chức giới thiệu về việc bán cổ phần).
Tổ chức quản lý sổ lệnh (Sở Giao dịch chứng khoán) sau đó mở sổ lệnh cho từng đối tượng nhà đầu tư trong 5 phiên giao dịch liên tiếp. Nhà đầu tư có thể thay đổi lệnh đặt mua về giá, khối lượng cổ phần.
Giá bán cổ phần theo phương thức dựng sổ là một mức giá bán chung duy nhất được xác định tại mức giá mà tại đó phân phối được tối đa số lượng cổ phần dự kiến chào bán có tính đến nguyên tắc ưu tiên theo đối tượngnhà đầu tư công chúng hoặc nhà đầu tư chiến lược được doanh nghiệp công bố tại phương án bán cổ phần lần đầu theo phương án dựng sổ.
Việc xác định kết quả dựng sổ chỉ được thực hiện khi tỷ lệ khối lượng đặt mua cổ phần thực tế và số lượng nhà đầu tư đặt mua cổ phần thực tế lớn hơn hoặc bằng tỷ lệ khối lượng đặt mua cổ phần tối thiểu và số lượng nhà đầu tư đặt mua cổ phần tối thiểu theo phương án bán cổ phần. Trường hợp khối lượng cổ phần đặt mua thực tế và số lượng nhà đầu tư đặt mua thực tế không đáp ứng điều kiện dựng sổ theo phương án đã được phê duyệt, ban chỉ đạo cổ phần hóa/chủ sở hữu có trách nhiệm quyết định hủy kết quả sổ lệnh.
Tùy phương án được phê duyệt, Ban chỉ đạo cổ phần hóa/chủ sở hữu có thể xác định lại giá mở sổ và mở sổ lệnh lại hoặc thực hiện bán cổ phần theo phương thức khác. Điều này giúp việc bán cổ phần đạt được sát với số cổ phần mong muốn chào bán hơn, tránh trường hợp ngay cả khi chỉ bán được một phần rất nhỏ cũng phải thực hiện các thủ tục chuyển quyền sở hữu và đưa lên giao dịch trên sàn chứng khoán như bán đấu giá công khai thông thường hiện nay.
HNX sẵn sàng triển khai phương thức dựng sổ
Tại Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX), từ năm 2017, HNX đã nghiên cứu, tham khảo kinh nghiệm quốc tế và nâng cấp hệ thống đấu giá. Đến cuối năm 2018, HNX đã hoàn tất nâng cấp hệ thống đấu giá có bổ sung thêm tính năng dựng sổ và sẵn sàng để đưa phương thức này vào áp dụng.
Hệ thống đấu giá nâng cấp của HNX tiếp thu các kinh nghiệm quốc tế tiên tiến, được áp dụng công nghệ hiện đại và bổ sung thêm các tính năng của phương pháp dựng sổ. Hệ thống cho phép lập sổ lệnh riêng cho các nhà đầu tư. Tốc độ xử lý của hệ thống lên đến 20 - 30 nghìn lệnh/ngày, có thể nhập lệnh từ xa tại đại lý nhận lệnh (Công ty chứng khoán) với tính bảo mật cao.
Hệ thống cũng cho phép cập nhật liên tục biểu đồ thống kê số lượng cổ phần đặt mua tại mỗi mức giá trong khoảng giá khảo sát, nhờ đó nhà đầu tư có thể tham khảo thống kê này trước khi đặt lệnh tại công ty chứng khoán. Đối với dữ liệu sổ lệnh, hệ thống có thể kết xuất các báo cáo thống kê số liệu theo một số tiêu chí mà bên bán quan tâm, hỗ trợ việc xác định giá phân phối. Hệ thống cũng cho phép xác định kết quả phân phối cho từng nhà đầu tư dựa trên các tiêu chí đã được quy định tại Thông tư 21, ưu tiên lần lượt về giá, thời gian đặt lệnh và khối lượng đặt mua, đồng thời kết xuất ra các báo cáo liên quan.
“Từ nay đến thời điểm Thông tư 21 có hiệu lực, HNX sẽ tiến hành một số chỉnh sửa thông số của hệ thống cho phù hợp quy định tại Thông tư 21. HNX dự kiến sẽ tổ chức chương trình tập huấn đào tạo cho các công ty chứng khoán về cách thức vận hành hệ thống cũng như cách thức phối hợp triển khai để các bên đều có thể sẵn sàng cho việc khai trương đấu giá theo phương thức dựng sổ tại HNX” – HNX chia sẻ.
Thành lập công ty để hoạt động kinh doanh là điều không hề đơn giản. Ngoài ý tưởng kinh doanh bạn có sẵn thì thủ tục pháp lý thành lập doanh nghiệp các bạn cũng phải tìm hiểu.
Mặc dù thủ tục hành chính ngày càng được các cơ quan chức năng đơn giản hóa. Tuy nhiên nếu không am hiểu về luật hiện hành bạn sẽ gặp không ít những khó khăn trong quá trình đăng ký kinh doanh cũng nhưng việc điều hành kinh doanh của doanh nghiệp sau này. Vậy bạn cần chuẩn bị gì trước khi thành lập công ty/doanh nghiệp?
Để kinh doanh thành công bạn cần chuẩn bị 2 nhóm yếu tố cần thiết sau:
Chuẩn bị thông tin thành lập công ty/Doanh nghiệp đúng luật quy định
1. Cần lựa chọn loại hình doanh nghiệp ưng ý nhất cho mình:
Hiện nay ở Việt Nam có 5 loại hình doanh nghiệp phổ biến nhất đó là:
2. Chuẩn bị đặt tên cho công ty
3. Chuẩn bị lựa chọn đặt địa chỉ trụ sở công ty
4. Lựa chọn đăng ký ngành nghề kinh doanh phù hợp
5. Lựa chọn mức vốn điều lệ công ty phù hợp
6. Lựa chọn người đại diện pháp luật có đủ khả năng điều hành doanh nghiệp
7. Chuẩn bị một ý tưởng kinh doanh tốt, sáng tạo, có ưu thế
8. Bạn cần một kế hoạch kinh doanh rõ ràng
9. Bạn cần xác định thị trường mục tiêu ngay từ khi chuẩn bị thành lập công ty
10. Chuẩn bị ngân sách tài chính cho doanh nghiệp.
Lưu ý: Đi vay thì phát sinh thêm chi phí trả lãi. Hãy tính toán thật kỹ. Còn nếu bạn có thể vay được người thân thì quá tốt rồi.
Họ đang cho bạn vay bằng niềm tin nên bạn cần phải xây dựng uy tín từ những lúc khó khăn nhất để khi cần thì họ hỗ trợ bạn mà không có sự dè chừng.
11. Nghiên cứu đối thủ cùng ngành, biết địch - biết ta: Trăm trận trăm thắng
12. Chuẩn bị dịch vụ điện tử công nghệ cho doanh nghiệp
13. Tìm kiếm và lên danh sách khách hàng tiềm năng
14. Làm hài lòng mọi khách hàng ban đầu mà doanh nghiệp có được.
Page 9 of 10