Liên hệ ngay DNG Business để nhận dịch vụ tốt nhất: 0915.888.404
Với những nỗ lực của UBCKNN, HOSE, VSD và thành viên thị trường, tới thời điểm này, chúng tôi hoàn toàn tự tin trong việc vận hành, quản lý sản phẩm chứng quyền có bảo đảm (CW). CW được kỳ vọng sẽ mang lại “làn gió mới” cho TTCK Việt Nam, giúp NĐT thêm công cụ đầu tư để lựa chọn.
Đây là chia sẻ của ông Nguyễn Vũ Quang Trung – Phó Tổng giám đốc Phụ trách Ban điều hành Sở GDCK TP. Hồ Chí Minh (HOSE) khi trao đổi với phóng viên TBTCVN về sản phẩm CW trước giờ “G”.
* PV: Sau một thời gian dài chuẩn bị, sản phẩm CW dự kiến sẽ được HOSE triển khai chính thức vào ngày 28/6 tới. Được biết đến thời điểm này, các khâu chuẩn bị của HOSE và các thành viên thị trường cơ bản đã hoàn tất. Ông có thể chia sẻ cụ thể hơn về điều này?
- Ông Nguyễn Vũ Quang Trung: Sản phẩm CW là một trong những sản phẩm do HOSE chuẩn bị triển khai nhiều năm qua. Với sự hỗ trợ hiệu quả từ các sở giao dịch chứng khoán (GDCK) trong khu vực châu Á (Thái Lan, Đài Loan, Hàn Quốc) và các công ty chứng khoán (CTCK) nước ngoài (Yuanta, Bualang,…), chúng tôi đã đầu tư nhiều thời gian và nguồn lực để đảm bảo có thể đưa ra thị trường sản phẩm chất lượng tốt, đáng tin cậy, và vận hành ổn định. Các nhiệm vụ trọng tâm của công tác chuẩn bị có thể kể đến như cơ sở hạ tầng, hành lang pháp lý, cơ chế phối hợp với các cơ quan liên quan, và cuối cùng là phổ biến kiến thức đến các thành viên thị trường và nhà đầu tư (NĐT).
Không chỉ phối hợp với Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) và Trung tâm Lưu ký Chứng khoán Việt Nam (VSD) trong công tác chuẩn bị hệ thống giao dịch, quản lý giám sát và xây dựng hành lang pháp lý; HOSE đã hỗ trợ tư vấn và tạo cầu nối giữa các đơn vị cung cấp phần mềm quốc tế tiếp cận đến các CTCK, nhằm cải tiến hệ thống công nghệ thông tin đảm bảo nghiệp vụ phòng hộ rủi ro (hedging), quản trị rủi ro và tạo lập thị trường (market maker).
Đồng thời, nhận thức được sản phẩm CW là một sản phẩm mới có sử dụng đòn bẩy, HOSE đã thực hiện nhiều phương thức để phổ biến đến các thành viên thị trường và NĐT. HOSE đã tổ chức nhiều chương trình đào tạo, tập huấn, hội thảo lấy ý kiến thành viên thị trường; tổ chức các buổi giới thiệu, chủ động và phối hợp với các cơ quan báo chí để tuyên truyền sâu rộng về CW tới công chúng đầu tư.
Thực tế triển khai phát hành, CW đã nhận được sự quan tâm nhiệt tình của đông đảo NĐT, nhiều mã CW chỉ trong thời gian ngắn sau khi chào bán đã được NĐT đăng ký mua hết, thậm chí một số CW có số lượng đăng ký mua vượt nhiều số lượng chào bán.
* PV: Nhiều ý kiến cho rằng, sản phẩm CW sẽ góp phần hiệu quả trong việc đa dạng hóa sản phẩm trên TTCK cơ sở, đồng thời có tác dụng hỗ trợ cho thanh khoản của thị trường này. Ông kỳ vọng thế nào về hiệu quả, lợi ích của CW đem lại?
Triển khai và phát triển đa dạng các loại chứng khoán là một hoạt động tất yếu trong quá trình phát triển của TTCK, nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của NĐT và phản ánh mức độ phát triển sâu rộng của thị trường trong xu thế hội nhập quốc tế. Qua đó, CW được kỳ vọng sẽ mang lại “làn gió mới” cho TTCK Việt Nam, giúp NĐT ngày càng có nhiều công cụ đầu tư tài chính để lựa chọn - Ông Nguyễn Vũ Quang Trung
- Ông Nguyễn Vũ Quang Trung: Triển khai và phát triển đa dạng các loại chứng khoán là một hoạt động tất yếu trong quá trình phát triển của thị trường chứng khoán (TTCK), nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của NĐT và phản ánh mức độ phát triển sâu rộng của thị trường trong xu thế hội nhập quốc tế. Qua đó, CW được kỳ vọng sẽ mang lại “làn gió mới” cho TTCK Việt Nam, giúp NĐT ngày càng có nhiều công cụ đầu tư tài chính để lựa chọn.
Đối với NĐT, CW sẽ cung cấp thêm một công cụ phòng ngừa rủi ro cũng như là gia tăng lựa chọn về sản phẩm đầu tư với khoản chi phí thấp, khả năng sinh lời cao và giới hạn được mức lỗ tối đa nếu có. Chúng tôi kỳ vọng, CW sẽ nhận được sự đón nhận của NĐT trong nước và ngoài nước, từ đó giúp thị trường gia tăng về mặt thanh khoản đáng kể trong thời gian tới. Qua thông tin từ các CTCK, NĐT cũng rất quan tâm khi các công ty phát hành CW ra thị trường.
Đối với các CTCK, việc tham gia phát hành CW sẽ tạo điều kiện để mở rộng hoạt động kinh doanh, gia tăng và đa dạng hóa doanh thu. Quy định về tổ chức phát hành phải thực hiện tạo lập thị trường cho CW cũng là bước chuẩn bị hiệu quả để các CTCK có thể tích lũy kinh nghiệm để trở thành các tổ chức tạo lập thị trường trong tương lai.
Trong quá trình triển khai, HOSE nhận được sự đóng góp rất tích cực từ các CTCK hàng đầu Việt Nam. Sở đánh giá cao sự nhạy bén, năng động của các CTCK đã chủ động nghiên cứu, phối hợp, và đồng hành cùng Sở trong quá trình xây dựng và triển khai sản phẩm CW.
* PV: Thực tế cho thấy, việc tham gia của NĐT nước ngoài trên TTCK Việt Nam dù đã gia tăng tích cực nhưng rõ ràng còn khá khiêm tốn và chưa xứng với tiềm năng. Theo ông, liệu rằng khi có CW thì thị trường chúng ta sẽ có thêm cơ hội để hút vốn ngoại, khi vấn đề room ngoại vẫn cần thêm thời gian gỡ vướng?
- Ông Nguyễn Vũ Quang Trung: Tính tới 31/5/2019, trong rổ chỉ số VN30 có khoảng 6 doanh nghiệp chạm trần giới hạn tỷ lệ sở hữu nước ngoài (FOL) khiến việc tiếp cận của NĐT nước ngoài bị hạn chế. CW không hạn chế sở hữu nước ngoài, do đó sẽ có thể giúp khối ngoại nâng cao khả năng tìm kiếm cơ hội đầu tư đối với các công ty niêm yết có kết quả kinh doanh tốt nhưng đã hết room ngoại trên thị trường.
Nhìn một cách rộng hơn, điều này sẽ làm tăng sức hấp dẫn của TTCK Việt Nam trong việc thu hút dòng vốn ngoại trong thời gian tới. Trước mắt, chúng ta có cơ sở để tin vào xu thế này, bởi việc xử lý dứt điểm “nút thắt” nới room để phát triển vẫn cần thêm thời gian, trong khi TTCK Việt Nam lại còn nhiều tiềm năng để phát triển.
* PV: Theo tìm hiểu, dư luận trên thị trường rất quan tâm tới khâu giám sát khi CW vận hành. Vậy, ông có thể chia sẻ một số giải pháp trong vấn đề này để đảm bảo sản phẩm khi được vận hành sẽ được an toàn, ổn định, hiệu quả?
- Ông Nguyễn Vũ Quang Trung: Bên cạnh tính hấp dẫn, thanh khoản cao, thì tính an toàn, ổn định là mục tiêu quan trọng được Chính phủ, Bộ Tài chính, UBCKNN và HOSE đặt ra hàng đầu khi nghiên cứu bất kỳ sản phẩm mới nào nói chung và CW nói riêng. Do vậy, trong các văn bản pháp lý liên quan tới CW cũng đã được xây dựng nhằm quản lý, giám sát chặt chẽ sản phẩm từ khâu cấp phép phát hành, các nghiệp vụ, nghĩa vụ của tổ chức phát hành, đến các quy định về điều kiện tiêu chuẩn chứng khoán cơ sở. Những quy định này được kế thừa, chọn lọc từ các thị trường quốc tế và có sự tinh chỉnh cho phù hợp với thực tiễn Việt Nam.
Trong quá trình vận hành sản phẩm, sau khi CW được chấp thuận niêm yết và giao dịch trên HOSE, sở giao dịch chứng khoán có nhiệm vụ thẩm định tính hợp lệ của việc niêm yết chứng quyền, giám sát hoạt động giao dịch, quản lý hoạt động tạo lập thị trường, hoạt động phòng ngừa rủi ro (hedging) của tổ chức phát hành và quản lý việc công bố thông tin.
Đồng thời, Sở cũng giám sát việc duy trì các điều kiện niêm yết của CW, cũng như tỷ lệ lưu hành để đưa ra các biện pháp xử lý phù hợp, nhằm ổn định thị trường. Ngoài ra, định kỳ Sở sẽ thực hiện công bố danh sách các chứng khoán đáp ứng được điều kiện làm chứng khoán cơ sở và công bố giá thanh toán cho các CW đáo hạn, đảm bảo quyền lợi của NĐT.
Chưa dừng ở đó, không chỉ riêng ở HOSE, tất cả quy trình giám sát đều có sự phối hợp, gắn kết mật thiết với các đơn vị chức năng của UBCKNN và VSD. Ở đây, tôi cũng xin nhấn mạnh rằng, CW không phải là sản phẩm phi rủi ro, do đó, bên cạnh việc giám sát sẽ được thực hiện chặt chẽ, thường xuyên của các đơn vị liên quan, thì vai trò của cá nhân NĐT trong việc trang bị kiến thức, tìm hiểu sản phẩm là rất quan trọng.
* PV: Xin cảm ơn ông!
Chính phủ vừa ban hành Nghị định 54/2019/NĐ-CP quy định về kinh doanh dịch vụ karaoke, dịch vụ vũ trường.
Trong đó, nghị định quy định điều kiện kinh doanh dịch vụ karaoke gồm:
1- Là doanh nghiệp hoặc hộ kinh doanh được thành lập theo quy định của pháp luật.
2- Bảo đảm các điều kiện về phòng, chống cháy nổ và an ninh, trật tự theo quy định tại Nghị định 96/2016/NĐ-CP ngày 1/7/2016 của Chính phủ quy định điều kiện về an ninh, trật tự đối với một số ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện.
3. Phòng hát phải có diện tích sử dụng từ 20 m2 trở lên, không kể công trình phụ.
4- Không được đặt chốt cửa bên trong phòng hát hoặc đặt thiết bị báo động (trừ các thiết bị báo cháy nổ).
Điều kiện kinh doanh dịch vụ vũ trường
Ngoài quy định điều kiện kinh doanh dịch vụ karaoke, Nghị định cũng quy định cụ thể điều kiện kinh doanh dịch vụ vũ trường gồm:
3- Phòng vũ trường phải có diện tích sử dụng từ 80 m2 trở lên, không kể công trình phụ.
4- Không được đặt chốt cửa bên trong phòng vũ trường hoặc đặt thiết bị báo động (trừ các thiết bị báo cháy nổ).
5- Địa điểm kinh doanh phải cách trường học, bệnh viện, cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng, di tích lịch sử - văn hóa từ 200 m trở lên.
Doanh nghiệp, hộ kinh doanh khi kinh doanh dịch vụ karaoke, dịch vụ vũ trường chỉ được được sử dụng các bài hát phổ biến, lưu hành; chấp hành pháp luật lao động đối với người lao động theo quy định của pháp luật. Cung cấp trang phục, biển tên cho người lao động; bảo đảm đủ điều kiện cách âm và âm thanh thoát ra ngoài phòng hát hoặc phòng vũ trường phù hợp với Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về tiếng ồn; tuân thủ quy định tại Nghị định 105/2017/NĐ-CP ngày 14/9/2017 của Chính phủ về kinh doanh rượu; tuân thủ quy định của pháp luật về phòng, chống tác hại của thuốc lá; tuân thủ quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường; vệ sinh an toàn thực phẩm; bản quyền tác giả; hợp đồng lao động; an toàn lao động; bảo hiểm; phòng, chống tệ nạn xã hội và các quy định của pháp luật khác có liên quan.
Ngoài trách nhiệm quy định nêu trên, doanh nghiệp hoặc hộ kinh doanh dịch vụ karaoke có trách nhiệm bảo đảm hình ảnh phù hợp lời bài hát thể hiện trên màn hình (hoặc hình thức tương tự) và văn hóa, đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc Việt Nam; không được hoạt động từ 0 giờ sáng đến 8 giờ sáng.
Ngoài trách nhiệm nêu trên, doanh nghiệp hoặc hộ kinh doanh dịch vụ vũ trường không được hoạt động từ 2 giờ sáng đến 8 giờ sáng; không cung cấp dịch vụ vũ trường cho người chưa đủ 18 tuổi; trường hợp có chương trình biểu diễn nghệ thuật phải thực hiện theo quy định của pháp luật về biểu diễn nghệ thuật.
Nghị định có hiệu lực từ ngày 1/9/2019.
=> Tìm hiểu thêm tour du lịch Đà Nẵng đi Cần Thơ tham quan bến Ninh Kiều và chợ nổi Cái Răng thú vị của DANAGO, hãng lữ hành uy tín chuyển tổ chức cóc tour chất lượng!
Báo cáo mức độ thuận lợi đối với hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Thế giới (WB) đánh giá, chỉ số nộp thuế của Việt Nam ngày càng được cải thiện. Vậy tiêu chí để WB đánh giá chỉ số nộp thuế của Việt Nam là gì, thì không phải ai cũng biết.
>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<
Chỉ số nộp thuế là yếu tố quan trọng trong DB
Báo cáo mức độ thuận lợi đối với hoạt động kinh doanh (gọi tắt là báo cáo môi trường kinh doanh - Doing Business (DB) của WB là báo cáo kêt quả điều tra, khảo sát về các quy định dẫn tới thúc đẩy sự thuận lợi, hoặc hạn chế hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Đây là báo cáo thường niên, được WB thực hiện hàng năm, bắt đầu từ năm 2003. Trong báo cáo này, có đưa ra bảng xếp hạng tổng hợp về môi trường kinh doanh dựa trên bộ chỉ số đánh giá về các quy định liên quan tới hoạt động của doanh nghiệp, đặc biệt đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nước.
Để thực hiện xếp hạng, WB đã tập hợp thông tin về những thay đổi trong khuôn khổ pháp lý, thủ tục hành chính và những trở ngại về kỹ thuật trong việc bắt đầu ra nhập thị trường, hoặc mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp.
Báo cáo Môi trường kinh doanh lần đầu được thực hiện vào năm 2003 với tên gọi là Doing Business 2004. Trong báo cáo này, WB xem xét 5 chỉ số với 133 nền kinh tế. Đến năm 2018, Doing Business 2019 được công bố ngày 31/10/2018 đã xếp hạng 190 nền kinh tế, với 11 bộ tiêu chí, trong đó có tiêu chí chỉ số nộp thuế và bảo hiểm xã hội.
Chỉ số nộp thuế trong DB nhằm đánh giá gánh nặng tuân thủ về thuế và các khoản bảo hiểm bắt buộc mà một doanh nghiệp có quy mô nhỏ phải thực hiện, tại một quốc gia, vùng lãnh thổ.
Qua tìm hiểu được biết, WB đánh giá chỉ số nộp thuế dựa trên các giả định nghiên cứu tình huống gồm: Khảo sát trách nhiệm nộp thuế của một doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động trong một quốc gia; tại một thành phố lớn nhất; quy mô lao động khoảng 60 người, trong đó có 4 cán bộ quản lý, 8 trợ lý, 48 công nhân hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp, hoặc thương mại; doanh nghiệp không có hoạt động xuất khẩu; có doanh thu bằng 1.050 lần thu nhập bình quân đầu người.
Các tiêu chí để đánh giá chỉ số DB
Theo WB, có 4 tiêu chí để đánh giá chỉ số nộp thuế. Tiêu chí thứ nhất, đó là tổng mức thuế suất (bao gồm thuế và các khoản đóng góp bắt buộc trong năm thứ 2: thuế thu nhập doanh nghiệp - TNDN, tài sản, doanh thu và thuế khác như các khoản đóng góp, chi phí đi lại…).
Tiêu chí thứ hai, đó là thời gian nộp thuế, thời gian này được tính từ thời gian chuẩn bị, kê khai và nộp thuế của thuế giá trị gia tăng (GTGT) và thuế TNDN.
Tiêu chí thứ 3, đó là số lần nộp thuế. Tiêu chí này tổng hợp số lần nộp thuế và các khoản đóng góp: Phương pháp nộp hồ sơ và nộp thuế, tần suất nộp hồ sơ và nộp thuế, số cơ quan liên quan. Các trường hợp tính là 1 lần như: nộp hồ sơ điện tử (thực tế có thể nộp nhiều lần); gộp thuế (khi có 2 loại thuế trở lên được nộp hồ sơ và gộp vào 1 lần thì được tính là 1 lần).
Tiêu chí thứ 4, đó là chỉ số sau kê khai thuế. Chỉ số này đánh giá việc hoàn thuế GTGT và thanh tra, kiểm tra thuế TNDN. Chỉ số này được đưa vào chấm điểm từ năm 2017, được đánh giá dựa trên các yếu tố thành phần là hoàn thuế GTGT đối với trường hợp đầu vào lớn hơn đầu ra (thời gian làm hồ sơ hoàn thuế, thời gian nhận được tiền hoàn thuế) và thanh tra, kiểm tra do kê khai sai thuế TNDN (thời gian chuẩn bị hồ sơ phục vụ kiểm tra và thời gian hoàn thành việc thanh tra, kiểm tra thuế).
Căn cứ vào các tiêu chí trên và theo đánh giá của WB, Báo cáo môi trường kinh doanh của Việt Nam 3 năm trỏ lại đây, thì chỉ số nộp thuế có sự thay đổi theo hướng tích cực, tăng về thứ hạng các năm 2017, 2018. Báo cáo DB 2019 cho thấy, chỉ số nộp thuế vẫn là 1 trong 3 chỉ số (khởi sự kinh doanh, nộp thuế, thực thi hợp đồng) được ghi nhận có cải cách.
Năm 2019 là năm thứ 5 liên tiếp (DB2015 - DB2019) các cải cách về thuế được ghi nhận trong Báo cáo môi trường kinh doanh của WB.
Tuy nhiên, tại Báo cáo DB 2019 toàn cầu được WB công bố, thì mức độ thuận lợi về môi trường kinh doanh của Việt Nam lại giảm so với DB 2018. Cụ thể, thời gian nộp thuế là 351 giờ, số lần nộp thuế 9 lần (giảm 4 lần, trong đó 3 lần nộp thuế GTGT, 1 lần thuế môn bài); tổng mức thuế suất trên lợi nhuận là 13,3%; chỉ số sau kê khai là 49,08 điểm. Điểm trung bình về chỉ số nộp thuế năm 2019 của Việt Nam là 62,87 điểm.
Kết quả trên đã dẫn tới chỉ số nộp thuế của Việt Nam theo Báo cáo DB 2019 xếp thứ 131/190 quốc gia, vùng lãnh thổ, giảm 45 bậc so với DB 2018.
Theo giải thích của Tổng cục Thuế, nguyên nhân là do một số cải cách của Việt Nam trong những năm qua chưa được WB ghi nhận như: Thời gian nộp thuế (theo tính toán của Tổng cục Thuế hiện chỉ còn 117 giờ, nhưng WB đánh giá là 351 giờ); số lần nộp thuế thực tế chỉ còn 1 lần, trong đó 4 lần tạm nộp và 1 lần quyết toán (WB vẫn tính là 5 lần nộp thuế); hiện ngành Thuế cũng đã thực hiện hoàn thuế điện tử, nhưng WB vẫn chưa có ghi nhận tích cực./.
“Đó là triển vọng kinh tế rất tốt của Việt Nam trong bối cảnh hiện nay” – khẳng định điều này, TS. Ánh phân tích: Việt Nam đang bước vào một giai đoạn kinh tế mới sau giai đoạn gặp cực kỳ khó khăn từ 2008 đến 2014. Trong giai đoạn mới này, có nhiều triển vọng lạc quan đang chờ đón.
Từ khoảng năm 2017-2019, Việt Nam bước vào giai đoạn tuyệt vời đối với các nhà đầu tư khi lạm phát tương đối ổn định dưới mức 4%. Và lạm phát sẽ tiếp tục được kiểm soát ổn định dưới ngưỡng 5% tới cả năm 2020 dù có nhiều yếu tố lớn hiện nay như giá xăng dầu, giá điện và dịch tả lợn châu Phi… "Những yếu tố này cũng chưa làm lạm phát rơi vào trạng thái nóng"- TS. Vũ Đình Ánh nhấn mạnh.
Theo TS. Ánh, Bloomberg vừa dự báo, 10 năm nữa (tức đến năm 2029), GDP của Việt Nam sẽ vượt Singapore. Điều này rất đáng tự hào, bởi 20 năm trước ông không dám nghĩ Việt Nam có thể vượt được Malaysia. Nhưng nguyên Thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu đã nói cách đây hơn 20 năm, trước khi Việt Nam vào Asean, nếu có một quốc gia nào đến từ Đông Nam Á này, đó chỉ có thể là Việt Nam. Vì vậy, việc Việt Nam vượt Singapore là không khó. Nhưng vấn đề là quy mô GDP hiện tại của Việt Nam là 224 tỷ USD, còn Singapore là 324 tỷ USD, trong khi dân số Việt Nam là 95 triệu người, còn Singapore là 5,6 triệu người.
Hiện nay, Việt Nam có nhiều vấn đề đang đặt ra và nhiều người cho rằng, vấn đề nợ xấu là lo ngại lớn nhất. Tuy nhiên, theo Chuyên gia kinh tế này, vấn đề lo ngại không phải là nợ xấu, vì vừa qua đã xử lý được gần 1 triệu tỷ đồng, cơ bản đã tạm ổn. Vấn đề là từ năm 2020, Việt Nam sẽ bước vào giai đoạn “nước rút” phải trả cả lãi và gốc nợ công.
Bên cạnh các vấn đề tăng trưởng, lạm phát thì câu chuyện tăng tín dụng cũng là vấn đề đặt ra hiện nay. Năm 2018, đột nhiên tăng tổng tín dụng chỉ 14%, trong khi tăng trưởng kinh tế lại "cao ngất ngưởng". Tỷ lệ tín dụng trên GDP đã lui về ngưỡng an toàn.
“Dự báo tổng tín dụng 2019 sẽ tăng tương tự như 2018 vừa qua, khoảng 14%, không có cơ hội để tăng thêm”, đưa ra dự báo về tốc độ tăng trưởng, TS. Ánh phân tích: Lãi suất thì cầm cự theo hiện tại và không có khả năng giảm, việc tăng hay không thì tùy thuộc vào một số yếu tố nước ngoài. Gần đây, việc Fed rục rịch hạ lãi suất sẽ hỗ trợ nhiều cho sức ép về tỷ giá hối đoái và lãi suất của Việt Nam.
Liên quan đến câu chuyên tiền tệ, hiện nay có nhiều lo ngại nguy cơ cuộc chiến thương mại Trung - Mỹ sang chiến tranh tiền tệ. Nếu Trung Quốc phá giá nhân dân tệ sẽ có tác động rất lớn đến Việt Nam. Cùng với đó, Mỹ đưa Việt Nam vào danh sách xem xét thao túng tiền tệ. Hai động thái này xảy ra sẽ tác động không nhỏ đến VND…
Cục Tài chính doanh nghiệp (Bộ Tài chính) cho biết, 5 tháng đầu năm 2019 có 3 doanh nghiệp được cấp có thẩm quyền phê duyệt phương án cổ phần hóa. Lũy kế đến tháng 5/2019, đã có 34/127 doanh nghiệp cổ phần hóa thuộc danh mục phải cổ phần hóa theo công văn số 991/TTg-ĐMDN ngày 10/7/2017 của Thủ tướng Chính phủ. Số lượng doanh nghiệp phải cổ phần hóa còn lại là 93/127 doanh nghiệp, chiếm 73% kế hoạch đề ra.
>>>Xem thêm Quyết liệt cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước<<
Tuy nhiên cả 03 doanh nghiệp được cổ phần hóa nói trên đều không thuộc danh mục các doanh nghiệp cổ phần hóa theo công văn số 991/TTg-ĐMDN. Theo công văn số 991/TTg-ĐMDN thì giai đoạn 2017 - 2020 cổ phần hóa 127 doanh nghiệp, cụ thể: Năm 2017 cổ phần hóa 44 doanh nghiệp; Năm 2018 cổ phần hóa 64 doanh nghiệp; Năm 2019 cổ phần hóa 18 doanh nghiệp; Năm 2020 cổ phần hóa 01 doanh nghiệp.
Về tình hình thoái vốn, trong 5 tháng đầu năm, có 09 doanh nghiệp thuộc danh mục ban hành theo Quyết định số 1232/QĐ-TTg ngày 17/8/2017 của Thủ tướng Chính phủ thực hiện thoái vốn với giá trị 759 tỷ đồng, thu về 1.657 tỷ đồng, trong đó Bộ Xây dựng thoái vốn tại Tổng công ty Viglacera với giá trị sổ sách 690 tỷ đồng, thu về 1.587 tỷ đồng. Lũy kế từ năm 2017 đến tháng 5/2019: Thoái vốn nhà nước tại 87 đơn vị thuộc Quyết định số 1232/QĐ-TTg với giá trị 4.549 tỷ đồng, thu về 8.765 tỷ đồng.
Tình hình thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp ngoài Quyết định số 1232/QĐ-TTg, lũy kế từ năm 2017 đến tháng 5/2019: cả nước đã thoái 3.785 tỷ đồng, thu về 110.392 tỷ đồng (bao gồm khoản thoái 3.436 tỷ đồng, thu về 109.965 tỷ đồng tại Sabeco).
Về cơ chế chính sách, trong 5 tháng đầu năm, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo các bộ, ngành tiếp tục nghiên cứu, xây dựng, ban hành đầy đủ, đồng bộ hệ thống cơ chế chính sách, pháp luật về cổ phần hóa, thoái vốn, cơ cấu lại DNNN. Theo đó, Bộ Tài chính đã ban hành 4 thông tư hướng dẫn thực hiện Nghị định số 126/2017/NĐ-CP và 1 thông tư hướng dẫn thực hiện Nghị định số 32/2018/NĐ-CP. Qua đó đảm bảo công tác cổ phần hóa, thoái vốn được thực hiện đúng pháp luật, theo thị trường và công khai, minh bạch đảm bảo quyền lợi cao nhất cho Nhà nước.
TM
Sáng ngày 14/6, tại Trụ sở Bộ Tài chính đã diễn ra buổi tọa đàm giữa Bộ Tài chính với 6 Ngân hàng phát triển về việc “Thúc đẩy giải ngân vốn ODA, vay ưu đãi nước ngoài năm 2019”, ông Trương Hùng Long - Cục trưởng Cục Quản lý Nợ và Tài chính đối ngoại chủ trì buổi tọa đàm; Tham dự tọa đàm này còn Lãnh đạo Kho bạc Nhà nước, đại diện các đơn vị thuộc Bộ Tài chính. Phía 6 đối tác tham dự có bà Takahashi - Phó đại diện Văn phòng JICA tại Hà Nội, bà Virginia Bleitrach - Phó Giám đốc ngân hàng AFD tại Hà Nội, bà Simone Wunsch - Giám đốc Văn phòng ngân hàng KFW, ông Achim Fock - Phụ trách nguồn vốn của Ngân hàng Thế giới (World Bank) , ông Eri Sidgwick - Giám đốc Quốc gia phát triển Ngân hàng châu Á (ADB), bà Kim Jae Hwa – Trưởng đại diện Kexim bank.
>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<
Theo ông Trương Hùng Long: Tình hình giải ngân chậm đang là mối quan tâm của Việt Nam và các đối tác ngân hàng. Có nhiều nguyên nhân khiến cho việc giải ngân chậm trễ, có nguyên nhân đến từ chính sách, có nguyên nhân đến từ thủ tục, có nguyên nhân đến từ việc giải ngân rút vốn, có nguyên nhân đến từ việc tổ chức thực hiện dự án… Hôm nay Bộ Tài chính tổ chức buổi tọa đàm với 6 nhà tài trợ lớn với mong muốn và đánh giá tác động của các nguyên nhân để từ đó có giải pháp lâu dài cơ bản. “Nếu nguyên nhân từ Chính phủ thì chúng ta sẽ báo cáo Chính phủ, nếu nguyên nhân liên quan đến Bộ Tài chính thì chúng ta sẽ triển khai ngay, nếu nguyên nhân từ các Bộ, Ngành thì sẽ kiến nghị Chính phủ chỉ đạo các Bộ, Ngành... Chúng tôi hy vọng sau cuộc Tọa đàm này chúng ta thống nhất các nguyên nhân chính gây chậm trễ cho việc giải ngân để đưa ra các giải pháp phù hợp” ông Trương Hùng Long nhấn mạnh.
Ông Trương Hùng Long – Cục trưởng Cục Quản lý Nợ và Tài chính đối ngoại
Theo báo cáo của Cục Quản lý Nợ và Tài chính đối ngoại được ông Hoàng Hải trình bày, hiện nay kế hoạch giải ngân vốn nước ngoài năm 2019 đang được giao gồm: Dự toán nguồn vốn đầu tư phát triển hiện có 60.000 tỷ đồng do Quốc hội có thẩm quyền giao. Trong đó, nguồn vốn do Thủ tướng Chính phủ (TTCP) đã được giao là 28.637 tỷ đồng đồng, tương đương 60,4%, số tiền đã được phê duyệt trên TABMIS là 24.483 tỷ đồng, tương đương với 86% kế hoạch; phần của 6 ngân hàng phát triển được giao thẩm quyền giải ngân là 18.581 tỷ đồng. Vốn chi thường xuyên do Quốc hội duyệt là 4.667 tỷ đồng, kế hoạch cho vay lại UBND cấp tỉnh được Quốc hội phê duyệt là 17.172 tỷ đồng. Về kế hoạch cho vay lại doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp do Bộ Tài chính báo cáo TTCP, TTCP chưa phê duyệt là 26.230 tỷ đồng.
Ông Hoàng Hải – Phó Cục trưởng Cục Quản lý Nợ và Tài chính đối ngoại
Trong 5 tháng đầu năm 2019, kết quả giải ngân vốn nước ngoài đã giải ngân cho đầu tư phát triển là 608 triệu USD, trong đó 6 ngân hàng phát triển đã giải ngân là 334 triệu USD; Giải ngân cho kế hoạch chi thường xuyên là 38 triệu USD; Giải ngân cho vay lại là 359 triệu USD, giải ngân từ 6 ngân hàng phát triển là 324 triệu USD; Duy có việc giải ngân cho hỗ trợ ngân sách là 115 triệu USD đã được 6 ngân hàng phát triển giải ngân toàn bộ là 115 triệu USD.
Tại cuộc tọa đàm, các đơn vị trong Bộ Tài chính cùng 6 Ngân hàng phát triển đã bàn về các nguyên nhân gây chậm trễ tiến độ giải ngân. Trong đó, các nguyên nhân chính vẫn là việc phân bổ kế hoạch vốn trung hạn vẫn chưa được hoàn thành cho dù chỉ còn 18 tháng nữa là hết thời hạn kế hoạch trung hạn bao gồm: 12 chương trình, dự án, trong đó 10 dự án thuộc nhóm 6 ngân hàng phát triển đã được ký kết với tổng vốn vay là 1.118,37 triệu USD; Toàn bộ các dự án đường sắt đô thị phải điều chỉnh chủ trương đầu tư; Bộ Kế hoạch và Đầu tư giao kế hoạch vốn chậm, chưa kịp thời. Một số kế hoạch vốn ngoài nước giao không phù hợp với hiệp định vay, khả năng thực hiện dự án; Cơ quan Trung ương/Sở Tài chính chậm nhập và phê duyệt/kế hoạch vốn đầu tư công nguồn ngoài nước trên TABMIS; Nhiều địa phương có nợ quá hạn trên 180 ngày với ngân sách nhà nước, dù đã ký Hợp đồng cho vay lại nhưng chưa đủ căn cứ để giải ngân…
Toàn cảnh buổi tọa đàm
Về phía nhà tài trợ thì thời gian phải xử lý cho việc giải ngân rút vốn trung bình khoảng 2 tuần; Thời gian lưu chuyển thư sang nước ngoài và Nhà tài trợ KFW xử lý trong nội bộ là khoảng 20 ngày.
Theo quy định của Nghị định số 120 về chuyển nguồn cần được hướng dẫn rõ hơn, năm 2018 là năm đầu tiên áp dụng chuyển nguồn nên việc giải ngân rút vốn có nhiều vướng mắc do chưa quen cơ chế mới. Các chủ dự án chậm báo cáo tất toán các khoản tạm ứng với nhà tài trợ và chậm làm thủ tục nên đã ảnh hưởng đến việc tổng hợp số liệu báo cáo và duyệt đơn rút vốn.
>>>Xem thêm Quá muộn để dừng dùng nguồn vốn ODA?; Nâng cao chất lượng dịch vụ kiểm toán góp phần lành mạnh hóa môi trường đầu tư kinh doanh<<<
KIM CHUNG
Đại diện Ngân hàng Nhà nước khẳng định, ngân hàng không thiếu vốn đối với bất động sản nhưng chỉ cho vay với những chủ đầu tư đủ năng lực tài chính, những dự án bất động sản đủ điều kiện hồ sơ, pháp lý rõ ràng.
Sau khi Ngân hàng Nhà nước công bố Dự thảo sửa đổi Thông tư 36, Hiệp hội Bất động sản Việt Nam (VNREA) đã kiến nghị trực tiếp tới Thống đốc Ngân hàng Nhà nước tỏ quan điểm lo lắng về ảnh hưởng xấu của Thông tư tới thị trường và nền kinh tế trong trường hợp được sửa đổi theo dự thảo.
VNREA đánh giá, nếu điều chỉnh Thông tư 36 theo hướng giảm mạnh trần sử dụng vốn ngắn hạn để cho vay trung hạn, dài hạn từ 60% hiện nay xuống còn 40% và nâng cao hệ số rủi ro của các khoản phải đòi về bất động sản từ 150% lên 250%), chắc chắn sẽ có tác động tiêu cực tới thị trường bất động sản.
Hơn thế, theo hiệp hội sẽ là bước đi ảnh hưởng xấu đến các nỗ lực và các thành quả đã được Chính phủ, trong đó có công sức của Ngân hàng Nhà nước, Bộ Xây dựng và cộng đồng doanh nghiệp bất động sản tạo dựng trong tiến trình phục hồi thị trường bất động sản.
Dẫn số liệu tốc độ tăng trưởng tín dụng bất động sản đã giảm từ năm 2017, hiệp hội này cho hay: "Tốc độ tăng trưởng tín dụng bất động sản đã giảm từ năm 2017. Số liệu cho thấy, năm 2016, tín dụng chung tăng 12% thì bất động sản gấp rưỡi 18% nhưng sang tới năm 2017, con số này ngược lại, tín dụng chung tăng 18% nhưng bất động sản chỉ được 12%. Năm 2018, tín dụng chung 12%, bất động sản còn có 5% và tới quý IV/2018 thậm chí tín dụng bất động sản còn giảm 0,8%. Dòng vốn vào thị trường bất động sản với chiều hướng như vậy sẽ rất khó khăn".
Trước những kiến nghị này, ông Nguyễn Quốc Hùng, Vụ trưởng Vụ tín dụng các ngành kinh tế Ngân hàng Nhà nước cho biết, bất động sản là lĩnh vực tiềm ẩn nhiều rủi ro nhưng không có nghĩa ngân hàng hạn chế cho vay đối với lĩnh vực này.
Việc hạn chế rủi ro của ngân hàng được kiểm soát bằng cách lựa chọn dự án hiệu quả, chọn chủ đầu tư đủ năng lực mới xem xét giải ngân vốn.
Theo ông Hùng, hoạt động cho vay bất động sản hiện nay chia làm hai loại, một là cho vay trực tiếp với các chủ đầu tư để kinh doanh bất động sản, hai là cho vay thông qua tiêu dùng, phục vụ người dân mua, sửa nhà.
Nếu tính ở cả hai loại hình này, đến cuối năm 2018, dư nợ tín dụng liên quan tới hoạt động bất động sản đã tăng tới 31,7%.
Trong đó, dư nợ đối với kinh doanh bất động sản được hạn chế, nhưng cho vay phục vụ người dân mua, sửa nhà vẫn được đẩy mạnh.
Điều này cũng đồng nghĩa với việc thúc đẩy nguồn tiêu thụ cho các dự án bất động sản hiện nay. Thậm chí, các ngân hàng sẵn sàng bảo lãnh nhà hình thành trong tương lai để phục vụ nhu cầu thực tế của người dân.
Về thay đổi tỷ lệ an toàn vốn trong Dự thảo sửa đổi Thông tư 36, trong đó có việc kiểm soát dòng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn, ông Hùng cho biết đây là định hướng của Chính phủ và phù hợp với kế hoạch của Ngân hàng Nhà nước.
Ngoài ra, quy định này áp dụng cho toàn bộ lĩnh vực chứ không riêng bất động sản. Theo đại diện Ngân hàng Nhà nước, quy định nhằm hướng dòng tín dụng vào hình thức cho người dân vay tiêu dùng của lĩnh vực bất động sản. Điều kiện tín dụng vào phân khúc 1-3 tỷ đồng/căn hộ nhằm tạo điều kiện để chủ đầu tư xây dựng nhà ở xã hội, nhà ở thương mại giá rẻ. Đây là loại sản phẩm trên thị trường đang thiếu và góp phần thúc đẩy chủ đầu tư cung cấp mặt hàng này. Ngoài ra còn tạo điều kiện để người dân có thể vay tiền ngân hàng mua căn hộ phục vụ cuộc sống.
Ông Hùng cho hay, lĩnh vực bất động sản đang mất cân đối khi các chủ đầu tư đều xây dựng nhà ở thương mại cao cấp, khu du lịch, nghỉ dưỡng nhưng thiếu nguồn cung với nhà thương mại giá rẻ và nhà ở xã hội cho người lao động.
Ngoài ra, hiện nay ở một số tỉnh, thành phố lớn, đặc biệt là TP.HCM và các tỉnh ven biển việc điều chỉnh quy hoạch đất đai, hoàn thiện hồ sơ xây dựng không đáp ứng được yêu cầu của ngân hàng.
"Khi không đáp ứng được yêu cầu thì ngân hàng không thể cho vay. Trong khi đó, với các dự án đã đầy đủ thủ tục, ngân hàng vẫn tiếp tục cho vay với cả chủ đầu tư và khách hàng mua. Với dự án có đất sạch, chủ đầu tư đủ năng lực và khả năng sinh lời, ngân hàng sẽ giải ngân vốn. Do quỹ đất sạch bị ảnh hưởng do chưa có quy hoạch rõ ràng nên ngân hàng chưa thể giải ngân vốn", ông Hùng nhấn mạnh.
Thế nên việc sửa đổi Thông tư 36, ông Hùng cho biết nhằm đảm bảo an toàn hệ thống và đưa về tỷ lệ 30%. Tỷ lệ sử dụng vốn này áp dụng với tất cả lĩnh vực của nền kinh tế.
Ông Nguyễn Quốc Hùng - Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế - Ngân hàng Nhà nước chia sẻ về tăng trưởng tín dụng.
>>>Xem thêm Quá lệ thuộc vào nguồn vốn ngân hàng, doanh nghiệp dễ gặp rủi ro; Kinh nghiệm làm BCTC dự thầu và BCTC vay vốn ngân hàng <<<
Danh sách các mã cổ phiếu tăng và giảm mạnh nhất những phiên gần đây theo số liệu thống kê của Vietstock.
2 Phiên
3 Phiên
4 phiên
5 phiên
Giao dịch nhiều
Năm 2019 các doanh nghiệp niêm yết (DNNY) tuân thủ đúng và đầy đủ về nghĩa vụ công bố thông tin trên thị trường chứng khoán Việt Nam có sự sụt giảm về số lượng. Điều này cho thấy việc đáp ứng nghĩa vụ công bố thông tin theo quy định không hề dễ dàng.
>>>Xem thêm Bốn kênh tích lũy tài sản cho doanh nghiệp, tổ chức; Gần 50 doanh nghiệp chốt quyền trả cổ tức<<
Công bố thông tin (CBTT) là nghĩa vụ bắt buộc đối với tất cả các doanh nghiệp niêm yết (DNNY) trên hai sàn chứng khoán Việt Nam. Đây không chỉ là nghĩa vụ mà còn là trách nhiệm của các doanh nghiệp niêm yết với cộng đồng nhà đầu tư nói chung và các cổ đông nói riêng.
Năm 2019, Vietstock kết hợp với Tài chính và Cuộc sống điện tử (FiLi.vn) thực hiện cuộc khảo sát toàn diện về mức độ tuân thủ đúng và đầy đủ về nghĩa vụ công bố thông tin trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Kỳ khảo sát năm nay tương ứng với giai đoạn 01/05/2018-30/04/2019, các chuẩn mực của cuộc khảo sát được áp dụng theo quy định trong Thông tư 155/2015/TT-BTC của Bộ Tài chính về công bố thông tin trên thị trường chứng khoán.
Chương trình khảo sát căn cứ vào thời điểm cộng đồng đầu tư tiếp nhận công bố thông tin. Cụ thể, căn cứ cuối cùng được dựa trên thời điểm thông tin xuất hiện trên website của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, các Sở Giao dịch Chứng khoán và website doanh nghiệp.
Số lượng doanh nghiệp đạt chuẩn công bố thông tin sụt giảm
Kết quả cuộc khảo sát cho thấy, số lượng doanh nghiệp tuân thủ đúng và đầy đủ về nghĩa vụ CBTT trên cả hai sàn chứng khoán (HOSE và HNX) là 259 doanh nghiệp trong tổng số 713 DNNY thuộc danh sách khảo sát, tương ứng với tỷ lệ 36.33%.
Qua đồ thị trên có thể thấy, tổng số DNNY được khảo sát năm 2019 tăng 27 doanh nghiệp so với năm 2018. Tuy nhiên, số lượng DNNY đạt chuẩn CBTT lại giảm 7 doanh nghiệp, tương ứng với tỷ lệ giảm 2.45%.
Cần nhớ rằng sự thay đổi trong quy định CBTT của Thông tư 155/2015/TT-BTC (có hiệu lực kể từ năm 2016) so với Thông tư 52/2012/TT-BTC đã tạo ra nhiều khó khăn cho khả năng đáp ứng đầy đủ nghĩa vụ của các DNNY, kéo theo số lượng và tỷ lệ các doanh nghiệp đạt chuẩn CBTT năm 2017 sụt giảm với chỉ 114 DNNY.
Tất cả các phân tích trên cho thấy việc đáp ứng nghĩa vụ CBTT theo quy định không hề dễ dàng. Tuy nhiên, điều này sẽ giúp gia tăng chất lượng IR của các DNNY lên một tầm cao mới và qua đó góp phần nâng cao giá trị đầu tư cho cổ đông.
DANH SÁCH 259 DNNY ĐẠT CHUẨN CÔNG BỐ THÔNG TIN 2019
Đơn vị khảo sát
Vietstock là đơn vị tiên phong trong nhiều khía cạnh của lĩnh vực tài chính tại Việt Nam, từ tư vấn quan hệ nhà đầu tư (Investor Relations - IR); cung cấp thông tin, dữ liệu số hóa và diễn đàn tài chính - chứng khoán; phát triển các công cụ chuyên sâu về đầu tư trên nền web và ứng dụng phần mềm; phân tích và đào tạo phân tích kỹ thuật trong đầu tư; đến xuất bản các ấn phẩm như Phân tích Kỹ thuật từ A đến Z, Vai trò của Quan hệ Nhà đầu tư (IR) trong việc Tối đa hóa Giá trị Doanh nghiệp, Niên giám Doanh nghiệp Niêm yết.
Tài chính và Cuộc sống điện tử (FiLi.vn) là cơ quan ngôn luận của Hiệp hội Các nhà Quản trị Tài chính Việt Nam (VAFE) là tổ chức xã hội - nghề nghiệp của các tổ chức, công dân Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực tài chính và quản trị tài chính. Hiệp hội góp phần thúc đẩy, hỗ trợ việc xây dựng và phát triển lĩnh vực quản trị tài chính, ứng dụng các quy tắc quản trị vào những quyết định tài chính nhằm đưa đến các quyết định sử dụng và phân bổ nguồn lực tài chính một cách hiệu quả nhất từ phạm vi quản trị tài chính công, quản trị tài chính cho tổ chức hay doanh nghiệp, đến quản trị tài chính cho gia đình và mỗi cá nhân.
Vietstock-Fili
Trong hai ngày (8-9/6/2019), tại Fukuoka, Nhật Bản, Hội nghị Bộ trưởng Tài chính và Thống đốc Ngân hàng Trung ương G20 đã diễn ra dưới sự chủ trì của Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Tài chính Nhật Bản Ông Taro Aso và Thống đốc Ngân hàng Trung ương Nhật Bản Ông Haruhiko Kuroda.
Tham dự Hội nghị có Bộ trưởng Tài chính, Thống đốc Ngân hàng Trung ương các nước thành viên G20, Lãnh đạo các tổ chức quốc tế, Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Xuân Hà cùng đại diện của Ngân hàng Nhà nước và Bộ Ngoại giao Việt Nam tham dự Hội nghị này.
Đây là Hội nghị quan trọng nhất trong tiến trình hợp tác tài chính G20 năm 2019, các Bộ trưởng Tài chính và Thống đốc Ngân hàng Trung ương các nước thành viên G20, các tổ chức quốc tế và các nước khách mời đã có cơ hội trao đổi và chia sẻ quan điểm về tình hình kinh tế toàn cầu, các rủi ro và thách thức đối với nền kinh tế, một số hành động và giải pháp hướng đến tăng trưởng mạnh mẽ, bền vững và bao trùm.
Các chủ đề chính được thảo luận tại Hội nghị bao gồm chủ đề về kinh tế toàn cầu, tài chính phát triển, thuế quốc tế, đầu tư cho cơ sở hạ tầng chất lượng, già hóa dân số và tài chính cho y tế toàn dân, tăng cường vai trò của Cơ quan Bảo lãnh Đầu tư Đa biên (MIGA) nhằm giảm thiểu rủi ro tài chính cho đầu tư phát triển, tài chính cho phục hồi sau thiên tai, thảm họa và một số vấn đề tài chính khác như quản lý thị trường chứng khoán, quản lý tài sản, hệ thống thanh toán ngân hàng, đổi mới sáng tạo công nghệ trong lĩnh vực tài chính…
Về kinh tế thế giới, tại Hội nghị, các Bộ trưởng Tài chính, Thống đốc Ngân hàng Trung ương và các tổ chức quốc tế nhận định kinh tế thế giới tiếp tục ổn định và dự báo tăng trưởng ở mức vừa phải vào nửa cuối năm nay và trong năm 2020. Theo dự báo của IMF, nền kinh tế toàn cầu sẽ tăng trưởng ở mức trung bình từ 3,3% đến 3,6% trong năm 2020. Tuy nhiên, rủi ro nổi bật vẫn là vấn đề căng thẳng thương mại và địa chính trị.
Phát biểu tại Hội nghị, Thứ trưởng Trần Xuân Hà cám ơn Nhật Bản - Chủ tịch tiến trình hợp tác tài chính G20 năm 2019 đã mời Việt Nam tham dự Hội nghị quan trọng này. Về vấn đề tài chính cho phát triển, Thứ trưởng Trần Xuân Hà đánh giá cao chủ đề này, trong đó có vấn đề bền vững và minh bạch nợ. Các nước thu nhập thấp (bao gồm cả các nước thu nhập trung bình như Việt Nam) có nhu cầu đầu tư cao nhưng do nguồn thu ngân sách hạn chế nên nhu cầu vay nợ lớn.
Do đó, cần thực hiện các giải pháp chú trọng tái cơ cấu ngân sách, tăng thu nội địa, duy trì bội chi ngân sách ở mức hợp lý, quản lý nợ công chặt chẽ, thiết lập hệ thống công cụ quản lý nợ, minh bạch thông tin, và quản lý nợ bền vững. Đối với các nước đã tốt nghiệp IDA thì chuyển sang sử dụng nguồn vốn ưu đãi thấp hơn hoặc huy động vốn trên thị trường tài chính, vì vậy cần sử dụng vốn hiệu quả và quản lý nợ chặt chẽ hơn.
Tại phiên thảo luận, Thứ trưởng Trần Xuân Hà hoan nghênh và đánh giá cao kết quả đã đạt được trong việc thực hiện BEPS nhằm xây dựng hệ thống thuế quốc tế hiện đại, công bằng, minh bạch để đáp ứng yêu cầu toàn cầu hóa và xu thế số hóa nền kinh tế, đồng thời cũng chia sẻ thông tin tới Hội nghị về tình hình triển khai của Việt Nam.
Theo đó, Việt Nam bắt đầu tham gia Diễn đàn BEPS từ tháng 6 năm 2017, từ đó đến nay Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu của BEPS. Việt Nam hiện đang hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về quản lý thuế, trong đó có vấn đề chia sẻ thông tin, chống chuyển giá, quản lý thuế trong điều kiện nền kinh tế số … nhằm đáp ứng chuẩn mực quốc tế.
Tại Hội nghị lần này, các Bộ trưởng Tài chính cũng thảo luận tầm quan trọng của bao phủ y tế toàn dân, đặc biệt là ở các nước đang phát triển, trong đó có vai trò quan trọng của tài chính cho y tế. Các Bộ trưởng Tài chính thống nhất sẽ tổ chức phiên họp chung với các Bộ trưởng Y tế bên lề Hội nghị Thượng đỉnh G20 tại Osaka, Nhật Bản vào cuối tháng 6 tới.
Hội nghị Bộ trưởng Tài chính và Thống đốc Ngân hàng Trung ương G20 năm 2020 sẽ được tổ chức tại Ả-rập Xê-út./.
MHTQT
Một trong những nội dung đang được DN và cử tri quan tâm đó là Dự thảo Luật Quản lý thuế sửa đổi đề xuất bổ sung vào phạm vi hoạt động của đại lý thuế dịch vụ kế toán cho DN nhỏ và siêu nhỏ. Quan điểm của các chuyên gia trong ngành đều cho rằng, đề xuất này là phù hợp với yêu cầu thực tiễn, giúp tiết kiệm chi phí và tạo thuận lợi cho DN nhỏ, siêu nhỏ.
>>>Xem thêm Thành lập Công ty tại Hội An<<<
Theo Phó vụ trưởng Vụ Tuyên truyền hỗ trợ Tổng cục Thuế Lê Thị Thủy, dự thảo Luật Quản lý thuế sửa đổi quy định đại lý thuế được làm dịch vụ kế toán cho DN siêu nhỏ trước hết xuất phát từ đặc thù các DN siêu nhỏ thường có doanh thu dưới 10 tỷ đồng đối với kinh doanh thương mại và dưới 3 tỷ đồng/năm với các ngành nghề khác. Bên cạnh đó, DN siêu nhỏ có số lượng lao động dưới 10 người, nên rất khó để tổ chức riêng một bộ máy kế toán mà cách tốt nhất là thuê các DN chuyên làm thủ tục về thuế và kế toán. Tuy nhiên, Luật Quản lý thuế hiện hành lại quy định các đại lý thuế chỉ được cung cấp dịch vụ về thuế, không được cung cấp các dịch về kế toán. Do đó, DN siêu nhỏ có nhu cầu sẽ phải thuê 2 đơn vị cung cấp dịch vụ về thuế riêng và kế toán riêng. Việc này sẽ khiến DN siêu nhỏ gặp nhiều khó khăn do chi phí tăng cao, tốn nhiều thời gian công sức và đôi khi việc xử lý số liệu cũng không đồng nhất. Trên thực tế, hoạt động của đại lý thuế gắn bó chặt chẽ với các quy định về kế toán. DN đại lý thuế muốn làm thủ tục kê khai thuế không thể không biết các quy định về kế toán, trong khi quy định về chế độ kế toán đối với DN siêu nhỏ hiện nay rất đơn giản và các đại lý thuế hoàn toàn có đủ khả năng cung cấp các dịch vụ này. Vì thế việc bổ sung dịch vụ kế toán vào phạm vi hoạt động của đại lý thuế là phù hợp và cần thiết.
Chủ tịch Hội tư vấn thuế Việt Nam Nguyễn Thị Cúc nêu thực trạng, hiện cả nước có trên 700 nghìn DN thì có đến trên 500.000 DN siêu nhỏ. Theo kế hoạch đến năm 2020 sẽ có thêm khoảng 500.000 DN siêu nhỏ nữa phát triển từ hộ kinh doanh đi lên. Tuy nhiên, toàn quốc hiện chỉ có trên 100 DN đủ điều kiện cung cấp dịch vụ kế toán và đang phục vụ cho trên 5.000 khách hàng. Nếu so với trên 500.000 DN siêu nhỏ đang hoạt động, thì số DN cung cấp dịch vụ về kế toán còn rất khiêm tốn và chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế. Việc không có đủ các DN cung cấp dịch vụ kế toán tiềm ẩn nhiều rủi ro cho cả cơ quan thuế và người nộp thuế. Bởi do tiềm lực tài chính hạn chế nên nhiều DN siêu nhỏ đang phải sử dụng đội ngũ kế toán chui, không am hiểu pháp luật, dẫn đến lập sai chứng từ, sổ sách kế toán. Hậu quả là DN không những không tiết kiệm được chi phí, mà còn phải chịu thêm tiền phạt chậm nộp, thậm chí bị xử phạt từ 1-3 lần tiền thuế do vi phạm các quy định về kế toán.
Đối với cơ quan thuế, hiện nay số lượng cán bộ rất có hạn và đang thực hiện tinh giản biên chế, trong khi phải quản lý trên 700.000 DN. Nếu không có giải pháp hỗ trợ DN tuân thủ pháp luật tốt, ngành thuế sẽ không có đủ nguồn lực để phục vụ công tác kiểm tra, giám sát DN và rủi ro thất thu thuế sẽ ngày càng lớn.
Đồng quan điểm, Giám đốc Công ty kiểm toán HSK Việt Nam Ngô Trung Dũng cho rằng, nếu các đại lý thuế chỉ được làm các thủ tục về khai thuế theo Điều 20 của Luật Quản lý thuế hiện hành, sẽ khiến DN không được tiếp cận dịch vụ một cách đầy đủ, đẩy chi phí của các DN siêu nhỏ lên cao. Việc này cũng gây lãng phí rất lớn nguồn nhân lực tại các đơn vị cung cấp dịch vụ thuế và các đại lý không thể phát triển được. Theo hướng này, nếu Luật Quản lý thuế sửa đổi được thông qua, sẽ đem lại nhiều lợi ích cho cả đại lý thuế và người nộp thuế. Bởi quy định này phù hợp với thực tiễn của Việt Nam hiện nay và xu hướng hội nhập quốc tế (các nước như Nhật Bản, Hàn Quốc các đại lý thuế đều được cung cấp các dịch vụ về kế toán). Quan trọng là quy định bổ sung về phạm vị hoạt động của đại lý thuế sẽ tạo điều kiện để các DN, người nộp thuế được tiếp cận các dịch vụ trọn gói kê khai thuế kế toán, qua đó tiết kiệm được chi phí; trong khi cơ quan thuế quản lý rủi ro thông qua các đại lý thuế, sẽ góp phần tăng tính minh bạch và tính tuân thủ pháp luật của các DN nhỏ và vừa tại Việt Nam.
>>>Xem thêm Thu thuế từ khối doanh nghiệp FDI có mức tăng trưởng mạnh; Quản lý thuế thương mại điện tử: Hoàn thiện chính sách để chống thất thu<<<
TRUNG KIÊN
Phát biểu tại Quốc hội (QH), nhiều đại biểu Quốc hội (ĐBQH) không đồng tình việc giảm số lượng phó chủ tịch hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp huyện và phó trưởng ban chuyên trách của HĐND cấp tỉnh.
Sáng 10/6, Quốc hội thảo luận ở hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức chính phủ (Luật TCCP) và Luật Tổ chức chính quyền địa phương (Luật Tổ chức CQĐP).
Sửa luật phải sát thực tiễn, tránh chủ quan duy ý chí
Thảo luận về dự án 2 luật này, các ĐBQH tán thành đề nghị của Chính phủ, việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật TCCP và Luật Tổ chức CQĐP và dùng một luật để sửa hai luật là phù hợp. Dự án luật đã tập trung vào sửa đổi, bổ sung các vấn đề về: tinh gọn bộ máy, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền và rà soát lại chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của một số cơ quan hành chính nhà nước.
ĐB Nguyễn Tạo (Lâm Đồng) cho rằng, cần thiết phải sửa luật bởi qua thực hiện đã phát sinh nhiều khó khăn, vướng mắc. Tuy nhiên, ĐB cho rằng, Luật TCCP cần xem xét các quy định để đảm bảo mục tiêu Chính phủ kiến tạo và phát triển.
Đồng ý với một số nội dung trong dự thảo, tuy nhiên ĐB Nguyễn Thị Quyết Tâm - cựu Chủ tịch HĐND TP. HCM cho rằng, việc sửa luật phải đánh giá một cách toàn diện, khách quan, sát với thực tiễn, yêu cầu đề ra, tránh chủ quan, duy ý chí.
ĐB Nguyễn Mạnh Cường (Quảng Bình) - Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp của QH cho rằng, Luật TCCP sửa đổi không nhiều, chỉ sửa 5 điều, các nội dung sửa đổi tập trung vào việc bổ sung một số thẩm quyền của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ. “Tuy sửa không nhiều nhưng các nội dung lại tập trung theo hướng chủ yếu giao Chính phủ quy định với tổng cộng 4 nội dung lớn, trong đó có 20 nội dung nhỏ liệt kê, như quy định khung số lượng cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, quy định tiêu chí thành lập tổng cục, cục, vụ; số lượng biên chế tối thiểu…” - ĐB Nguyễn Mạnh Cường nói.
ĐB đặt câu hỏi: Quy định như vậy có bất cập, cần phải làm rõ những nội dung được giao cho Chính phủ quy định có phải là nhiệm vụ, quyền hạn thuộc thẩm quyền quy định đương nhiên của Chính phủ theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật hay không, hay đây thuộc thẩm quyền do QH ủy quyền cho Chính phủ quy định?
ĐB Nguyễn Mạnh Cường cho rằng, có nội dung trước đây đã được QH quy định thì nay được bãi bỏ để giao Chính phủ quy định. Cụ thể, đó là quy định số lượng cấp phó cấp vụ không được quá 3 người, tổng cục không quá 4 người. “Như vậy số lượng cấp phó này không được khống chế cho đến khi có nghị định của Chính phủ và không rõ số lượng này có được tăng lên hay giảm đi, trong khi đó, đây là nội dung QH khóa XIII đã thảo luận kỹ, nhằm khắc phục tình trạng quá nhiều cấp phó ở các cơ quan trung ương. Việc bỏ quy định này, cũng chưa được tổng kết, đánh giá trên thực tiễn” - ĐB Nguyễn Mạnh Cường phân tích thêm.
Do đó, theo ĐB, việc xây dựng luật khung là một bước lùi của dự thảo. ĐB cũng trích dẫn lời của cử tri cho rằng, luật được ban hành nhưng Chính phủ không ban hành nghị định thì “luật sẽ chết ngay”. Theo ĐB: “Có lẽ quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật rằng, các văn bản pháp luật phải được quy định cụ thể để khi văn bản có hiệu lực thi hành được ngay, vẫn còn là một ước mơ lâu dài” - ĐB Nguyễn Mạnh Cường nói.
Ngoài ra, dự thảo luật cũng đã bổ sung khoản 10 quy định thẩm quyền của Chính phủ quyết định thực hiện thí điểm những mô hình mới về tổ chức bộ máy của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, chính quyền địa phương cấp tỉnh, cấp huyện trong phạm vi quyền hạn của Chính phủ khi pháp luật chưa quy định hoặc quy định không còn phù hợp. Theo ĐB Nguyễn Mạnh Cường, việc thực hiện thí điểm các mô hình mới, là rất cần thiết, các nghị quyết của Đảng cũng đề ra yêu cầu đó. Tuy nhiên, cần xem xét, cân nhắc các thẩm quyền quyết định việc thí điểm và nội hàm của thí điểm.
Liên quan đến vấn đề này, ĐB Nguyễn Tạo (Lâm Đồng) cho rằng, thí điểm mô hình mới là hoàn toàn phù hợp với tình hình hiện nay, một số địa phương đã thực hiện sáp nhập một số đơn vị trên địa bàn thành mô hình hoạt động mới, tuy nhiên, cần phải đảm bảo vận thành theo đúng quy định của pháp luật.
“Đừng đánh mất vai trò của cơ quan dân cử”
Về giảm số lượng phó chủ tịch HĐND cấp tỉnh, cấp huyện và giảm số lượng phó trưởng ban chuyên trách của HĐND cấp tỉnh tại dự thảo sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức CQĐP, ĐB Nguyễn Tạo đồng tình với báo cáo thẩm tra của dự thảo luật. Theo tờ trình của Chính phủ, Chính phủ đề nghị giảm số lượng phó chủ tịch HĐND cấp tỉnh, cấp huyện; phó trưởng ban chuyên trách của HĐND cấp tỉnh từ 2 người xuống còn 1 người. Tuy nhiên, trong báo cáo thẩm tra của Ủy ban Pháp luật của QH, việc giữ nguyên số lượng phó trưởng ban chuyên trách của HĐND cấp tỉnh là nhằm bảo đảm thực hiện tốt các nhiệm vụ, quyền hạn của các ban của HĐND cấp tỉnh.
ĐB Nguyễn Mạnh Cường đặt câu hỏi, liệu đây có phải là vấn đề bức xúc nhất trong những hạn chế về tổ chức bộ máy của chúng ta hay chưa và liệu nó có tác dụng hay không? Còn ĐB Nguyễn Tạo đề nghị Chính phủ xem xét “có hay không giảm số lượng một cách toàn diện, khoa học, không nên làm luật theo cảm tính”.
Cũng quan tâm về vấn đề này, ĐB Nguyễn Thị Quyết Tâm cho rằng, hai nội dung quan trọng trong lần sửa đổi này của Luật Tổ chức CQĐP là cơ chế ủy quyền và vấn đề tổ chức bộ máy. Khi đặt ra vấn đề này, cần xem năng lực, bộ máy ở địa phương có thể làm gì; phân định, phân công ra để làm tốt công việc, chứ không phải “tranh giành” lẫn nhau, cơ quan này làm việc này, cơ quan kia làm việc kia.
Liên quan đến số lượng đại biểu HĐND, cựu Phó Chủ tịch HĐND TP. Hồ Chí Minh đồng ý trong chừng mực nào đó cần phải xem xét giảm số lượng ĐB cho hợp lý. Tuy nhiên, bà Nguyễn Thị Quyết Tâm nhấn mạnh, không nên chỉ nhìn vào việc, giảm một ĐB thì giảm bao nhiêu kinh phí.
Theo nữ ĐB, điều quan trọng là phải xem các ĐB này có làm đúng vai trò của người đại diện cho dân hay không và cần xem xét trên tinh thần khách quan, đừng vì yếu tố nào đó mà chúng ta đánh mất đi vai trò, vị trí của cơ quan dân cử.
Đồng quan điểm, ĐB Tô Văn Tám (Kon Tum) cho rằng, đi kèm với tinh giản biên chế, nhưng phải gắn với nâng cao chất lượng hoạt động. “Giảm số lượng có làm giảm chất lượng hoạt động của bộ máy không? Phải đánh giá cho được hiệu quả hoạt động thế nào, giảm có hiệu quả khi giảm số lượng không” - ĐB nêu.
Theo ĐB Lê Thanh Vân (Cà Mau), việc xem xét số lượng các chức danh nêu trên phải xem xét cho phù hợp với Hiến pháp hiện hành. Theo ĐB, vấn đề số lượng ĐB, số lượng các ban và phó chủ tịch HĐND sẽ tùy theo yêu cầu của từng thời kỳ, vì thế không nên quy định cứng nhắc trong luật, để sau này phải sửa luật./.
MINH ANH
Cả chỉ số cơ sở và thị trường phái sinh đều tăng điểm tích cực trong phiên cuối tuần. Khối lượng giao dịch mặc dù giảm, nhưng quán tính tăng tốt không thể phủ nhận sự tích cực trở lại của phía cầu và điều này hàm ý xu hướng hồi phục ngắn hạn có thể tiếp diễn trong tuần giao dịch kế tiếp.
Sau chuỗi các phiên vận động giằng co, thị trường khởi sắc trong phiên giao dịch cuối tuần. Các chỉ số sàn HOSE tăng điểm ngay từ thời điểm mở cửa, trước khi nới rộng đà tăng trong phiên chiều và đóng cửa tại mức cao nhất trong ngày. VN-Index và VN30-Index tăng lần lượt 1,06% và 0,96%, lên ngưỡng 958,28 điểm và 869,56 điểm.
Vận động tương tự diễn ra trên sàn Hà Nội, đáng chú ý, HNX30-Index tăng thêm 2,19% lên mức 191,19 điểm.
Sắc xanh chiếm ưu thế đối với hầu hết các nhóm ngành vốn hóa lớn, bao gồm tài chính, bất động sản. Lĩnh vực dầu khí thu hút dòng tiền khi giá dầu brent hồi phục 1,7% trong phiên gần nhất. GAS, PVD, PVS, BSR tăng từ 2,4% đến 4,1%, vận động tăng điểm lan tỏa sang cổ phiếu xăng dầu, giúp PLX, OIL đều đóng cửa trên mức tham chiếu.
Các lĩnh vực được dự báo hưởng lợi từ xu hướng dịch chuyển sản xuất về Việt Nam, bao gồm khu công nghiệp, dệt may, thủy sản đều đồng thuận tăng điểm. Nhóm cao su nhân tạo điều chỉnh trở lại sau những phiên tăng gần đây, tuy nhiên mức giảm điểm không đáng kể.
Thanh khoản trên sàn HOSE đạt 3,3 nghìn tỷ đồng, tăng nhẹ 4,76% so với phiên liền trước. Khối ngoại giảm quy mô giao dịch, tuy nhiên giá trị bán giảm 24,4% so với mức giảm 16,1% của giá trị mua, qua đó ghi nhận giá trị mua ròng 15,2 tỷ đồng.
Trên thị trường phái sinh, các hợp đồng tương lai (HĐTL) cũng có diễn biến tương tự thị trường cơ sở. Các HĐ đều tăng mạnh tương đương với mức tăng của chỉ số cơ sở, cụ thể: HĐ F1906 tăng thêm 8,3 điểm, qua đó ghi nhận độ lệch 5,6 điểm so với VN30; F1907 tăng 8,1 điểm; F1909 tăng 8,9 điểm; F1912 tăng 9,9 điểm.
Tuy vậy, thanh khoản phái sinh sụt giảm mạnh 36,5%, khi tổng khối lượng giao dịch HĐTL về mức 87.541 HĐ khi chỉ số cơ sở tăng mạnh. Vì vậy, tổng giá trị giao dịch cũng giảm khá mạnh từ mức 11.867 tỷ đồng của phiên hôm trước về còn 7.619 tỷ đồng trong phiên cuối tuần. Hợp đồng mở giảm nhẹ hơn, đạt mức 28.687 HĐ.
Chỉ số VN30 có một phiên tăng điểm trọn vẹn và tăng khá mạnh 8,25 điểm lên 869,56 điểm. Khối lượng giao dịch nhóm VN30 ở mức gần 33,5 triệu đơn vị, giảm gần 5 triệu đơn vị so với phiên trước, đồng thời cũng giảm so với khối lượng giao dịch bình quân 20 phiên gần 4 triệu đơn vị.
Báo cáo phái sinh của SSI Retail Research cho thấy, trong biểu đồ kỹ thuật, nến ngày là một nến dài màu trắng (long white candle) hậu thuẫn cho nến búa tăng (bullish hammer) tích cực của phiên trước đó, đồng thời vượt đường trung bình động 5 ngày (MA-5).
Chỉ báo dòng tiền (MFI) giảm về dưới 20,6 điểm, trong khi đó, chỉ báo sức mạnh (RSI) tăng khá mạnh lên 40,2 điểm. Đường trung bình động (MACD) mặc dù vẫn vận động sâu dưới đường tín hiệu và đường số 0 (zero line), tuy vậy đà giảm của chỉ báo này đang chậm lại và cho tín hiệu hồi phục trở lại.
SSI Retail Research cho rằng, khối lượng giao dịch mặc dù giảm so với phiên trước, nhưng quán tính tăng tốt không thể phủ nhận sự tích cực trở lại của cầu và điều này hàm ý xu hướng hồi phục ngắn hạn có thể tiếp diễn trong tuần giao dịch kế tiếp. Tuy nhiên, khối lượng giao dịch cần được cải thiện mạnh hơn để hỗ trợ cho đà tăng ít nhất là trong những phiên đầu tuần và tăng mức đảo chiều phiên ngắn hạn cho chỉ số VN30 lên 867 điểm cho phiên giao dịch kế tiếp./.
>>>Xem thêm Chứng khoán tuần: VN-Index đứng trước nguy cơ kiểm tra đáy 950; Dự án Luật Chứng khoán sửa đổi: Bước ngoặt mới cho sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam<<<
D.T
>>>Xem thêm DỊCH VỤ THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<
>>>xem thêm Phát hành Trái phiếu Chính phủ và hiệu quả đối với tái cơ cấu nợ công ở Việt Nam; Nhận diện thách thức và giải pháp cơ cấu lại NSNN và nợ công tại Việt Nam<<<
Hương Quỳnh
Trái phiếu Chính phủ (TPCP) là công cụ nợ của Chính phủ. Tại các nước trên thế giới, TPCP có thể do Bộ Tài chính, cơ quan quản lý nợ hoặc Ngân hàng trung ương tổ chức phát hành.
Luật Quản lý nợ công năm 2017 quy định tại Việt Nam, Bộ Tài chính là chủ thể phát hành TPCP và Bộ Tài chính ủy quyền cho Kho bạc Nhà nước (KBNN) tổ chức phát hành.
Theo thông lệ quốc tế, TPCP đóng hai vai trò cơ bản: Thứ nhất, TPCP là công cụ nợ để huy động vốn bù đắp bội chi ngân sách nhà nước (NSNN), trả nợ gốc đến hạn, cơ cấu lại nợ Chính phủ; Thứ hai, việc phát hành TPCP thường xuyên hỗ trợ phát triển thị trường vốn trong nước, tạo lãi suất chuẩn để các công cụ nợ khác trên thị trường tham chiếu.
Thực hiện chủ trương về cơ cấu lại NSNN, quản lý nợ công để đảm bảo nền tài chính quốc gia an toàn, bền vững tại Nghị quyết số 07-NQ/TW ngày 18/11/2016 của Bộ Chính trị, thời gian qua KBNN đã nỗ lực cải tiến công tác tổ chức phát hành TPCP, quản lý danh mục nợ TPCP góp phần cùng ngành Tài chính thực hiện thắng lợi chủ trương cơ cấu lại ngân sách nhà nước, nợ công và hoàn thành nhiệm vụ tài chính - ngân sách được Quốc hội và Chính phủ giao.
Trên cơ sở các Nghị định Nghị định 95/2018/NĐ-CP ngày 30/6/2018 của Chính phủ quy định về phát hành, đăng ký, lưu ký, niêm yết và giao dịch công cụ nợ của Chính phủ trên thị trường chứng khoán hướng dẫn Luật Quản lý nợ công năm 2017, Bộ Tài chính đã triển khai xây dựng và ban hành hệ thống các Thông tư hướng dẫn thực hiện nghiệp vụ phát hành, thanh toán công cụ nợ của Chính phủ và nghiệp vụ tái cơ cấu nợ, tạo khung pháp lý hoàn chỉnh để thực hiện phát hành TPCP và tái cơ cấu nợ.
Các quy trình nghiệp vụ phát hành TPCP của KBNN đã liên tục được cải tiến hướng theo các thông lệ tốt trên thị trường quốc tế, cho phép KBNN tổ chức phát hành TPCP theo quy trình chuẩn, minh bạch, đơn giản, tiết kiệm và hiệu quả.
Kết quả công tác phát hành TPCP
Hỗ trợ quản lý NSNN hiệu quả: Nghị quyết số 25/2016/QH14 ngày 9/11/2016 của Quốc hội về kế hoạch tài chính quốc gia 5 năm giai đoạn 2016-2020 đặt ra chủ trương “tăng tỷ trọng nợ vay trong nước, giảm dần tỷ trong vay nước ngoài” để giảm rủi ro thị trường, rủi ro tỷ giá đối với nợ vay. Hiện nay, nguồn hỗ trợ chính thức ODA cho Việt Nam đang giảm dần và kết thúc khi Việt Nam được Ngân hàng Thế giới (WB) đưa ra khỏi nước kém phát triển từ tháng 7/2017.
Đảng và Nhà nước chủ trương phát triển kinh tế xã hội chủ yếu dựa vào nguồn lực trong nước. Do đó, thời gian qua, tỷ trọng vay trong nước của Chính phủ bằng trái phiếu trong tổng mức vay của NSNN hàng năm tăng liên tục. Khối lượng TPCP phát hành tại thị trường trong nước đã đáp ứng nhu cầu vốn vay bù đắp bội chi NSNN, đầu tư các công trình trọng điểm quốc gia và để trả nợ gốc theo dự toán Quốc hội giao. Điều này phù hợp với chủ trương của Quốc hội trong thực hiện tái cơ cấu NSNN và nợ công.
Tăng hiệu quả quản lý và sử dụng vốn thông qua kéo dài thời gian vay nợ: Phần lớn các công trình trọng điểm quốc gia yêu cầu vốn đầu tư dài hạn, phù hợp với thời gian đầu tư và thu hồi vốn. Trước đây, TPCP do KBNN phát hành thường có kỳ hạn ngắn.
Từ năm 2014 trở về trước, với kỳ hạn vay hàng năm bình quân khoảng 2-3 năm, NSNN thường xuyên phải vay đảo nợ để trả các khoản vay trước đó dẫn đến hiệu quả sử dụng vốn đầu tư không cao. Từ năm 2015, thực hiện chủ trương của Quốc hội về phát hành trái phiếu kỳ hạn dài, KBNN chủ yếu phát hành loại trái phiếu có kỳ hạn từ 5 năm trở lên.
Điều này giúp cải thiện kỳ hạn của cả danh mục trái phiếu, tăng hiệu quả sử dụng vốn đồng thời giảm áp lực trả nợ đối với NSNN. Nếu như năm 2012, thời hạn sử dụng vốn TPCP bình quân ở mức 3 năm, trong đó hơn 20% khối lượng phải hoàn trả ngay năm sau (do chủ yếu là tín phiếu Kho bạc) thì đến nay, thời hạn bình quân của TPCP phát hành tăng lên khoảng 12-13 năm, nâng kỳ hạn còn lại bình quân của danh mục nợ TPCP lên mức trên 7 năm, không còn áp lực trong việc NSNN phải hoàn trả vốn ngay trong các năm kế tiếp.
Các chỉ tiêu về kỳ hạn phát hành của TPCP và kỳ hạn danh mục nợ TPCP thời gian qua đã đạt và vượt mục tiêu của Quốc hội, Chính phủ đề ra tại Nghị quyết số 25/2016/QH14 ngày 9 tháng 11 năm 2016 của Quốc hội về kế hoạch tài chính quốc gia 5 năm giai đoạn 2016-2020; Quyết định số 1191/QĐ-TTg ngày 14/8/2017 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Lộ trình phát triển thị trường trái phiếu Việt Nam đến năm 2020 (tối thiểu 70% khối lượng TPCP phát hành có kỳ hạn từ 5 năm trở lên, kỳ hạn còn lại danh mục nợ khoảng 6-7 năm,...), khẳng định kết quả thực hiện cơ cấu nợ công theo chủ trương của Quốc hội, Chính phủ.
Tiết kiệm chi phí vay nợ: Quản lý nợ công hiệu quả đặt ra yêu cầu về giảm thiểu các loại rủi ro, giảm chi phí vay trong điều kiện xây dựng danh mục nợ phù hợp về kỳ hạn và loại hình vay nợ.
Thời gian qua, trong điều kiện nền kinh tế vĩ mô được Chính phủ điều hành ổn định, mặt bằng lãi suất thị trường được cải thiện theo hướng giảm dần, KBNN bám sát thị trường và điều hành linh hoạt công tác huy động vốn. Nhờ đó, lãi suất phát hành TPCP giảm mạnh từ mức 12%/năm (năm 2011) xuống mức 6,54%/năm (năm 2014) và tiếp tục giảm dần xuống mức 5,98%/năm (năm 2017) và 4,71%/năm (năm 2018), góp phần giảm chi phí, tăng hiệu quả công tác quản lý nợ công.
Kết quả phát hành TPCP phụ thuộc rất nhiều vào tình hình thị trường tài chính, tiền tệ trong, ngoài nước và nhu cầu của các nhà đầu tư. Thị trường TPCP cần duy trì hoạt động thường xuyên, không phải chỉ hoạt động khi NSNN cần vốn. KBNN không thể tập trung huy động một khối lượng TPCP lớn thời điểm cuối năm khi thanh khoản của các nhà đầu tư TPCP căng thẳng.
Điều này một mặt dẫn đến khả năng không huy động được, mặt khác tăng chi phí huy động (khoảng 1-2%/năm so với đầu năm), đồng thời NSNN phải trả chi phí vay cao trong thời gian dài suốt vòng đời trái phiếu (ví dụ hiện nay khoảng 12-13 năm).
Có thể lượng hóa tiết kiệm chi phí vay như sau: Ví dụ, năm 2017, KBNN huy động 244.220 tỷ đồng TPCP kỳ hạn bình quân 12,74 năm, lãi suất bình quân 5,98%/năm. Nếu cùng khối lượng vay năm 2017 nhưng với lãi suất vay bình quân năm 2016 là 6,49%/năm thì trong 13 năm sắp tới, mỗi năm NSNN tiết kiệm chi trả lãi 1.245,5 tỷ đồng. Nếu cùng khối lượng vay năm 2017 nhưng với lãi suất vay bình quân năm 2011 là 12%/năm thì trong 13 năm sắp tới, mỗi năm NSNN tiết kiệm chi trả lãi 14.702 tỷ đồng.
Gắn kết chặt chẽ công tác phát hành TPCP và quản lý NQNN: Ngân quỹ nhà nước (NQNN) được hình thành từ các quỹ NSNN (trung ương và các địa phương), tiền gửi của các quỹ tài chính nhà nước, đơn vị, tổ chức kinh tế tại KBNN. KBNN thực hiện quản lý ngân quỹ bên cạnh mục tiêu đáp ứng kịp thời đầy đủ nhu cầu thanh toán, chi trả của NSNN và các đơn vị giao dịch tại KBNN còn đảm bảo mục tiêu hiệu quả thông qua việc sử dụng các nghiệp vụ quản lý ngân quỹ để gắn kết quản lý ngân quỹ và quản lý nợ theo các thông lệ tốt trên thế giới.
Bên cạnh vay từ thị trường TPCP, KBNN có thể cân đối, sử dụng NQNN để tạm ứng cho NSTW và NSĐF đáp ứng nhu cầu chi cần thiết, cấp bách khi nguồn thu chưa tập trung kịp thời nhằm đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án đầu tư kết cấu hạ tầng quan trọng thuộc kế hoạch đầu tư công trung hạn, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
Sử dụng nguồn NQNN tạm thời nhàn rỗi, giảm áp lực phát hành TPCP khi thị trường khó khăn, một mặt giúp KBNN hoàn thành nhiệm vụ vay để cân đối NSNN, một mặt giảm sức ép tăng mặt bằng lãi suất khi nhu cầu vay tăng hoặc thị trường biến động. Thông qua việc tạm ứng NQNN cho NSTW, KBNN tiết kiệm chi phí vay nợ cho NSNN.
Năm 2018, đánh giá khả năng phát hành TPCP khó khăn, KBNN đã trình Bộ Tài chính điều chỉnh giảm nhiệm vụ phát hành TPCP và cuối năm cân đối tạm ứng NQNN 45.500 tỷ đồng để đảm bảo đủ nhu cầu cân đối thu chi NSNN đồng thời giữ mặt bằng lãi suất phát hành ở mức phù hợp, tạo thuận lợi cho việc phát hành TPCP ngay từ đầu năm 2019.
Phát triển thị trường TPCP: Thị trường TPCP trở thành kênh huy động vốn quan trọng của nền kinh tế. Lãi suất TPCP do KBNN phát hành từng bước trở thành lãi suất chuẩn để các công cụ nợ khác trên thị trường tham chiếu.
Vai trò của TPCP trong việc phát triển thị trường trái phiếu trong nước
Hình thành thị trường TPCP chuyên nghiệp: Sự ra đời của thị trường trái phiếu chuyên biệt năm 2009 đánh dấu bước ngoặt trong việc phát triển toàn diện thị trường TPCP của Việt Nam nói chung và công tác phát hành TPCP của KBNN nói riêng. KBNN không còn thực hiện phát hành TPCP theo phương thức bán lẻ mà chủ yếu thực hiện bằng đấu thầu, đảm bảo thông tin minh bạch, đơn giản hóa thủ tục, tiết kiệm chi phí tổ chức phát hành, phù hợp với thông lệ quốc tế.
Sản phẩm trái phiếu đa dạng: Trên cơ sở nghiên cứu nhu cầu thị trường và định hướng cải thiện cơ sở nhà đầu tư, hàng năm KBNN thăm dò và mở rộng dần các loại kỳ hạn trái phiếu, đáp ứng nhu cầu đa dạng của các đối tượng khác nhau. Năm 2015 đưa ra thị trường trái phiếu kỳ hạn 20 và 30 năm lần đầu theo phương thức bán lẻ và sau đó thực hiện đấu thầu thường xuyên, thu hút sự các nguồn vốn dài hạn từ các công ty bảo hiểm, quỹ đầu tư...
Bên cạnh trái phiếu truyền thống trả lãi cố định còn có các hình thức trái phiếu không trả lãi định kỳ, trái phiếu có kỳ trả lãi đầu tiên ngắn hơn hoặc dài hơn kỳ trả lãi chuẩn để tăng hiệu quả QLNQ, quản lý danh mục nợ TPCP.
Đa dạng và cải thiện cơ cấu nhà đầu tư trái phiếu: Từ chỗ trên 80% nhà đầu tư TPCP là các NHTM, hiện nay cơ cấu nhà đầu tư đang chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ lệ nhà đầu tư dài hạn là các công ty bảo hiểm, quỹ đầu tư; giảm dần sự phụ thuộc vào hệ thống NHTM.
Trước năm 2016, NHTM thường nắm giữ khoảng 80% khối lượng trái phiếu do KBNN phát hành, hiện nay tỷ lệ này giảm xuống khoảng 47% (năm 2018), giúp thị trường trái phiếu ổn định, bền vững hơn trước những biến động ngắn hạn trên thị trường tiền tệ.
Thực hiện các nghiệp vụ tái cơ cấu nợ để hỗ trợ quản lý nợ: Trên thế giới, nghiệp vụ hoán đổi và mua lại TPCP là các nghiệp vụ cơ cấu nợ chủ động thường xuyên được thực hiện. Với chủ trương tái cơ cấu danh mục nợ, thời gian qua KBNN đã nhiều lần thực hiện hoán đổi TPCP để tái cơ cấu danh mục TPCP, giảm rủi ro hoặc để cải thiện thanh khoản như: hoán đổi các trái phiếu có kỳ hạn còn lại tương đương để hình thành các mã có giá trị niêm yết lớn, thúc đẩy thanh khoản trên thị trường trái phiếu thứ cấp hoặc gom các trái phiếu có kỳ hạn còn lại ngắn để hoán đổi sang trái phiếu có kỳ hạn dài hơn, kéo dài kỳ hạn danh mục nợ.
Bên cạnh đó, việc chuyển đổi các khoản vay của BHXH sang hình thức TPCP cũng là cách thức tái cơ cấu các khoản nợ của Chính phủ. Dự kiến năm 2019, KBNN sẽ tiếp tục thực hiện hoán đổi trái phiếu để giúp giảm rủi ro đảo nợ của NSNN trong những thời điểm khối lượng TPCP đến hạn lớn (các năm 2020-2021).
Giải pháp phát triển thị trường trái phiếu để tăng cường hiệu quả cải cách quản lý nợ công
Đa dạng sản phẩm trái phiếu để phát triển thị trường: Việc NSNN huy động được khối lượng lớn trái phiếu dài hạn với chi phí hợp lý trong những năm gần đây chứng tỏ niềm tin của nhà đầu tư vào sự ổn định nền kinh tế vĩ mô trong tương lai.
Mặc dù đánh giá cao kết quả tái cơ cấu nợ của Việt Nam từ năm 2015 trở lại đây, các chuyên gia WB tại hội thảo về Chiến lược phát triển KBNN cho rằng việc Việt Nam không phát hành loại dưới 5 năm như hiện nay dẫn đến thiếu lãi suất tham chiếu cho phân đoạn thị trường ngắn hạn, hạn chế thị trường phát triển.
Do đó, cần cân cân đối phát hành trái phiếu ngắn hạn với khối lượng phù hợp để thiết lập đường cong lãi suất chuẩn có đầy đủ kỳ hạn như thông lệ quốc tế. Các chuyên gia cũng khuyến nghị Bộ Tài chính (KBNN) phải duy trì thị trường thường xuyên, thanh khoản để đảm bảo khi NSNN có nhu cầu vay là có thể thực hiện.
Việc đa dạng hóa sản phẩm cho thị trường cần tính đến các loại trái phiếu có cơ chế phòng ngừa rủi ro lạm phát, giúp tối ưu hóa lợi nhuận cho các nhà đầu tư, giảm rủi ro khi đầu tư như trái phiếu gắn với chỉ số lạm phát, trái phiếu có lãi suất thả nổi... với một tỷ trọng phù hợp trong tổng mức phát hành, vẫn tập trung vào các sản phẩm truyển thống như hiện nay.
Thực hiện các nghiệp vụ cơ cấu nợ: Hoán đổi trái phiếu là nghiệp vụ cơ cấu nợ phổ biến được các nước phát triển thực hiện thường xuyên trong quản lý danh mục nợ.
Việc hoán đổi trái phiếu cần thực hiện liên tục bằng phương thức đấu thầu để đảm bảo đơn giản thủ tục, minh bạch thông tin và tạo thành thông lệ thường xuyên cho thị trường sẽ đạt hiệu quả quản lý nợ cao hơn. Hiện nay các quy định pháp lý đã cho phép tổ chức đấu thầu hoán đổi mua lại TPCP, KBNN sẽ đẩy nhanh tiến độ triển khai trong thời gian tới.
Gắn kết huy động vốn và quản lý NQNN: Trên thế giới, nhiều quốc gia thậm chí thặng dư ngân sách nhưng vẫn thực hiện phát hành trái phiếu với mục tiêu phát triển thị trường vốn, duy trì kênh huy động vốn khi Chính phủ có nhu cầu. Trường hợp Việt Nam, tại một số thời điểm thặng dư NQNN cao nhưng không nên quá lạm dụng nguồn NQNN để giảm phát hành TPCP do đây là nguồn vốn có tính chất tạm thời.
Việc sử dụng toàn bộ/phần lớn số dư ngân quỹ vay thay thế cho việc phát hành TPCP sẽ hạn chế sự phát triển bền vững của thị trường TPCP, có thể gây rủi ro thanh khoản cho KBNN, mặt khác tạo áp lực trả nợ cho NSNN trong ngắn hạn, ảnh hưởng đến tính an toàn, bền vững của ngân sách và nợ công. Do đó, KBNN cần tính toán sử dụng một tỷ lệ NQNN phù hợp trong tổng mức phát hành trái phiếu để đảm bảo đồng thời hiệu quả quản lý ngân quỹ và phát triển thị trường.
Công tác phát hành TPCP trong thời gian qua đã góp phần tích cực trong việc cơ cấu lại nợ công theo chủ trương, định hướng của Đảng, Quốc hội và Chính phủ. Chất lượng, hiệu quả cải cách quản lý nợ công là một trong các yếu tố giúp tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế Fitch đánh giá tích cực, nâng hệ số tín nhiệm quốc gia của Việt Nam từ mức BB- lên BB vào tháng 5/2018.
Tuy nhiên, để tiếp tục tái cơ cấu nợ và xây dựng thị trường TPCP trở thành kênh huy động vốn dài hạn hiệu quả cho NSNN cần tiếp tục triển khai đồng bộ các giải pháp để tăng quy mô và chất lượng thị trường trái phiếu theo hướng công khai, minh bạch phù hợp với các thông lệ quốc tế.
KB
Thống kê sơ bộ của Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội, cho thấy, trong tháng 5/2019, tính bình quân, khối lượng giao dịch đạt hơn 33,4 triệu cổ phiếu/phiên, tăng 1,5% so với tháng trước, tương ứng giá trị giao dịch đạt gần 418 tỷ đồng/phiên, tăng 7% so với tháng trước.
Đặc biệt, việc bán ròng không quá lớn của nhà đầu tư nước ngoài cho thấy, những căng thẳng thương mại toàn cầu, đặc biệt chiến tranh thương mại Mỹ - Trung không tác động nhiều đến quyết định đầu tư.
Cụ thể, HNX Index đạt 104.35 điểm tại thời điểm đóng cửa phiên giao dịch cuối cùng của tháng 5, giảm 2,89% so với thời điểm cuối tháng trước. Giá trị vốn hóa thị trường đạt hơn 195 nghìn tỷ đồng, giảm 2,5% so với thời điểm cuối tháng 4/2019.
Tuy nhiên, thanh khoản trên thị trường tăng nhẹ so với tháng trước. Tổng khối lượng giao dịch toàn thị trường niêm yết đạt hơn 736 triệu cổ phiếu, giá trị giao dịch đạt hơn 9,2 nghìn tỷ đồng.
Như vậy, tính bình quân, khối lượng giao dịch đạt hơn 33,4 triệu cổ phiếu/phiên (tăng 1,5% so với tháng trước), tương ứng giá trị giao dịch đạt gần 418 tỷ đồng/phiên (tăng 7% so với tháng trước).
Chỉ số giá cổ phiếu các ngành đều giảm mạnh so với tháng trước, trong đó ngành Tài chính có chỉ số giảm điểm nhiều nhất, tại thời điểm ngày 31/5, chỉ số này giảm 10,85 điểm (tương ứng 5,72 % so với tháng trước) xuống mức 178,76 điểm, ngành Công nghiệp giảm 2,64 điểm còn 179,63 điểm, trong khi đó ngành Xây dựng giảm 0,14 điểm (tương ứng 0,11%) đạt 122,48 điểm.
Chỉ số LargeCap tại thời điểm cuối tháng 5 giảm 5,34 điểm (tương ứng 3,266%) so với tháng trước về mức 158,51 điểm, chỉ số Mid/SmallCap giảm 1,27% về 154,14 điểm.
Bảng 1: 5 cổ phiếu được giao dịch nhiều nhất trong tháng 5/2019
STT
MCK
Khối lượng giao dịch (cổ phiếu)
1
PVS
88.100.820
2
SHB
85.143.146
3
VGC
44.506.293
4
NVB
42.158.768
5
MST
30.738.132
Nguồn: hnx.vn
Tháng này, nhà đầu tư nước ngoài giao dịch tổng cộng 61,86 triệu cổ phiếu, giá trị giao dịch đạt mức hơn 1.174 tỷ đồng, trong đó tổng giá trị giao dịch mua vào đạt hơn 472 tỷ đồng, tổng giá trị giao dịch bán ra đạt hơn 742 tỷ đồng.
Như vậy, tính chung trong cả tháng, trên thị trường cổ phiếu niêm yết, nhà đầu tư nước ngoài đã bán ròng hơn 270 tỷ đồng. Việc bán ròng không quá lớn của nhà đầu tư nước ngoài cho thấy, những căng thẳng thương mại toàn cầu, đặc biệt chiến tranh thương mại Mỹ - Trung không tác động nhiều đến quyết định đầu tư. Trong khi họ vẫn tin vào nền tảng vĩ mô ổn định và sự nhất quán trong điều hành hành vĩ mô của Chính phủ Việt Nam.
Bảng 2: 5 cổ phiếu được đầu tư nước ngoài mua nhiều nhất
PVI
8.439.547
3.563.110
1.645.410
887.668
PGT
827.200
Bảng 3: 5 cổ phiếu nhà đầu tư nước ngoài bán nhiều nhất
16.547.150
9.990.931
HUT
3.745.400
SHS
3.169.975
NDN
1.121.600
Tổng khối lượng giao dịch của nhóm cổ phiếu HNX30 đạt hơn 401 triệu cổ phiếu, tương ứng với giá trị giao dịch đạt hơn 7 nghìn tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 54,49% về khối lượng và 76,23% giá trị giao dịch toàn thị trường.
Cũng theo HNX, trong tháng 5/2019, không có doanh nghiệp niêm yết cổ phiếu mới trong khi đó có 7 doanh nghiệp hủy niêm yết cổ phiếu.
Tổng số chứng khoán niêm yết tại ngày giao dịch cuối cùng của tháng (ngày 31/5) là 370 mã cổ phiếu với tổng khối lượng niêm yết hơn 12,44 tỷ cổ phiếu, tương ứng giá trị niêm yết toàn thị trường đạt gần 124,4 nghìn tỷ đồng.
Nhiều nhà đầu tư châu Âu, trong đó có Italia, đang chọn Việt Nam là đích đến của luồng vốn đầu tư. Để phát huy lợi thế này, môi trường kinh doanh cần phải tiếp tục cải thiện, bản thân mỗi doanh nghiệp Việt cũng phải thay đổi, liên kết với nhau để trở thành mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Sự kiện hơn 300 doanh nghiệp (DN) đến từ Italia tham dự Hội nghị Thượng đỉnh cấp cao Italia – ASEAN lần thứ 3 diễn ra ngày 6/6 đã cho thấy thời cơ thu hút các nhà đầu tư lớn, có trình độ công nghệ cao đã tới. Hội nghị thượng đỉnh lần này được chủ trì bởi Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc và Thủ tướng Italia Giuseppe Conte.
Nhà đầu tư vượt nửa vòng trái đất
Phát biểu khai mạc, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chào mừng các DN Italia đã vượt nửa vòng trái đến Việt Nam, Thủ tướng cảm ơn niềm tin và sự lựa chọn của các nhà đầu tư đối với Việt Nam và Thủ đô Hà Nội – thành phố vì hòa bình.
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh Diễn đàn này là một sự kiện đặc biệt, về phía Việt Nam lần đầu tiên có sự tham dự của cả Thủ tướng và Phó Thủ tướng Chính phủ, điều này thể hiện sự ủng hộ, đánh giá rất cao của Việt Nam đối với sự hợp tác của Chính phủ Italia, của các DN Italia, ASEAN với Việt Nam.
Thủ tướng mong muốn các DN Italia: "Khi các bạn nhìn về hướng Đông, hãy chọn Việt Nam, quốc gia có 95 triệu dân, đang phát triển năng động, một thành viên tích cực của cộng đồng ASEAN với quy mô GDP gần 3.000 tỷ USD".
"Chúng ta hãy cùng nhau hợp tác để cùng thành công và cùng phát triển lớn mạnh, điều đó sẽ càng tuyệt vời hơn khi Hiệp định EVFTA và EVIPA sớm được ký kết và phê chuẩn với sự giúp đỡ, ủng hộ của các bạn", Thủ tướng chia sẻ.
Nguyên Thủ tướng Italia Enrico Letta (kiêm Chủ tịch Hiệp hội Italia – ASEAN), đánh giá ASEAN là nền kinh tế lớn thứ 5 trên thế giới và là một khu vực kinh tế, địa chính trị rất quan trọng với Chính phủ Italia nói chung và cộng đồng DN Italia nói riêng. Italia luôn coi trọng mối quan hệ đa phương Italia – ASEAN, trong đó Việt Nam là cửa ngõ chiến lược của các DN Italia tại khu vực Đông Nam Á.
Điều đó đồng nghĩa với việc dự kiến sẽ có nhiều dự án xúc tiến thương mại cũng như tăng cường dòng vốn đầu tư của Italia vào Việt Nam trong thời gian tới để làm bàn đạp cho các DN Italia hiện diện mạnh mẽ hơn nữa tại thị trường tiềm năng ASEAN này.
"Nền kinh tế Italia và Việt Nam có rất nhiều điểm tương đồng và tôi tin chắc điều đó sẽ tạo thuận lợi hơn, dễ dàng và nhanh chóng hơn cho các DN Italia", ông Enrico Letta nhấn mạnh.
Quảng bá tới nhà đầu tư, ông Nguyễn Đức Chung, Chủ tịch UBND Tp.Hà Nội, cho biết Hà Nội có bề dày 1.000 năm lịch sử, là đầu não chính trị, văn hóa, kinh tế của Việt Nam. Hà Nội là thành phố vì hoà bình, đây là yếu tố quan trọng để các nhà đầu tư quan tâm khi muốn kinh doanh.
Trong khi đó, ở góc độ nhà đầu tư, ông Lapo Pistelli, Phó Chủ tịch EVI (Italia), chia sẻ trước đây DN chủ yếu hoạt động kinh doanh ở châu Phi nhưng gần đây đã chuyển hướng đầu tư sang khu vực Trung Đông, Đông Á và Đông Nam Á. "Chúng tôi rất muốn có cơ hội được đầu tư tại thị trường Việt Nam, hợp tác với DN Việt Nam", ông nói.
Chia sẻ với Thời báo Kinh Doanh, ông Emanuele Stano, Tổng Giám đốc công ty TNHH Ariston Thermo Việt Nam, đánh giá thị trường Việt Nam ngày càng phát triển, tăng trưởng gấp hai lần so với thị trường Italia, nhất là nhu cầu về các thiết bị máy nước nóng; nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng ổn định và bền vững, cơ cấu dân số trẻ.
Vì sao tiềm năng còn bỏ ngỏ?
Hiện nhiều DN và tập đoàn lớn của Italia đã có mặt, hoạt động kinh doanh có hiệu quả tại Việt Nam. Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng đánh giá đây là những tín hiệu khả quan, tuy nhiên kết quả này chưa tương xứng với tiềm năng và nhu cầu phát triển của hai nước.
Để phát triển hơn nữa quan hệ hợp tác đầu tư thương mại giữa hai bên, Phó Thủ tướng cho rằng ngoài sự ủng hộ, quan tâm của Chính phủ hai nước rất cần có sự nỗ lực và phấn đấu của cộng đồng DN.
Từ thực tiễn làm việc, tiếp xúc với nhiều nhà đầu tư Italia nói riêng và châu Âu nói chung, ông Phạm Hồng Hải, Tổng Giám đốc Ngân hàng TNHH MTV HSBC Việt Nam, chia sẻ với Thời báo Kinh Doanh là độ nhận biết về khu vực ASEAN cũng như Việt Nam trong mắt các nhà đầu tư còn rất kém.
Ông cho biết: "Tôi hỏi tại sao không đầu tư vào ASEAN, trong đó có Việt Nam, nhiều nhà đầu tư thẳng thắn cho biết thị trường của chúng ta quá nhỏ. Khi đi xúc tiến đầu tư, DN vẫn cứ nhìn vào thị trường Trung Quốc, Ấn Độ".
Do vậy, Tổng Giám đốc HSBC cho rằng phải tăng cường giới thiệu, quảng bá về tiềm năng của thị trường Việt Nam. "Mình ngồi đây có thể thấy rất tiềm năng. Nhưng nhà đầu tư ở bên kia – họ lại thấy thị trường của mình rất phức tạp, luật lệ lằng nhằng, chẳng biết thế nào là đúng, thế nào là sai. Sự cải thiện về môi trường kinh doanh vẫn chưa đồng đều giữa các bộ ngành, địa phương, nơi đi nhanh nhưng có nơi đi rất chậm".
Theo ông Hải, Diễn đàn lần này là khởi đầu tốt để tăng cường quan hệ hợp tác kinh tế – thương mại, nhưng cần đi sâu hơn. Cụ thể, DN nước ngoài muốn vào Việt Nam thường gặp phải vấn đề gì: chi phí nhân công lao động tăng nhanh (mỗi năm tăng 7-8%), luật lệ thay đổi liên tục, thủ tục hành chính công phức tạp… Đây là vấn đề phải cải thiện.
Đặc biệt, nói về sự dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu, ông Hải cho rằng để thu hút được chuỗi giá trị này, bản thân các DN cần phải thay đổi. Trung Quốc phải mất nhiều năm mới định hình là một công xưởng của thế giới. Việt Nam đi sau nên cũng cần phải có thời gian. Tuy nhiên, điều khó khăn nhất là làm sao để DN Việt Nam đủ khả năng tham gia chuỗi giá trị.
Theo ông Hải, muốn tham gia, bản thân mỗi DN phải thay đổi, chất lượng sản phẩm cần ổn định, máy móc công nghệ hiện đại, đáp ứng các chuẩn mực quốc tế. Một DN có thể không làm được thì cần phải liên kết với nhau để tạo thành sức mạnh, tránh kiểu mạnh ai nấy làm.
Mặt khác, ông Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), khẳng định cộng đồng DN Việt Nam muốn hợp tác hơn nữa với Italia để thúc đẩy tự do thương mại, phát triển kinh tế số… Đặc biệt, thúc đẩy hơn nữa quá trình quốc tế hóa của DN nhỏ và vừa và DN siêu nhỏ, đưa DN vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Sự phát triển của khu vực này sẽ định hình sinh kế của hàng trăm triệu người dân và tương lai của nền kinh tế.
Tuy nhiên, ông Lộc cũng hy vọng, để thành công, hợp tác bền vững tại Việt Nam, các nhà đầu tư phải có cam kết dài hạn, tránh đầu tư theo kiểu "đánh nhanh thắng nhanh"
"Các nhà đầu tư cần lựa chọn đối tác địa phương để hợp tác. Đây là điều cực kỳ quan trọng, giúp cho hoạt động liên doanh, hợp tác của chúng ra có thể vượt qua những rào cản phức tạp của địa phương", ông Lộc cho biết.
>>>xem thêm 83% kế hoạch đầu tư công để giải quyết tồn tại của các nhiệm kỳ trước; Chiến lược đầu tư nào sẽ có xu hướng gia tăng trong năm 2019?<<<
Theo Lê Thúy
Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang từng bước làm thay đổi hoàn toàn kênh phân phối và các sản phẩm dịch vụ ngân hàng truyền thống. Vì thế, chuyển đổi số là xu thế tất yếu của các ngân hàng trong bối cảnh này.
Thời của “chíp hóa”
Mới đây, 7 ngân hàng gồm: Vietcombank, VietinBank, BIDV, Agribank, Sacombank, TPBank, ABBank đã chính thức công bố ra mắt sản phẩm thẻ chip nội địa của các ngân hàng. Việc chuyển đổi thẻ này được xem là xu thế tất yếu, phù hợp với các nước trong khu vực và quốc tế trước tình trạng tội phạm công nghệ cao ngày càng gia tăng; ngoài ra, đây còn là giải pháp nâng cao công nghệ trong việc cung cấp sản phẩm thanh toán không dùng tiền mặt cho khách hàng.
Hiện Việt Nam có 48 ngân hàng phát hành thẻ nội địa với số lượng khoảng 76 triệu thẻ, hơn 261.000 máy POS và 18.600 máy ATM, trong đó phần lớn POS đã tuân theo Tiêu chuẩn EMV nên việc triển khai thẻ chip nội địa trên các thiết bị chấp nhận thẻ sẽ không quá phức tạp.
Theo kế hoạch của Chính phủ, đến cuối năm 2019, các ngân hàng thương mại thực hiện chuyển đổi ít nhất 30% số lượng thẻ từ nội địa, 35% số lượng ATM và 50% số lượng POS hiện có sang công nghệ chip tiếp xúc và không tiếp xúc. Chậm nhất vào 31/12/2021, toàn bộ thẻ từ nội địa đang lưu hành của tổ chức phát hành thẻ tuân thủ tiêu chuẩn về thẻ chip nội. Do đó, giám đốc trung tâm thẻ một ngân hàng thương mại cho biết, dự kiến đến cuối năm nay sẽ chính thức ra mắt sản phẩm thẻ đầu tiên ứng dụng công nghệ thanh toán không tiếp xúc theo chuẩn quốc tế (EMV contactless). Bước đầu, ngân hàng này sẽ triển khai máy POS đọc thẻ chip cho chuỗi rạp chiếu phim, siêu thị… trên toàn quốc, nhưng nếu máy POS chưa có công nghệ mới vẫn có thể cà thẻ để thanh toán bình thường.
Về vấn đề bảo mật, ông Trần Quốc Anh, Giám đốc khối khách hàng cá nhân Ngân hàng HDBank cho biết, ngân hàng đang triển khai các công nghệ mới rất an toàn và luôn phối hợp với công ty thẻ, nhà mạng lớn cùng triển khai như hệ thống phòng chống hacker. Bên cạnh đó, ngân hàng cũng chú trọng việc truyền thông đến người sử dụng thẻ để tăng tính an toàn.
Hợp tác cùng chuyển đổi
Các ngân hàng đang tiến tới xây dựng hệ sinh thái, không chỉ có ngân hàng cung cấp giải pháp thanh toán mà ngân hàng cùng nhà cung cấp dịch vụ, hệ thống DN và các tổ chức cùng hợp tác để cung cấp dịch vụ ngân hàng tốt nhất cho người dân và phát triển dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt. Sự liên kết giữa ngân hàng và các DN công nghệ, viễn thông đang bắt đầu bằng việc xây dựng ngân hàng số tích hợp cả hệ thống ví, thẻ vào một.
Tại Việt Nam, hiện chỉ có 30% dân số có tài khoản ngân hàng, trong đó 85% là giao dịch rút tiền mặt. Vì thế, bà Phùng Nguyễn Hải Yến, Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng Vietcombank cho hay, khó khăn lớn nhất hiện nay đối với các ngân hàng là việc người dân tiếp cận dịch vụ thông tin tài chính rất hạn chế, thói quen dùng tiền mặt diễn ra thường xuyên. Nhưng đây cũng là cơ hội để các ngân hàng mở rộng dịch vụ phát triển tới tất cả người dân, tất cả các vùng từ thành thị đến nông thôn. Chính vì thế, bà Yến nhận định, việc hợp tác giữa ngân hàng và các DN viễn thông sẽ trở thành xu thế trong thời gian tới. Hiện Vietcombank cũng đã mở rộng và hợp tác, liên kết, song hành cùng các công ty viễn thông cung cấp dịch vụ tài chính tốt nhất, bao gồm từ những dịch vụ thanh toán đơn giản như thanh toán tiền điện, tiền nước… hay phức tạp hơn như đầu tư tài chính cho khách hàng.
Cũng là sự hợp tác để chuyển đổi số trong ngành ngân hàng, mới đây, SunTec - công ty hàng đầu về quản trị doanh thu đã triển khai thành công Customer Centricity System (hệ thống khách hàng trung tâm - CCS) cho Ngân hàng TMCP Hàng hải (MSB). Theo MSB, hệ thống CCS có thể tự động phân khúc khách hàng cá nhân của ngân hàng dựa trên các thông số tài chính, giao dịch của họ. Qua đó, MSB sẽ đưa ra các sản phẩm, dịch vụ chuyên biệt tùy chỉnh theo nhu cầu của từng nhóm khách hàng mục tiêu phù hợp với từng mốc thời gian thực tế. Khả năng định giá của hệ thống cũng là một chức năng quan trọng gia tăng hiệu quả hoạt động của ngân hàng trong việc xác định chi phí nhanh chóng cho từng nhóm khách hàng. Ông Huỳnh Bửu Quang, Tổng giám đốc MSB chia sẻ, việc tự động hoá các quy trình và dịch vụ khách hàng đã mang đến cho ngân hàng sự linh hoạt cần thiết trong việc cung cấp đa dạng sản phẩm dịch vụ - yếu tố khiến MSB có lợi thế hơn các ngân hàng khác.
Có thể thấy, các ngân hàng đều đang nỗ lực, nhằm tăng cường khả năng đổi mới kỹ thuật số, đưa công tác quản trị quan hệ với khách hàng, cung cấp dịch vụ khách hàng lên một tầm cao mới. Điều này sẽ góp phần tạo cho hệ thống các tổ chức tín dụng sự phát triển bền vững, lành mạnh với khả năng chống chịu cao hơn trước những tác động bên ngoài.
>>>Xem thêm Quá lệ thuộc vào nguồn vốn ngân hàng, doanh nghiệp dễ gặp rủi ro; 90% giao dịch nghi ngờ rửa tiền liên quan đến ngân hàng<<<
DUY THÁI
Việc đăng ký sở hữu trí tuệ là nền tảng để các doanh nghiệp khởi nghiệp có thể phát triển bền vững, kêu gọi được vốn đầu tư tư xã hội và ngăn chặn việc bị cạnh tranh không lành mạnh trong tương lai.
Trung tâm Ươm tạo Doanh nghiệp Nông nghiệp Công nghệ cao phối hợp với Trung tâm Ứng dụng và Dịch vụ Khoa học và Công nghệ thuộc Cục công tác phía Nam – Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức hội thảo “Nhận diện tài sản vô hình và tài sản trí tuệ trong doanh nghiệp khởi nghiệp”.
Theo các chuyên gia, các doanh nghiệp khởi nghiệp tại Việt nam đang phát triển ngày một mạnh mẽ. Song có một thực trạng chung là các nhóm khởi nghiệp chỉ tập trung vào hình thành doanh nghiệp, kêu gọi vốn đầu tư mà chưa thực sự quan tâm đến việc đăng ký quyền bảo vệ sở hữu trí tuệ hoặc ngại đăng ký vì nhiều lý do. Đôi khi điều này xuất phát từ sự thiếu hiểu biết về kiến thức bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của các doanh nghiệp. Vì vậy, các doanh nghiệp khởi nghiệp thường không nắm được tầm quan trọng của quyền sở hữu trí tuệ và vẫn còn thờ ơ với vấn đề này.
Trên thực tế, tài sản của một doanh nghiệp nói chung được chia thành 2 loại: tài sản hữu hình gồm máy móc, nhà xưởng, cơ sở hạ tầng… và tài sản vô hình gồm các bí quyết kỹ thuật, ý tưởng, chiến lược, kế hoạch kinh doanh, thương hiệu, kiểu dáng và các kết quả vô hình khác được tạo ra bởi các tài năng sáng tạo và đổi mới của công ty.
Nếu trước kia tài sản hữu hình là tài sản có giá trị chính của một công ty và được coi là có tính quyết định trong việc xác định khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp trên thị trường thì trong những năm gần đây điều này đã thay đổi cơ bản. Các doanh nghiệp đang nhận ra rằng tài sản vô hình đang trở nên có giá trị hơn so với tài sản hữu hình. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng tài sản hữu hình chiếm ¼ tổng giá trị tài sản doanh nghiệp. Điều đó có nghĩa là tài sản vô hình hay giá trị thương hiệu chiếm ¼ tổng giá trị tài sản doanh nghiệp. Do vậy, có thể thấy tài sản trí tuệ đóng vai trò quan trọng đối với doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp khởi nghiệp.
Do đó, TS Nguyễn Hải An, Giám đốc Trung tâm Ươm tạo doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao lưu ý các doanh nghiệp khởi nghiệp cần đăng ký bảo hộ, đặc biệt là các sáng chế, bí quyết, biểu trưng, nhãn hiệu, biểu tượng, thiết kế nhằm mục đích thiết lập quyền sở hữu, ngăn chặn doanh nghiệp khác hoặc đối thủ đăng ký trước và cạnh tranh không lành mạnh trong tương lai. Bằng cách này, các doanh nghiệp khởi nghiệp mới có thể phát triển bền vững và kêu gọi được vốn đầu tư tư xã hội.
Tuy nhiên, theo ông Phạm Xuân Đà, Cục trưởng Cục Công tác phía Nam – Bộ Khoa học và Công nghệ, thủ tục đăng ký sở hữu trí tuệ hiện rất rối rắm, phức tạp, tốn kém và phải chờ đợi lâu. Điều này làm nản lòng không ít doanh nghiệp dù rất muốn đăng ký sở hữu trí tuệ. Hiện nhiều nước trên thế giới có riêng một bộ phận đồng hành cùng doanh nghiệp trong công tác đăng ký sở hữu trí tuệ. Đặc biệt, các doanh nghiệp sáng tạo luôn đồng hành cùng luật sư về sở hữu trí tuệ chuyên ngành để có những tư vấn, hỗ trợ phù hợp.
Thời gian qua, tại Việt Nam cũng đã có nhiều chương trình đào tạo về sở hữu trí tuệ, như dự án nâng cao nhận thức về đổi mới sáng tạo và sở hữu trí tuệ trong cộng đồng sinh viên và doanh nghiệp khởi nghiệp của Bộ Khoa học Công nghệ. Trung tâm Ươm tạo doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao cũng đã thực hiện nhiều hoạt động thiết thực như đào tạo, tập huấn, hội thảo, hội nghị nhằm hỗ trợ nâng cao khả năng nhận diện và lựa chọn cơ chế bảo hộ tài sản trí tuệ phù hợp cho các doanh nghiệp ươm tạo tại Khu nông nghiệp công nghệ cao TPHCM.
Theo đó, các chuyên gia khuyến nghị các doanh nghiệp cần chủ động tham gia các khóa đào tạo để có kiến thức, nâng cao khả năng nhận diện các đối tượng sở hữu trí tuệ trong doanh nghiệp của mình để có thể lựa chọn cơ chế bảo hộ tài sản trí tuệ phù hợp.
>>>Xem thêm Thủ tục ghi nhận Người đại diện sở hữu công nghiệp; Chính phủ trình sửa hai Luật kinh doanh bảo hiểm và Sở hữu trí tuệ<<<
Sau khi Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải kết thúc phần trả lời chất vấn đại biểu Quốc hội (ĐBQH), Phó Thủ tướng Chính phủ Trịnh Đình Dũng đã có báo cáo giải trình làm rõ thêm một số vấn đề ĐBQH quan tâm.
Theo Phó Thủ tướng, các vấn đề theo nội dung chất vấn đã được Bộ trưởng Nguyễn Văn Thể đã trả lời rất rõ và khá đầy đủ.
Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng khẳng định, trong những năm qua, Nhà nước đã dành nhiều ngân sách và huy động các nguồn vốn xã hội để đầu tư hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông; từ đó, tạo ra hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông Việt Nam có sự thay đổi nhanh chóng, góp phần giảm chi phí sản xuất, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia; góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh và nâng cao đời sống của người dân
“Tuy nhiên, trong lĩnh vực phát triển kết cấu hạ tầng giao thông còn những bất cập như các ĐBQH đã chất vấn. Trước hết, hạ tầng giao thông còn chất lượng thấp, kết nối thiếu đồng bộ, còn nhiều nút thắt cần giải quyết. Hiện nay tổng đường bộ của Việt Nam là 295.000 km, nhưng mới có 977 km đường cao tốc; thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực. Phấn đấu đến 2020 chúng ta phải có 2.000 km đường cao tốc” - Phó Thủ tướng nói.
Làm rõ hơn những bất cập, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng cho rằng, hệ thống sân bay, cảng biển có bước phát triển nhưng tình trạng quá tải tại một số sân bay như Tân Sơn Nhất và Nội Bài; hệ thống đường sắt được xây dựng cách đây hàng trăm năm nên rất cũ kỹ, lạc hậu và thiếu an toàn; giao thông đường thủy nội địa chưa được khai thác một cách có hiệu quả ở nhiều khu vực.
Cùng với đó, việc kết nối các loại hình giao thông cũng như kết nối các khu vực kinh tế, các khu vực đô thị còn chậm và thiếu đồng bộ. Việc đầu tư hạ tầng cho vùng Tây Bắc, Đông Bắc, kết nối giao thông giữa các khu vực Tây Nguyên với duyên hải miền Trung và TP. Hồ Chí Minh còn nhiều khó khăn.
Hạ tầng các đô thị lớn đầu tư chậm, đặc biệt là hệ thống đường sắt đô thị đã ảnh hưởng ách tắc giao thông, ô nhiễm môi trường tại các đô thị lớn. Đặc biệt, đầu tư hạ tầng giao thông cho khu vực đồng bằng sông Cửu Long còn chưa đáp ứng yêu cầu của sự phát triển.
Cơ cấu các loại hình vận tải còn mất cân đối, hệ thống đường sắt mới đáp ứng 1,31% tổng lượng vận chuyển hàng hóa và 1,97% tổng lượng hành khách.
Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng thẳng thắn nói: “Đặc biệt, ĐBQH rất bức xúc tình trạng quản lý đầu tư xây dựng các công trình ngành Giao thông còn hạn chế, yếu kém. Tình trạng tăng vốn, đội vốn tại nhiều công trình trọng điểm, nhiều công trình chậm tiến độ, chất lượng thấp. Việc quản lý đầu tư, vận hành, khai thác các dự án BOT giao thông còn nhiều bất cập và một số dự án còn gây rất bức xúc trong nhân dân và có nơi còn tạo điểm nóng. Còn có lo ngại lựa chọn nhà đầu tư kém năng lực, công tác quản lý xe vận tải còn nhiều lúng túng, đặc biệt là xe hợp đồng điện tử. Trật tự an toàn giao thông vẫn diễn biến phức tạp cả trong lĩnh vực đường bộ, đường thủy và đường hàng không”.
Trước những bất cập nêu trên, theo Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng, nhiệm vụ trong thời gian tới là phải khắc phục các hạn chế, yếu kém đã nêu như các ĐBQH đã chất vấn. Trước hết, đẩy nhanh tiến độ các dự án của ngành Giao thông đã được bố trí vốn trong kế hoạch vốn đầu tư trung hạn giai đoạn 2016 - 2020 cũng như các dự án dở dang, các dự án hợp tác công - tư, trong đó, đẩy nhanh lựa chọn nhà thầu để thực hiện đầu tư tuyến cao tốc Bắc Nam và sân bay Tân Sơn Nhất.
“Quan điểm của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ là lựa chọn các nhà thầu, nhà đầu tư một cách công khai, minh bạch theo đúng quy định của pháp luật để hạn chế, khắc phục những thất thoát, lãng phí trong quá trình đầu tư xây dựng. Ưu tiên các nhà đầu tư các nhà thầu trong nước đủ năng lực. Đối với các nhà thầu, nhà đầu tư nước ngoài, phải là có năng lực, có trách nhiệm, uy tín và phải được kiểm chứng. Các khâu không để xảy trường hợp tương tự như dự án đường sắt đô thị Cát Linh - Hà Đông” - Phó Thủ tướng khẳng định.
Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng cũng cho biết, thời gian tới sẽ tháo gỡ khó khăn để đẩy nhanh tiến độ các dự án cao tốc Trung Lương - Mỹ Thuận - Cần Thơ, tuyến Bắc Giang - Lạng Sơn và dự án đường sắt đô thị Cát Linh - Hà Đông.
Đồng thời, tập trung khắc phục các tồn tại của dự án BOT giao thông đảm bảo hài hòa lợi ích nhà nước- nhà đầu tư và đặc biệt là lợi ích của người dân; tiếp tục rà soát để vừa thực hiện các dự án này hoạt động trong thời gian quá độ, đồng thời kiên quyết không đầu tư các dự án mới vào những tuyến đường độc đạo. Đây là sự chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ cũng như là ý kiến của Ủy ban Thường vụ QH.
Về vốn cho các dự án, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng cho biết, tất cả các dự án chưa được ghi vốn trong đầu tư công trung hạn 2016 - 2020 hoặc bổ sung vốn dự phòng thì phải chuyển sang giai đoạn 2021 - 2015 thậm chí đến năm 2030, trừ trường hợp huy động được nguồn vốn xã hội./.
10 năm tới cần 2 triệu tỷ đồng đầu tư cho giao thông
Đầu tư cho giai đoạn 2021 - 2030, theo Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng, dự kiến sơ bộ cần khoảng trên 2 triệu tỷ đồng (10 năm qua là khoảng hơn 1 triệu tỷ đồng). Trên cơ sở đó, cân đối các nguồn vốn ngân sách và các nguồn vốn huy động xã hội, nhiệm vụ là phải xác định rõ công trình dùng vốn ngân sách, dùng vốn vay ODA, vốn xã hội hoặc vốn hỗn hợp.
Page 6 of 10