Liên hệ ngay DNG Business để nhận dịch vụ tốt nhất: 0915.888.404
6 tháng đầu năm 2019, công tác thanh tra, kiểm tra tài chính đã đáp ứng kịp thời, hiệu quả công tác chỉ đạo, điều hành của lãnh đạo Bộ Tài chính và Chính phủ. Nội dung thanh tra, kiểm tra có trọng tâm, trọng điểm, hoàn thành đúng tiến độ, qua đó góp phần siết chặt kỷ luật kỷ cương tài chính.
Ngày 1/7/2019, tại Hà Nội, Thanh tra Bộ Tài chính tổ chức hội nghị sơ kết công tác 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm.
Tại hội nghị, đánh giá công tác thanh tra, kiểm tra trong 6 tháng đầu năm 2019, Phó Chánh Thanh tra Bộ Tài chính Trần Huy Trường cho biết, 6 tháng đầu năm, Thanh tra Bộ Tài chính và các đơn vị có chức năng thanh tra chuyên ngành thuộc Bộ Tài chính đã thực hiện 25.173 cuộc thanh tra, kiểm tra; kiểm tra 138.364 hồ sơ khai thuế tại cơ quan thuế và điều tra chống buôn lậu bắt giữ 6.574 vụ.
Qua thanh tra, kiểm tra, lực lượng này đã kiến nghị xử lý tài chính trên 16.247,3 tỷ đồng (Trong đó, thu hồi nộp NSNN trên 4.541,8 tỷ đồng; kiến nghị xử lý tài chính khác trên 10.450 tỷ đồng; xử phạt vi phạm hành chính trên 1.255 tỷ đồng). Số tiền các đơn vị đã thực hiện thu nộp NSNN trên 3.428,1 tỷ đồng.
"Qua thanh tra, kiểm tra tài chính đã kiến nghị các đơn vị thực hiện rà soát, đôn đốc thu hồi nợ thuế và thực hiện xử phạt vi phạm hành chính đối với các trường hợp có vi phạm. Chấn chỉnh công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng, công tác khảo sát, thiết kế, dự toán, công tác đấu thầu... nhằm đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án. Các cơ quan thanh tra đã kiến nghị với các bộ, ngành, địa phương bổ sung các quy trình, sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến công tác quản lý, điều hành, cơ chế chính sách đảm bảo đúng pháp luật và phù hợp với thực tế..." - ông Trường nêu rõ.
Bên cạnh những kết quả đạt được, cũng theo nhận định của Thanh tra Bộ Tài chính, công tác thanh tra, kiểm tra còn một số tồn tại. Cụ thể, công tác xây dựng kế hoạch thanh tra năm 2019 của một số đơn vị có chức năng thanh tra chuyên ngành còn chưa sát với thực tế, dẫn đến ngay từ những tháng đầu năm 2019 đã xin điều chỉnh kế hoạch thanh tra.
Tuy nhiên, để đảm bảo tính hiệu lực, hiệu quả của kế hoạch thanh tra chuyên ngành đã được lãnh đạo Bộ Tài chính phê duyệt, Thanh tra Bộ Tài chính đã có công văn đề nghị các đơn vị tiếp tục chủ động tổ chức triển khai, thực hiện thanh tra theo kế hoạch đã được phê duyệt và tổng hợp, điều chỉnh kế hoạch chung sẽ thực hiện trong đầu quý III năm 2019.
Để nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra những tháng cuối năm, ông Trần Văn Vượng – Chánh Thanh tra Bộ Tài chính nhấn mạnh, Thanh tra Bộ Tài chính tập trung thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm, trong đó trước tiên tổ chức, triển khai kịp thời kế hoạch thanh tra, kiểm tra tài chính năm 2019 theo kế hoạch đã được phê duyệt; bố trí lực lượng, tổ chức triển khai có hiệu quả để phấn đấu hoàn thành 100% kế hoạch thanh tra và những nhiệm vụ đột xuất được giao.
Đồng thời, bố trí lực lượng dự phòng trong trường hợp thanh tra, kiểm tra đột xuất theo chỉ đạo của Chính phủ, của Bộ Tài chính; thực hiện tốt cơ chế giám sát đoàn thanh tra để đảm bảo phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý nghiêm các trường hợp gây phiền hà, sách nhiễu, tiêu cực trong quá trình thanh tra, kiểm tra
Đặc biệt, tăng cường phối hợp giữa Thanh tra Bộ Tài chính với các đơn vị có chức năng thanh tra chuyên ngành thuộc hệ thống trong việc triển khai các cuộc thanh tra theo chuyên đề, thanh tra diện rộng nhằm phát hiện, xử lý kịp thời các sai phạm và kiến nghị sửa đổi, bổ sung kịp thời các cơ chế, chính sách chưa phù hợp nhằm tăng cường công tác quản lý tài chính, đảm bảo kỷ cương, kỷ luật...
Tăng lương cơ sở; điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội; giá vé máy bay trong nước hạng phổ thông tối đa 3,75 triệu đồng;... là những chính sách mới có hiệu lực từ tháng 7/2019.
>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<<
Tăng lương cơ sở từ ngày 1/7/2019
Theo Nghị định 38/2019/NĐ-CP ban hành ngày 09/05/2019 của Chính phủ quy định mức lương cơ sở đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang, từ ngày 1/7/2019, mức lương cơ sở là 1.490.000 đồng/tháng.
Tổ chức và hoạt động của Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa
Nghị định số 39/2019/NĐ-CP ban hành ngày 10/05/2019 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa có hiệu lực từ ngày 01/07/2019.
Nghị định quy định cụ thể các hoạt động của Quỹ gồm: Cho vay, tài trợ, hỗ trợ tăng cường năng lực cho doanh nghiệp nhỏ và vừa; tiếp nhận, quản lý và sử dụng vốn vay, tài trợ, viện trợ, đóng góp, ủy thác; phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro và xử lý rủi ro; quản lý tài chính;...
Một dự án chỉ lập 1 báo cáo đánh giá tác động môi trường
Nghị định 40/2019/NĐ-CP ban hành ngày 13/05/2019 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ môi trường có hiệu lực từ ngày 01/07/2019.
Nghị định này bổ sung thêm nội dung quy định số lượng và thời điểm lập báo cáo đánh giá tác động môi trường vào Điều 14 Nghị định 18/2015/NĐ-CP. Cụ thể, một dự án đầu tư chỉ lập một báo cáo đánh giá tác động môi trường.
Vi phạm hành chính trong lĩnh vực thủy sản bị phạt tới 1 tỷ đồng
Theo Nghị định 42/2019/NĐ-CP ban hành ngày 16/05/2019 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thủy sản có hiệu lực thi hành từ ngày 05/07/2019, vi phạm hành chính trong lĩnh vực thủy sản sẽ bị phạt đến 1 tỷ đồng.
Điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội
Nghị định số 44/2019/NĐ-CP ban hành ngày 20/05/2019 của Chính phủ điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng có hiệu lực từ ngày 1/7/2019. Theo đó, tăng thêm 7,19% trên mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng của tháng 6 năm 2019 đối với 8 nhóm đối tượng, áp dụng từ ngày 1/7/2019.
Quy định mới về cơ cấu tổ chức cơ quan thuộc Chính phủ
Nghị định 47/2019/NĐ-CP ban hành ngày 05/06/2019 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 10/2016/NĐ-CP ngày 1/2/2016 của Chính phủ quy định về cơ quan thuộc Chính phủ có hiệu lực từ ngày 20/07/2019, trong đó, sửa đổi, bổ sung cơ cấu tổ chức cơ quan thuộc Chính phủ.
Cụ thể, cơ cấu tổ chức của cơ quan thuộc Chính phủ gồm: Ban; Văn phòng; Tổ chức sự nghiệp trực thuộc (nếu có).
Chế độ, chính sách đối với sĩ quan, hạ sĩ quan CAND
Có hiệu lực từ 25/07/2019, Nghị định số 49/2019/NĐ-CP quy định định chi tiết và biện pháp thi hành một số điều của Luật Công an nhân dân về chế độ, chính sách đối với sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ Công an nhân dân thôi phục vụ trong Công an nhân dân, hy sinh, từ trần và chế độ, chính sách đối với công nhân công an...
Quy định cấp chứng chỉ hành nghề khám, chữa bệnh trong Quân đội
Nghị định 50/2019/NĐ-CP ban hành ngày 07/06/2019 của Chính phủ quy định cấp chứng chỉ hành nghề đối với người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh và cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám khám bệnh, chữa bệnh trong Quân đội có hiệu lực thi hành từ ngày 24/07/2019.
Từ 1/7, giá vé máy bay trong nước hạng phổ thông tối đa 3,75 triệu đồng
Theo Thông tư 17/2019/TT-BGTVT của Bộ Giao thông vận tải về việc ban hành khung giá dịch vụ vận chuyển hành khách trên các đường bay nội địa có hiệu lực từ 1/7/2019, khung giá dịch vụ vận chuyển hành khách trên đường bay nội địa được quy định cụ thể như sau: Mức giá vé tối đa hạng phổ thông cho một chiều đi với khoảng cách dưới 500 km nhóm đường bay phát triển kinh tế xã hội là 1,6 triệu đồng/vé, nhóm đường bay khác là 1,7 triệu đồng/vé. Khoảng cách từ 500 km - 850 km có giá tối đa 2,2 triệu đồng/vé; 850 km - 1.000 km có giá tối đa 2,790 triệu đồng/vé và 1.000 km - 1.280 km có giá 3,2 triệu đồng/vé.
Mức giá vé cao nhất một chiều cho cự ly từ 1.280 km trở lên là 3,75 triệu đồng/vé.
Tổng cộng số tiền mà CTCP Chứng khoán MB phải nộp là gần 504,4 triệu đồng.
Căn cứ Quyết định số 49629/QĐ-CT-TKT8 ngày 25/06/2019 của Cục thuế Thành phố Hà Nội về việc xử lý vi phạm về thuế qua thanh tra việc chấp hành pháp luật về thuế, Công ty Cổ phần Chứng khoán MB (mã MBS) phải nộp bổ sung gần 504,4 triệu đồng cho kỳ quyết toán thuế từ năm 2015-2018.
Trong đó, tiền phạt khai sai mức 20% trên số thuế tăng thêm qua thanh tra do có hành vi kê khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp là gần 82,37 triệu đồng; phạt tiền đối với hành vi lập hồ sơ khai thuế ghi thiếu, ghi sai các chỉ tiêu trên tờ khai thuế, tờ khai quyết toán thuế là 1,4 triệu đồng; tiền thuế truy thu tăng qua thanh tra là gần 411,85 triệu đồng; tiền chậm nộp do có hành vi chậm nộp tiền thuế là hơn 8,77 triệu đồng. Vì vậy, tổng cộng MBS phải nộp bổ sung gần 504,4 triệu đồng.
Đươc biết, hiện MBS đã hoàn thành việc xử lý theo Quyết định số 49629/QĐ-CT-TKT8 ngày 25/06/2019.
Chốt phiên giao dịch ngày 01/07, MBS đạt 14.800 đồng/cổ phiếu, ngang mức giá tham chiếu.
Theo Cự Giải/nhadautu.vn
Còn nhiều ý kiến khác nhau về việc giảm tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn và nâng hệ số rủi ro với khoản vay cá nhân phục vụ nhu cầu đời sống có dư nợ gốc từ 3 tỷ đồng, đặc biệt là tác động với thị trường bất động sản.
Muốn DN bớt dựa dẫm vốn tín dụng và phân tầng rủi ro
Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đang lấy ý kiến đối với Dự thảo Thông tư thay thế Thông tư 36/2014/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (Thông tư 36).
Trong đó, 2 nội dung sửa đổi được giới kinh doanh bất động sản rất quan tâm. Một là, tiếp tục áp dụng chỉ tiêu tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn từ mức 40% đến hết tháng 6/2020, sau đó giảm xuống 30% từ tháng 7/2021 hoặc từ tháng 7/2022. Theo NHNN, đây là một trong những cách giúp doanh nghiệp đa dạng nguồn vốn thay vì dựa chủ yếu vào vốn tín dụng.
Hai là, áp dụng hệ số rủi ro từ 50% - 150% đối với các khoản cho vay cá nhân phục vụ nhu cầu đời sống. Trong đó, điểm đáng chú ý là khoản cho vay cá nhân phục vụ nhu cầu đời sống có số dư nợ gốc từ 3 tỷ đồng trở lên chịu hệ số rủi ro là 150%.
Trong khi đó, theo quy định hiện nay, các khoản phải đòi được bảo đảm toàn bộ bằng nhà ở (bao gồm cả nhà ở hình thành trong tương lai), quyền sử dụng đất, công trình xây dựng gắn với quyền sử dụng đất của bên vay đều có hệ số rủi ro là 50%.
Lý giải về điều này, NHNN cho biết, theo Thông tư 36, toàn bộ các khoản vay kinh doanh bất động sản (gồm cả cho vay mua nhà ở) đều áp dụng hệ số rủi ro 200%, trừ khi đó là cho vay tiêu dùng. Quy định như vậy đã dẫn đến hiện tượng các khoản cho vay mua nhà, sửa và chữa nhà để bán, cho thuê… với mục đích sinh lời đều được các ngân hàng thương mại đưa vào cho vay tiêu dùng phục vụ đời sống, do đó, phản ảnh không đúng bản chất rủi ro và khiến chính sách điều tiết tín dụng tiêu dùng bị méo mó.
Do đó, NHNN cho rằng, việc đưa quy định về áp mức rủi ro 150% đối với khoản vay cá nhân phục vụ nhu cầu đời sống có dư nợ trên 3 tỷ đồng là bước tiến so với quy định hiện hành. Theo Ban soạn thảo Thông tư thay thế Thông tư 36, nội dung tại Dự thảo cho thấy, các mức ngưỡng áp dụng rủi ro đã được phân tầng nhằm tác động tốt hơn, điều chỉnh tốt hơn đến thị trường, giúp đối tượng thụ hưởng chính sách được hưởng lợi nhiều hơn.
Mong siết từ từ để giảm sốc
Các điểm mới nêu trên dự kiến sẽ hạn chế nguồn vốn tín dụng cho bất động sản và ảnh hưởng đến thị trường này. Do đó, ông Lê Hoàng Châu, Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản TP.HCM cho biết vừa có cuộc làm việc với Ban soạn thảo để đề xuất các ý kiến từ phía cộng đồng doanh nghiệp bất động sản.
Theo ông Lê Hoàng Châu, việc giảm nguồn vốn tín dụng đổ vào lĩnh vực bất động sản là hợp lý và phù hợp với xu thế phát triển của thế giới, song cần có lộ trình áp dụng từ từ để tránh sốc cho thị trường. Cụ thể, hệ số rủi ro 150% với các khoản vay phục vụ đời sống có dư nợ từ 3 tỷ đồng trở lên là hợp lý vì nhắm trúng vào phân khúc khách hàng cao cấp. Để vay được số tiền 3 tỷ đồng, tài sản bất động sản phải có giá trị từ 4 tỷ đồng trở lên, đây là số tiền có thể mua được căn hộ chung cư cao cấp ở các thành phố lớn như Hà Nội và TP.HCM, có thể mua được biệt thự ở các tỉnh, thành phố khác.
“Do đó, áp dụng mức 3 tỷ đồng là phù hợp để hạn chế nguồn cung bất động sản cao cấp. Qua đó, tăng vốn cho các dự án bất động sản bình dân, một phân khúc đang thiếu hàng trên thị trường. Con số này đã được Ban soạn thảo nghiên cứu kỹ, tuy nhiên, nên tăng lên mức 120% từ năm 2020, sau đó tiếp tục tăng dần lên mức 150%”, ông Châu nhấn mạnh.
Mặt khác, theo ông Châu, việc giảm tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay dài hạn xuống mức 30% cũng là hợp lý, song cần kéo dài tỷ lệ 40% đến hết năm 2020 để các doanh nghiệp có thời gian chuẩn bị nguồn vốn đầy đủ.
Trong khi đó, TS. Bùi Quang Tín, Chủ tịch Trường Doanh nhân Bizlight cho rằng, việc đưa ra con số cố định 3 tỷ đồng cho tất cả các địa phương, thành phố là chưa phù hợp. Bởi lẽ, cùng số tiền đó có thể mua được bất động sản rất cao cấp ở các tỉnh và mang tính đầu cơ. Tuy nhiên, đó lại là số tiền khiêm tốn nếu muốn đầu cơ bất động sản ở các thành phố lớn.
“Con số này nên linh hoạt theo từng địa phương và giao cho NHNN các tỉnh, thành phố làm đầu mối quyết định”, ông Tín đề xuất.
Theo Lê Hường/baodauthau.vn
Sau giai đoạn khủng hoảng 2008 - 2009, đến nay cơ hội mới thực sự dần mở ra qua những thương vụ lớn các ngân hàng đang khởi động.
Ngày 28/6, Ngân hàng Tiên Phong (TPBank) bắt đầu thực hiện lấy ý kiến cổ đông, chuẩn bị triển khai kế hoạch phát hành 200 triệu USD trái phiếu quốc tế.
Cùng thời điểm, Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) cũng tiến hành lấy ý kiến cổ đông, cho kế hoạch chuẩn bị phát hành tới 1,12 tỷ USD trái phiếu quốc tế dự kiến trong năm 2019 và 2020.
Phải sau cả thập kỷ, hoạt động phát hành trái phiếu quốc tế của ngân hàng Việt mới nhen nhóm trở lại, cũng như đã có những thay đổi căn bản so với trước.
Thời điểm được lựa chọn
Năm 2005, lần đầu tiên Chính phủ Việt Nam thực hiện phát hành trái phiếu quốc tế. 750 triệu USD huy động thành công, với lãi suất 7,125%/năm. Hướng đi mới trong tìm vốn được mở ra.
Nối tiếp, các đợt phát hành vào năm 2010 và 2014 cho kết quả tốt hơn so với mong đợi (có lãi suất thấp hơn dự kiến). Và năm 2016, từng có kế hoạch phát hành lên tới 3 tỷ USD được đặt ra.
“Cùng với việc Fitch nâng hệ số tín nhiệm quốc gia của Việt Nam lên một bậc (từ B+ lên BB-) và Moody (từ B2 lên B1), thành công của đợt phát hành trái phiếu Chính phủ ra thị trường vốn quốc tế lần này đã giúp thiết lập mức lãi suất chuẩn thấp hơn nhiều so với trước”, một bình luận từ Bộ Tài chính đưa ra sau khi cơ quan này phát hành thành công 1 tỷ USD trái phiếu quốc tế năm 2014.
Để ý, yếu tố tín nhiệm quốc gia được nhấn mạnh trong bình luận trên. Sau khi được nâng, Việt Nam đã xem đó như một trong những điều kiện thuận lợi để triển khai. Hạng mức tín nhiệm quốc gia vẫn là một trong những yếu tố cấu thành “đắt, rẻ” của lãi suất khi phát hành.
Năm 2005, khi lần đầu tiên tiến hành, nhiều tổ chức trong và ngoài nước cũng từng so sánh rất chi tiết về yếu tố này, đặc biệt khi đó có đối chiếu cụ thể với trường hợp của Mexico để lường tính lãi suất trước khi phát hành…
Chính phủ mở đường, doanh nghiệp theo sau. Nhưng phải sau cả thập kỷ, đến nay các kế hoạch cụ thể với sự tham gia của các ngân hàng thương mại Việt Nam như phương án 200 triệu USD của TPBank, 1,12 tỷ USD của VPBank nói trên mới thực sự đánh dấu những thương vụ lớn khi “ra khơi tìm vốn”.
Trong cả thập kỷ đó, thị trường toàn cầu từng rơi vào cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 - 2009. Tại Việt Nam, hệ thống các ngân hàng thương mại vào giai đoạn chao đảo 2010 - 2011 sau đó, rồi đến những năm quyết liệt tái cơ cấu.
Đến nay, những thương vụ lớn trên mới bắt đầu khởi động. Yếu tố thời điểm được chú ý.
Sau Fitch và Moody’s, phải đến đầu tháng 4 vừa qua Standard&Poor’s mới quyết định nâng hạng tín nhiệm cho Việt Nam, sau 9 năm, cũng gần một thập kỷ.
Nếu tính từ thời điểm bắt đầu triển khai tái cơ cấu là năm 2011, thì cũng phải sau 8 năm Việt Nam mới có những ngân hàng đạt chuẩn Basel II. Hai trường hợp trên, TPBank và VPBank cũng là những thành viên đầu tiên vừa đạt chuẩn này.
Như với hạng mức tín nhiệm quốc gia được nâng lên, bản thân ngân hàng nâng chuẩn hoạt động theo thông lệ quốc tế, điều kiện để phát hành trái phiếu quốc tế theo đó đã thuận lợi hơn nhiều so với trước. Điều này tạo cơ hội có thể có được chi phí - lãi suất dễ chịu hơn.
Mặt khác, cũng thời điểm này, triển vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) lần đầu tiên giảm lãi suất sau 11 năm được đặt ra. Đây cũng là một tín hiệu mới đặt ra sau cả thập kỷ, có ảnh hưởng đến lãi suất và chi phí đi vay qua trái phiếu quốc tế của ngân hàng Việt.
“Đặt cược” với rủi ro tỷ giá
Thực ra trái phiếu quốc tế của ngân hàng Việt không mới. Chỉ là thời điểm này nó thắp lên kỳ vọng tạo khác biệt lớn, cả về quy mô lẫn lãi suất đi vay.
Năm 2012, Ngân hàng Công thương Việt Nam (VietinBank) phát hành trái phiếu quốc tế với quy mô khá lớn, 250 triệu USD, kỳ hạn 5 năm và niêm yết trên Sở Giao dịch Singapore. Huy động thành công, nhưng “cái giá” cụ thể ở lãi suất cố định lên tới 8%/năm, và phải đến tháng 5/2017 mới đáo hạn.
Nay, những thương vụ của thập kỷ đang khởi động, với điều kiện thuận lợi hơn nói trên (hạng mức tín nhiệm quốc gia được nâng lên, các ngân hàng triển khai đã đạt chuẩn Basel 2, và triển vọng Fed giảm lãi suất đang đặt ra), lãi suất trái phiếu quốc tế của TPBank và VPBank tới đây sẽ là một “phép thử” đáng chú ý, có triển vọng thấp hơn nhiều so với mức 8%/năm mà VietinBank phải trả những năm trước.
Như trên, phải mất cả thập kỷ các ngân hàng Việt Nam mới dần có được những điều kiện thuận lợi hơn. Là trung gian tài chính, khi điều kiện thuận lợi hơn, có cơ hội tìm vốn chi phí tốt để kinh doanh tốt thì họ chọn. Nhưng tất nhiên phải cân đối rủi ro.
Trong nước, thực tế đầu tiên là huy động ngoại tệ không còn như trước. Cơ chế trần lãi suất tiền gửi USD áp 0%/năm những năm qua và hiện nay. Tiền gửi ngoại tệ cũng giảm nhanh trên cơ cấu huy động nhiều ngân hàng và toàn hệ thống nói chung. Trong khi nhu cầu tín dụng ngoại tệ vẫn là một kênh thường trực. Ngay cả phát hành trái phiếu quốc tế, về chuyển đổi thành VND để kinh doanh cũng là một lựa chọn.
Ngân hàng có các tính toán cân đối vốn, kinh doanh để có lãi từ nguồn vốn đó, bên cạnh mục đích kê vốn cấp 2 nâng hệ số an toàn vốn (CAR) như được nêu cụ thể ở trường hợp TPBank. Còn lại, một yếu tố rủi ro là biến động tỷ giá.
Những năm gần đây, tỷ giá USD/VND thay đổi khoảng 2% mỗi năm. Sự ổn định đó có tiếp tục nối dài những năm tới hay không? Chắc chắn những ngân hàng đang và dự tính đi theo hướng gọi vốn trên phải tính toán.
Còn hiện tại, những diễn biến mới và bối cảnh của những căng thẳng thương mại giữa Mỹ với nhiều quốc gia, xu hướng của bảo hộ thương mại nội địa nổi lên,… tỷ giá nói chung và tỷ giá USD/VND nói riêng đang và sẽ trở thành vấn đề quan trọng, đặc biệt gắn với sự thận trọng trong chính sách điều hành.
Như một bài viết đã đề cập vừa qua, tỷ giá có thể trở thành “con tin” giữa các bên trong những căng thẳng thương mại đó. Và với riêng Việt Nam, vừa qua Mỹ đã đưa vào danh sách giám sát, cũng như vấn đề cân bằng thương mại giữa hai nước cũng đang được chú ý.
Theo Minh Đức/BizLive.vn
Chiều 30/6, lễ ký Hiệp định Thương mại tự do (EVFTA) và Hiệp định Bảo hộ đầu tư (IPA) giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EU) đã diễn ra tại trụ sở Chính phủ dưới sự chứng kiến của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và Cao uỷ Thương mại EU, bà Cecilia Malmstrom.
Cơ hội thu hút dòng vốn chất lượng cao từ EU
Phát biểu tại lễ ký kết, Bộ trưởng Bộ Công thương Trần Tuấn Anh cho biết, việc ký kết các hiệp định về thương mại và đầu tư giữa Việt Nam và EU hôm nay là một sự kiện quan trọng, đánh dấu một bước phát triển mới trong quan hệ đối tác và hợp tác toàn diện giữa Việt Nam và EU, phù hợp với định hướng phát triển vì sự thịnh vượng chung của 2 nền kinh tế.
Đồng thời, việc ký kết các hiệp định cũng làm sâu sắc hơn mối quan hệ hợp tác kinh tế thương mại, mang lại lợi ích cho cả 2 bên. 15 năm trước, Việt Nam còn là một đối tác thương mại nhỏ, cần sự hỗ trợ của EU để hội nhập kinh tế thế giới. Đến nay, Việt Nam đã phát triển lớn mạnh hơn, kim ngạch xuất khẩu tăng gấp 10 lần so với trước. Việt Nam và EU chính thức bước vào giai đoạn xây dựng quan hệ hợp tác mới, ký kết hiệp định thương mại tự do, trên cơ sở bình đẳng, hai bên cùng có lợi.
Cho biết việc ký kết chỉ là khởi đầu cho giai đoạn mới, Bộ trưởng Bộ Công thương cũng nhấn mạnh còn nhiều việc phải thực hiện để hiệp định được đi vào thực thi. Chặng đường tới đòi hỏi nhiều nỗ lực của cả Việt Nam và EU. Ông bày tỏ hy vọng các cơ quan sẽ hoàn tất quy trình phê chuẩn trong thời gian sớm nhất để hiệp định này có hiệu lực.
Là cơ quan phụ trách lĩnh vực đầu tư, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng cho biết, trong lĩnh vực hợp tác đầu tư, tiếp theo 21 hiệp định song phương về khuyến khích và bảo hộ đầu tư giữa Việt Nam và các quốc gia thuộc EU đã được ký kết và thực hiện trong 30 năm qua, việc ký kết IPA với những cam kết toàn diện và cân bằng hơn về bảo hộ đầu tư, cùng với những cam kết quan trọng về mở cửa thị trường hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, mua sắm của chính phủ, sở hữu trí tuệ... theo quy định của EVFTA, sẽ góp phần quan trọng vào việc củng cố niềm tin của nhà đầu tư nước ngoài nói chung cũng như nhà đầu tư EU nói riêng về tính hấp dẫn, an toàn, thân thiện và cạnh tranh cao hơn của môi trường đầu tư kinh doanh tại Việt Nam.
Theo Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng, Chính phủ Việt Nam có cơ sở để tin tưởng vững chắc rằng, việc ký kết Hiệp định IPA sẽ góp phần thu hút đầu tư với chất lượng cao từ các nhà đầu tư EU và tạo cơ hội tốt cho nhà đầu tư Việt Nam tiếp cận thị trường EU. Điều này hoàn toàn phù hợp với định hướng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong thời gian tới. Theo đó, Việt Nam chủ trương chuyển hướng thu hút FDI từ số lượng sang chất lượng, ưu tiên các dự án có giá trị gia tăng cao, công nghệ tiên tiến, quản trị hiện đại, kết nối chuỗi cung ứng toàn cầu và có tác động lan tỏa, gắn kết hữu cơ với khu vực kinh tế trong nước, đồng thời phù hợp với quá trình cơ cấu lại nền kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng, năng suất và tính cạnh tranh của nền kinh tế, đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững, bảo vệ môi trường và công bằng xã hội.
Tuy nhiên, bên cạnh những cơ hội nêu trên, Việt Nam cũng đang đứng trước một số thách thức trong quá trình thực thi hiệp định, như: về thể chế, chính sách, cơ chế quản lý; hệ thống kết cấu hạ tầng, trình độ công nghệ và nguồn nhân lực; năng lực và sức cạnh tranh của các doanh nghiệp (DN) Việt Nam...
Do vậy, để hiện thực hóa những cơ hội và lợi ích từ việc thực thi các hiệp định này, Chính phủ đang chỉ đạo rà soát, hoàn thiện thể chế, chính sách đầu tư, kinh doanh, theo đó sẽ nghiên cứu, rà soát, đề xuất trình Quốc hội xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành một số đạo luật quan trọng như Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư, Luật Đất đai, Luật Xây dựng, Luật Bảo vệ môi trường, Bộ luật Lao động và một số luật về thuế... nhằm tiếp tục đơn giản hóa, tạo điều kiện thuận lợi cho việc gia nhập thị trường và thực hiện hoạt động đầu tư, thu hút khu vực tư nhân tham gia đầu tư kết cấu hạ tầng và dịch vụ công…
99% dòng thuế sẽ được xoá bỏ
Đánh giá cao kết quả ký kết ngày hôm nay, bà Cecilia Malmstrom - Cao uỷ Thương mại của EU nhắc đến câu nói của người Việt Nam "ăn quả nhớ kẻ trồng cây" để nói đến sự biết ơn về sự chuẩn bị chu đáo của các đối tác, đồng nghiệp Việt Nam trong quá trình hiện thực hoá các hiệp định.
Theo bà Cecilia Malmstrom, người tiêu dùng của cả hai bên sẽ nhận được nhiều lợi ích khi hiệp định xoá bỏ tới 99% dòng thuế, xoá bỏ chi phí, sự quan liêu mà DN, người dân phải đối mặt. Đặc biệt, trong hiệp định, cả hai bên đặc biệt quan tâm tới sự phát triển của DN nhỏ và vừa.
Bên cạnh đó, Cao uỷ Thương mại của EU cũng cho biết, đầu tư của EU vào Việt Nam còn khiêm tốn, do đó, bà hy vọng dòng vốn đầu tư của EU vào Việt Nam sẽ tăng cao hơn khi hiệp định được thực thi, nâng cao lòng tin của DN, đảm bảo sự bền vững trong hoạt động đầu tư của DN.
Bày tỏ hy vọng quá trình phê chuẩn từ Nghị viện EU và Quốc hội Việt Nam sẽ sớm hoàn tất, bà Cecilia Malmstrom cũng đánh giá các hiệp định sẽ là tín hiệu gửi ra thế giới khi xu hướng bảo hộ gia tăng khắp nơi. Trong bối cảnh EU hướng tới những người bạn châu Á và Việt Nam là nền kinh tế quan trọng trong ASEAN, việc thực thi các hiệp định sẽ là nền tảng quan trọng cho quan hệ giữa các bên và hội nhập trong khu vực.
Chứng kiến lễ ký kết, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cho rằng hôm nay là ngày đặc biệt mang ý nghĩa lịch sử trọng đại với Việt Nam và EU. Hai bên đã ký 2 hiệp định mở ra chân trời mới trong quan hệ hợp tác toàn diện, đáp ứng yêu cầu của người dân, DN hai bên. Thủ tướng cũng đánh giá cao sự ủng hộ quý báu của Rumani, nước chủ tịch luân phiên EU, đánh giá cao nỗ lực của các bộ, ban, ngành, các cơ quan trung ương, Quốc hội… phối hợp chặt chẽ các nước thành viên trong quá trình đàm phán để đi đến lễ ký kết ngày hôm nay.
Thủ tướng cũng cho biết, Việt Nam vui mừng hợp tác với EU, nền kinh tế hùng mạnh của thế giới. Trong bối cảnh xu thế bảo hộ thương mại toàn cầu đang nổi lên, hai nền kinh tế Việt Nam - EU mang tính bổ sung cho nhau, sẽ cùng hợp tác để phát triển. Sau lễ ký kết này, Việt Nam sẽ ban hành Chương trình hành động quốc gia, với nội dung chi tiết, cụ thể, sâu rộng, để triển khai nghiêm túc hiệp định./.
Ngày 26/6, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã ký Nghị định số 57/2019/NĐ-CP ban hành Biểu thuế xuất khẩu ưu đãi, Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam để thực hiện Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) giai đoạn từ ngày 14 tháng 01 năm 2019 đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2022.
Nghị định ban hành được áp dụng với 7 quốc gia bao gồm Mê-hi-cô, Nhật Bản, Xing-ga-po, Niu-zi-lân, Ca-na-đa và Úc là những quốc gia mà Hiệp định CPTPP đã có hiệu lực theo quy định về điều kiện để được hưởng thuế suất thuế xuất khẩu ưu đãi và thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt.
Theo quy định của Hiệp định CPTPP, 6 nước đầu tiên phê chuẩn Hiệp định có quyền thông báo với các nước phê chuẩn sau về thời điểm bắt đầu lộ trình cắt giảm thuế. Trên cơ sở quy định đó, 5 nước gồm Ô-xtơ-rây-lia, Ca-na-đa, Nhật Bản, Niu Di-lân, Xinh-ga-po thông báo áp dụng mức cắt giảm thuế lần thứ hai cho Việt Nam từ ngày 14/01/2019.
Đối với 5 nước này, Việt Nam cũng áp dụng mức cắt giảm thuế lần thứ hai từ ngày 14/01/2019. Mê-hi-cô thông báo áp dụng mức cắt giảm thuế lần thứ nhất cho Việt Nam từ ngày 14/01/2019, theo đó Việt Nam cũng áp dụng mức cắt giảm thuế lần thứ nhất từ ngày 14/01/2019. Việc áp dụng hai lộ trình riêng cho hai nhóm nước như trên đảm bảo tuân thủ cam kết và đảm bảo lợi ích cho Việt Nam.
Về thuế xuất khẩu ưu đãi thực hiện Hiệp định CPTPP, Biểu thuế xuất khẩu ưu đãi gồm 519 dòng thuế; các mặt hàng không thuộc Biểu thuế xuất khẩu ưu đãi này sẽ áp dụng thuế xuất khẩu ưu đãi 0% khi xuất khẩu sang lãnh thổ các nước thành viên mà Hiệp định CPTPP đã có hiệu lực.
Để được hưởng thuế suất thuế xuất khẩu ưu đãi, hàng hóa xuất khẩu phải có chứng từ vận tải và tờ khai nhập khẩu thể hiện đích đến thuộc lãnh thổ các nước thành viên mà Hiệp định CPTPP đã có hiệu lực.
Tại thời điểm làm thủ tục hải quan, người khai hải quan thực hiện khai tờ khai xuất khẩu, áp dụng thuế suất thuế xuất khẩu, tính thuế và nộp thuế theo Biểu thuế xuất khẩu theo Danh mục mặt hàng chịu thuế tại Nghị định số 125/2017/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 2017 của Chính phủ (Nghị định số 125/2017/NĐ-CP) sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 122/2016/NĐ-CP ngày 01 tháng 9 năm 2016 của Chính phủ về Biểu thuế xuất khẩu, Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi, Danh mục hàng hóa và mức thuế tuyệt đối, thuế hỗn hợp, thuế nhập khẩu ngoài hạn ngạch thuế quan và các văn bản sửa đổi, bổ sung.
Trong thời hạn 01 năm kể từ ngày đăng ký tờ khai xuất khẩu, người khai hải quan nộp bản chụp chứng từ vận tải và bản chụp tờ khai hải quan nhập khẩu và thực hiện khai bổ sung theo quy định của pháp luật hải quan để được áp dụng mức thuế suất thuế xuất khẩu ưu đãi theo Hiệp định CPTPP.
Cơ quan hải quan thực hiện kiểm tra hồ sơ, kiểm tra mức thuế suất thuế xuất khẩu ưu đãi, nếu hàng hóa xuất khẩu đáp ứng đủ các điều kiện quy định của Nghị định thì được áp dụng thuế suất thuế xuất khẩu ưu đãi theo Hiệp định CPTPP và thực hiện xử lý tiền thuế nộp thừa cho người khai hải quan theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.
Về thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt thực hiện Hiệp định CPTPP, Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt gồm 10.647 dòng thuế theo cấp độ 8 số và 350 dòng thuế được chi tiết theo cấp độ 10 số và Danh mục hàng hóa và thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt đối với xe ô tô đã qua sử dụng áp dụng hạn ngạch thuế quan để thực hiện Hiệp định CPTPP.
Hàng hóa nhập khẩu được áp dụng mức thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt theo Hiệp định CPTPP phải đáp ứng đủ các điều kiện là thuộc Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt hoặc Danh mục hàng hóa và thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt đối với xe ô tô đã qua sử dụng; được nhập khẩu vào Việt Nam từ các nước thành viên của Hiệp định CPTPP đã có hiệu lực bao gồm cả hàng hóa từ khu phi thuế quan nhập khẩu vào thị trường trong nước; được vận chuyển vào Việt Nam từ các nước thành viên của Hiệp định CPTPP đã có hiệu lực (trường hợp quá cảnh, chuyển tải thì phải đáp ứng điều kiện quá cảnh, chuyển tải theo quy định của Hiệp định CPTPP) và đáp ứng các quy định về xuất xứ hàng hóa và có chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hoá theo quy định của Hiệp định CPTPP.
Về thời điểm hiệu lực của Nghị định, do Hiệp định CPTPP có hiệu lực đối với Việt Nam từ ngày 14/01/2019 và Nghị định sẽ được Chính phủ ký ban hành sau ngày Hiệp định có hiệu lực, Nghị định có quy định cho giai đoạn từ ngày 14/01/2019 đến trước ngày Nghị định có hiệu lực thi hành; theo đó các tờ khai hải quan của các mặt hàng xuất khẩu, nhập khẩu đăng ký từ ngày 14 tháng 01 năm 2019 đến trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành, nếu đáp ứng đủ các điều kiện để được hưởng thuế xuất khẩu ưu đãi, thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt quy định tại Nghị định và đã nộp thuế theo mức thuế cao hơn thì được cơ quan hải quan xử lý tiền thuế nộp thừa theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.
Lộ trình
Dòng thuế về 0%
Ví dụ một số mặt hàng
I : 2019 đối với Mê hi cô
6.884
Một số loại gia cầm sống; cá tươi hoặc ướp lạnh; xơ sợi bông; một số loại than non, than bùn, than cốc; gạo nếp; một số loại trái cây như nhãn, me ...
II : 2019 đối với Ô-xtơ-rây-lia, Ca-na-đa,Nhật Bản, Niu Di-lân, Xinh-ga-po;
2020 đối với Mê hi cô
6.888
Một số loại trái cây như quả lê; quả anh đào
III : 2020 đối với Ô-xtơ-rây-lia, Ca-na-đa,Nhật Bản, Niu Di-lân, Xinh-ga-po;
2021 đối với Mê hi cô
6.996
Một số loại thịt của động vật trâu bò tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh; một số loại sữa và kem chưa pha thêm đường; một số loại quả thuộc chi cam quýt; máy bơm nước;
IV : 2021 đối với Ô-xtơ-rây-lia, Ca-na-đa,Nhật Bản, Niu Di-lân, Xinh-ga-po;
2022 đối với Mê hi cô
9.110
Cừu, dê sống; trứng chim và trứng gia cầm; cà chua; rau đậu; một số đồ nội thất bằng gỗ; ô tô đầu kéo dùng để kéo sơmi ro moóc có dung tích xi lanh không quá 1.100 cc
V : 2022 đối với Ô-xtơ-rây-lia, Ca-na-đa,Nhật Bản, Niu Di-lân, Xinh-ga-po
9.178
Phụ phẩm ăn được sau giết mổ của gia súc; dầu cây cải dầu; kẹo sô cô la; bơ lạc; nước sốt cà chua ....
H.Thọ
Thực hiện giai đoạn 1 chuyên án ME319, các đơn vị trực thuộc Cục Hải quan TP. Hồ Chí Minh vừa phối hợp với cơ quan chức năng bắt giữ hơn 14 kg ma túy dưới dạng quà biếu, quà tặng qua đường phát chuyển nhanh.
Chiều ngày 26/6, lãnh đạo Cục Hải quan TP. Hồ Chí Minh cho biết, trong 2 ngày 25 và 26/6, Đội Kiểm soát phòng, chống ma túy thuộc Cục Hải quan TP. Hồ Chí Minh đã chủ trì chuyên án, phối hợp với Chi cục Hải quan Chuyển phát nhanh, Đội 6 - Cục Điều tra chống buôn lậu của Tổng cục Hải quan và Phòng PC04 - Công an TP. Hồ Chí Minh, tiến hành kiểm tra 7 bưu kiện nhập khẩu.
Qua kiểm tra, đã phát hiện và bắt giữ hơn 14 kg ma túy tổng hợp gồm hơn 13 kg thuốc lắc (MDMA) dưới dạng viên nén và 1 kg loại ma túy cực mạnh Ketamine. 7 bưu kiện nêu trên được gửi từ Pháp, Đức, Thái Lan về TP. Hồ Chí Minh thông qua dịch vụ bưu chính quốc tế và chuyển phát nhanh, núp bóng dưới dạng quà biếu cá nhân phi mậu dịch.
Để qua mắt các cơ quan chức năng và trốn tránh trách nhiệm khi bị phát hiện, các đối tượng đã sử dụng thủ đoạn gửi hàng ghi tên người nhận và địa chỉ không có thật trên vận đơn và bưu kiện. Nếu trót lọt, sẽ tìm cách móc nối để nhận ma túy vì hàng hóa được gửi theo hình thức chuyển phát giao hàng theo yêu cầu của chủ hàng.
“Các đối tượng đã sử dụng thủ đoạn khá tinh vi để cất giấu số ma túy trên trong các kiện hàng như ép chặt trong các vách thùng carton bao bì, trong ruột máy hát đĩa, trong túi treo đồ bằng vải, dưới đáy máy lọc nước, trong ruột máy massage chân và trong ruột loa điện tử. Lực lượng kiểm tra vì thế phải tháo rời từng bộ phận máy hoặc cạy từng viên ma túy mới lấy ra được. Hiện tại, Cục Hải quan TP. Hồ Chí Minh đang mở rộng điều tra vụ việc” – lãnh đạo Cục Hải quan TP. Hồ Chí Minh cho hay./.
Các thành tựu của cách mạng công nghiệp 4.0 (CMCN 4.0) là tiền đề quan trọng trong việc nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm trong ngành Dệt May (DM), nếu ngành có sự chuẩn bị tốt để nắm bắt được làn sóng này.
Đây là chia sẻ của ông Lê Tiến Trường – Tổng giám đốc Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex) trong cuộc trao đổi với phóng viên TBTCVN.
PV: Thưa ông, cuộc CMCN 4.0 đang có những bước phát triển nhanh chóng và tác động đến nhiều ngành, lĩnh vực của Việt Nam. Đối với ngành DM, cuộc CMCN 4.0 đem lại những cơ hội như thế nào cho ngành, thưa ông?
Đối với ngành may, xu thế sử dụng robot hoặc các thiết bị tự động hóa cho các khâu kỹ thuật khó hoặc các bước công việc lặp đi lặp lại đang đượccác DN quan tâm...
Ông Lê Tiến Trường
Ông Lê Tiến Trường: Có thể nói, các thành tựu của CMCN 4.0 là tiền đề quan trọng trong việc nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm trong ngành DM. Đơn cử, nhà máy sợi theo mô hình 4.0 cho phép giảm tới 70% lao động và giảm năng lượng sử dụng tới 25%. Nhà máy dệt nhuộm 4.0 giúp giảm 30% lao động, giảm 50% lượng nước sử dụng cho nhuộm và 50% năng lượng tiêu hao.
Đặc biệt, đối với ngành may, xu thế sử dụng robot hoặc các thiết bị tự động hóa cho các khâu kỹ thuật khó hoặc các bước công việc lặp đi lặp lại đang được các doanh nghiệp (DN) quan tâm. Sử dụng robot trong khâu trải vải, cắt có thể giúp giảm tới 80% lao động, tiết kiệm được 3% nguyên vật liệu; trong các công đoạn khó như bổ túi, tra tay, vào cổ... sử dụng thiết bị, robot tự động sẽ làm giảm đáng kể số lao động, tăng chất lượng sản phẩm, giảm sự phụ thuộc vào lao động tay nghề cao.
Bên cạnh đó, trước xu thế phát triển của cuộc CMCN 4.0 với trình độ tự động hóa, robot hóa cao, cùng với việc internet kết nối vạn vật (IoT) được áp dụng trong quá trình sản xuất, lưu thông thì tất yếu lượng lao động cần thiết trên một đơn vị sản phẩm sẽ giảm mạnh. Như vậy, lợi thế về nhân công giá thấp – vốn là một lợi thế truyền thống để thúc đẩy tăng trưởng của ngành DM Việt Nam sẽ không còn. Thay vào đó, tăng trưởng của ngành DM Việt Nam sẽ phụ thuộc vào đơn giá lao động trên 1 sản phẩm. Nếu đầu tư công nghệ, xây dựng hệ thống quản lý sản xuất hợp lý, giúp nâng cao năng suất lao động thì vẫn có thể có đơn giá lao động trên một sản phẩm thấp, dù lương lao động cao.
Mặt khác, không thể tiếp tục xu thế tận dụng nhiều lao động. Cuộc CMCN 4.0 tạo cơ hội để ngành DM Việt Nam bứt phá, thoát ra khỏi bẫy dùng nhiều lao động nhưng lương không cao, lao động không ổn định.
Ngoài ra, xu thế của chuỗi cung ứng toàn cầu hiện nay quan tâm đến sản xuất sạch, sản xuất bền vững, bảo vệ môi trường, trách nhiệm xã hội… cũng đòi hỏi các DN DM phải đầu tư, đổi mới công nghệ một cách hợp lý để có thể tận dụng được tối ưu các nguồn lực…
PV: Bên cạnh những cơ hội, cuộc CMCN 4.0 đem đến những thách thức như thế nào cho ngành DM Việt Nam, thưa ông?
Ông Lê Tiến Trường: Như trên tôi đã phân tích, cơ hội của CMCN 4.0 đem lại cho ngành DM Việt Nam là rất rõ rệt, tuy nhiên, đầu tư công nghệ theo hướng 4.0 đòi hỏi vốn lớn, lãi phải trả cho chi phí đầu tư cao, khấu hao thiết bị cũng cao. Đây là khó khăn hàng đầu đối với các DN DM Việt Nam, vốn chủ yếu là các DN nhỏ và vừa, tiềm lực kinh tế thấp.
Bên cạnh bài toán công nghệ, một thách thức rất lớn khác đối với ngành thâm dụng lao động như DM đó chính là sự biến động dư thừa về lao động. Theo nhiều nghiên cứu của một số tổ chức trên thế giới dự báo, công nghệ tự động hóa có thể thay thế tới 47% việc làm, hay máy móc công nghệ hiện đại có thể thay thế 85% lao động DM của Việt Nam trong vài thập kỷ tới. Tỷ lệ này nếu chuyển thành con số tuyệt đối sẽ rất lớn, bởi DM chiếm tới gần 3 triệu lao động, trong đó khoảng 78% là lao động nữ.
Mặt khác, DM tập trung nhiều lao động ít kỹ năng (khoảng 17% chỉ có trình độ tiểu học) và một tỷ lệ đáng kể không còn trẻ, từ 36 tuổi trở lên (35,84%). Đây là nhóm không dễ dàng tìm được việc làm thay thế ở trong khu vực chính thức. Như vậy việc giải quyết lao động dư thừa như thế nào, kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu CMCN 4.0 ra sao cũng là bài toán lớn đối với ngành DM Việt Nam.
PV: Vậy để đón bắt xu thế của CMCN 4.0, theo ông, các DN trong ngành DM cần phải làm gì?
Ông Lê Tiến Trường: CMCN 4.0 là một diễn tiến tất yếu, mà Việt Nam không thể đứng ngoài. Nó mang lại nhiều cơ hội để thay đổi bộ mặt nền kinh tế đất nước nói chung, cũng như mang lại những kỳ vọng về sự thay đổi tích cực cho các DN DM Việt Nam nói riêng, nếu có sự chuẩn bị tốt để nắm bắt được làn sóng này. Theo đó, bản thân mỗi DN trong ngành cần chủ động hoạch định chiến lược của DN mình nhằm tận dụng những thành tựu của cuộc CMCN 4.0, cũng như giảm thiểu các thách thức.
Bên cạnh đó, ngành DM cũng cần có sự hỗ trợ mạnh mẽ từ Chính phủ, các bộ, ban, ngành. Chẳng hạn như Nhà nước có các chính sách lãi suất ưu đãi cho đầu tư công nghệ cao, hay việc quản lý nhà nước đối với lĩnh vực môi trường phải tuân thủ theo quy định của pháp luật, chứ không thể đưa ra chế tài cấm vì sợ ô nhiễm, nếu không sẽ rất khó có ngành sản xuất nguyên vật liệu cho DM.
Đặc biệt, các bộ, ban, ngành cần đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính. Năm 2003 chỉ có 15 thủ tục, hiện nay đã tăng tới 402 thủ tục. Chi phí thực hiện các thủ tục này tương đương một sắc thuế 22% (trong khi đó đối với các nước trong nhóm ASEAN 4 chỉ là 12%). Mặt khác, thời gian hoàn thành các thủ tục đối với hàng xuất khẩu, hàng nhập khẩu cũng còn cao hơn nhiều so với các nước trong nhóm ASEAN 4. Việc đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính sẽ tạo điều kiện thuận lợi rất nhiều cho các DN DM Việt Nam nâng cao sức cạnh tranh trong bối cảnh cạnh tranh trên thị trường quốc tế ngày càng gay gắt như hiện nay.
PV: Xin cảm ơn ông!
Tại Hội nghị trực tuyến thúc đẩy giải ngân nguồn vốn ODA và vay ưu đãi được tổ chức vào sáng ngày 26/6/2019 tại Bộ Tài chính, Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Xuân Hà cho biết tình hình phân bổ đầu tư công trung hạn chậm và phải thay đổi, điều chỉnh nhiều. Bên cạnh đó, dự toán từ vốn đầu tư của nguồn ODA chưa được triển khai kịp thời. Chính vì vậy nhiều dự án thiếu nguồn vốn để giải ngân. Trong thời gian tới sẽ phải sửa lại một số quy định cho phù hợp với tình hình mới. Chậm giải ngân do nhiều nguyên nhân
Trình bày tại Hội nghị về việc giải ngân chậm trong thời gian qua, Cục trưởng Cục Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại (QLN) Trương Hùng Long cho biết, trong 6 tháng đầu năm 2019, ước lũy kế giải ngân vốn nước ngoài dành cho cấp phát đầu tư phát triển được 2.050 tỷ đồng đạt 3,42% kế hoạch vốn Quốc hội giao (7,16% kế hoạch vốn do Bộ KH&ĐT giao); Chi thường xuyên: 833 tỷ đồng đạt 17,85% dự toán Quốc hội phê duyệt; Cho vay lại đối với chính quyền địa phương: khoảng 216 tỷ đồng, đạt 1,26% kế hoạch. Doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp công: 7.664 tỷ đồng đạt 29,22% hạn mức giải ngân cho vay lại. Tình hình trên cho thấy, tiến độ giải ngân trong 6 tháng đầu năm 2019 là rất chậm, đòi hỏi phải có các biện pháp nhằm tháo gỡ khó khăn vướng mắc để thúc đẩy giải ngân theo kế hoạch được Quốc hội và Chính phủ giao.
Thứ trưởng Trần Xuân Hà cho biết Bộ Tài chính sẽ báo cáo Thủ tướng Chính phủ về các ý kiến góp ý tại Hội nghị trực tuyến
Sở dĩ việc bố trí kế hoạch vốn đầu tư công trung hạn chậm là do nhiều nguyên nhân, trong đó có các nguyên nhân do kế hoạch đầu tư công trung hạn bố trí thiếu so với nhu cầu; Kế hoạch đầu tư công 2019 phân bổ chậm; Điều chỉnh kế hoạch vốn đầu tư công chậm;
Ông Long cho biết, qua theo dõi, Bộ Tài chính nhận thấy việc chuẩn bị các thủ tục đầu tư của dự án thường kéo dài, trong một số trường hợp việc chuẩn bị đầu tư kéo dài dẫn đến thời gian triển khai dự án là không đủ và chủ dự án buộc phải làm thủ tục xin gia hạn thời gian thực hiện dự án. Từ đầu năm đến nay, đã có 37 Hiệp định vay đã phải làm thủ tục gia hạn với nhà tài trợ.
Bên cạnh đó, mọi thay đổi về quy mô, phạm vi, nội dung và sử dụng vốn dư đều cần phải thực hiện thủ tục điều chỉnh chủ trương đầu tư dẫn đến kéo dài thời gian thực hiện dự án. Số dự án phải làm thủ tục điều chỉnh chủ trương đầu tư trong nửa đầu năm 2019 là 26 chương trình, dự án. Điển hình là các dự án đường sắt đô thị với tổng vốn đã ký kết gần 4,5 tỷ USD trong đó 4/7 dự án đang trong giai đoạn thực hiện điều chỉnh tổng mức đầu tư. Việc bố trí nguồn vào giải ngân cho các dự án này đến nay vẫn đang đình trệ. Để có thể nhanh chóng ký kết dự án, nhiều bộ ngành và địa phương đã cam kết bố trí đủ vốn đối ứng để thực hiện dự án. Tuy nhiên, trên thực tế có rất nhiều dự án chưa được bố trí hoặc bố trí không đủ vốn đối ứng dẫn đến việc triển khai các dự án là rất chậm. Trong nhiều trường hợp, các dự án mặc dù được bố trí đủ kế hoạch vốn nhưng công tác triển khai rất chậm. Điều này cho thấy, công tác chuẩn bị dự án còn nhiều bất cập. Đặc biệt là các vấn đề liên quan đến tư vấn thiết kế dự án, việc triển khai công tác giải phóng mặt bằng, tái định cư... thường là nguyên nhân chính dẫn đến việc chậm triển khai dự án (Dự án nâng cấp Quốc lộ 217 vay vốn ADB; Dự án Y tế tuyến tỉnh vốn vay KFW).
Về thủ tục cho vay lại, đại diện Cục QLN cho biết cũng còn nhiều vướng mắc. Cụ thể, theo quy định của Luật Quản lý nợ công, việc cho vay lại theo cơ chế cơ quan cho vay lại không chịu rủi ro tín dụng chủ yếu được thực hiện qua Ngân hàng Phát triển Việt Nam (NHPTVN). Tuy nhiên, công tác thẩm định tài chính, thẩm định tài sản đảm bảo, ký kết và quản lý hợp đồng ủy quyền cho vay lại thường chậm. Ví dụ: Dự án khoản vay truyền tải điện 3 vay vốn ADB, Dự án nâng cao chất lượng đại học vay vốn WB...
Vướng mắc khi thẩm định cho vay lại địa phương chủ yếu do các địa phương không đáp ứng được các điều kiện được vay lại nguồn vốn ODA và vay ưu đãi của Chính phủ như: Dự án chưa có kế hoạch đầu tư công trung hạn vốn Ngân sách Trung ương được giao trong giai đoạn thực hiện (Thẩm định dự án của 18 tỉnh thì có 16 tỉnh không có kế hoạch đầu tư công trung hạn); Địa phương có nợ vay lại vốn vay ODA, vay ưu đãi nước ngoài quá hạn trên 180 ngày (có 2/18 tỉnh);
Giải pháp nào hữu hiệu?
Việc chậm trễ tiến độ giải ngân niên độ 2019 là mối quan tâm lớn của Quốc hội, Chính phủ, các cơ quan chủ quản, chủ dự án cũng như của các nhà tài trợ. Ngày 17/6 vừa qua, Ban Chỉ đạo Quốc gia ODA và vốn vay ưu đãi cũng đã họp với nhóm 6 đối tác phát triển (WB, ADB, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đức, và Pháp) về chủ đề này.
Tại Hội nghị trực tuyến, các đại biểu đại diện các Bộ, ngành như: Bộ Tài chính, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Y tế, UBND TP. Hà Nội, UBND TP. Hồ Chí Minh, Hà Tĩnh, Cần Thơ… và đặc biệt là khuyến nghị của 6 Ngân hàng phát triển (ADB,AFD, JICA, K-EXIM, KFW, WB) đã có nhiều khuyến nghị cũng như giải pháp để thúc đẩy giải ngân nguồn vốn ODA và vay ưu đãi.
Xuất phát từ tình hình trên, Bộ Tài chính đề xuất triển khai các giải pháp như sau: Bộ Tài chính kiến nghị Chính phủ giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư khẩn trương phối hợp với các Bộ ngành có liên quan để xây dựng Nghị định mới về quản lý vốn ODA và vay ưu đãi theo hướng thông thoáng hơn; đơn giản hóa quy trình bổ sung kế hoạch vốn hàng năm; đơn giản hóa cơ chế điều chỉnh, điều chuyển kế hoạch vốn cũng như cơ chế hạch toán và chuyển nguồn đối với vốn vay ODA, vay ưu đãi; Đề nghị Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với Bộ ngành và địa phương rà soát tổng thể việc thực hiện kế hoạch đầu tư công trung hạn đến 2020 để kịp thời điều chỉnh và phân bổ vốn cho các dự án đang thiếu vốn nhằm đảm bảo hoàn thành việc giải ngân nguồn vốn đầu tư công trung hạn đã được Quốc hội và Thủ tướng Chính phủ giao trong giai đoạn 2016-2020; Nhằm thúc đẩy nhiệm vụ giải ngân nguồn vốn ODA và vay ưu đãi, Bộ Tài chính kiến nghị Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị về đẩy nhanh tiến độ giải ngân nguồn vốn ODA và vay ưu đãi của Chính phủ cho 6 tháng cuối năm 2019.
Ông Trương Hùng Long – Cục trưởng Cục Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại đề xuất các giải pháp tổng thể và chi tiết cho các vấn đề cần tháo gỡ
Riêng Bộ Tài chính sẽ thực hiện việc đánh giá 1 năm triển khai Luật quản lý nợ công, Bộ Tài chính sẽ đồng thời rà soát và đánh giá lại các Nghị định hướng dẫn Luật Quản lý nợ công trong đó có Nghị định số 97/2018/NĐ-CP về cho vay lại nguồn vốn vay nước ngoài của Chính phủ; Ban hành và tổ chức phổ biển thông tư thay thế Thông tư số 111/2016/TT-BTC về hướng dẫn quản lý tài chính đối với chương trình, dự án sử dụng nguồn vốn ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài; Về Chỉ thị của Thủ tướng chính phủ tăng cường quản lý, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay ODA và vay ưu đãi nước ngoài trong tình hình mới cho chi đầu tư phát triển không vay cho chi thường xuyên, Bộ Tài chính sẽ tổ chức triển khai ngay sau khi Thủ tướng Chính phủ ban hành;Kho bạc nhà nước nhanh chóng triển khai Nghị định về thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực Kho bạc nhà nước ngay sau khi Chính phủ ký ban hành; Tiếp tục rà soát quy trình kiểm soát chi, xử lý đơn rút vốn tại Bộ Tài chính, KBNN để đảm bảo đúng thời hạn quy định; không để tồn đọng hồ sơ mà không có lý do; đôn đốc chủ đầu tư làm thủ tục kiểm soát chi trong 04 ngày kể từ khi có khối lượng hoàn thành, không để tồn đọng đến cuối năm.
Ông Eric Sidgwick – Giám đốc Quốc gia Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tại Việt Nam đại diện cho 6 Ngân hàng phát triển cho rằng: Tiến độ giải ngân các dự án ODA chậm, không chỉ các khoản vốn ODA mà ngay cả ngân sách của Nhà nước cũng chậm, gây tác động không tích cực tới phát triển. Các cổ đông của 6 nhà tài trợ tỏ ra quan ngại về việc các dự án phải được giải ngân nhanh, để đưa ra các mặt tích cực về phát triển. “Thời gian trước, Việt Nam có tốc độ giải ngân nhanh và đạt được nhiều thành tựu, tuy nhiên, trong mấy năm qua tốc độ bị chậm lại, trung bình chỉ bằng ½ so với giai đoạn trước và ½ so với các quốc gia khác đang nhận tài trợ của chúng tôi. Tình hình giải ngân xấu đi kể từ năm 2014, tỷ lệ giải ngân năm 2018 chỉ ở mức 11,2%. Chênh lệch giải ngân năm 2018 khoảng 1,8 tỷ USD (gần 0,75% GDP). Dựa trên khảo sát tại 81 đơn vị thực hiện dự án vào quý I/2019 cho thấy có 5 vấn đề lớn ảnh hưởng đến thực hiện dự án và có 4 vấn đề lớn ảnh hưởng đến giải ngân. Đây là vấn đề quan ngại lớn”-ông Eric Sidgwick bày tỏ lo ngại. Giám đốc Quốc gia ADB tại Việt Nam cũng cho biết thêm, các nhà tài trợ đã trao đổi với ủy ban quản lý vốn ODA của Việt Nam và Bộ Tài chính. Và Ủy ban thường trực ODA đã có một vài khuyến nghị cho từng vấn đề đang vướng mắc như:
Ông Eric Sidgwick – Giám đốc Quốc gia ADB tại Việt Nam
Đối với vướng mắc về thủ tục của Chính phủ: Cần chỉ đạo Bộ Kế hoạch và đầu tư phối hợp với Bộ Tài chính và các đối tác phát triển để sửa đổi Nghị định 132/16 hiện hành để đảm bảo sự thống nhất và rõ ràng về vai trò và trách nhiệm của các cơ quan tham gia khác nhau, cần đơn giản hóa các thủ tục và giảm số lượng các bước phê duyệt để phân cấp nhiều hơn đến mức tối đa. Chủ tịch nước có thể xem xét ủy quyền cho Chính phủ, hoặc Thủ tướng Chính phủ ủy quyền cho cấp thấp hơn, tương xứng với mức độ thay đổi. Bên cạnh đó, các cơ quan liên quan đến quản lý ODA cần tăng cường phối hợp, tăng cường giám sát và đánh giá với trọng tâm là quy trình đạt hiệu quả và thực hiện đào tạo, bồi dưỡng về các quy định pháp luật mới.
Đối với tính sẵn sàng của dự án: Chính phủ cần giải thích linh hoạt hơn về quy định “xác định được nguồn vốn” trong Luật Đấu thầu. Trong trung hạn, Luật Đấu thầu có thể cần phải sửa đổi. Chủ đầu tư cần phân bổ vốn đối ứng để chuẩn bị thiết kế chi tiết và hồ sơ mời thầu trước khi phê duyệt khoản vay. Điều này có thể được làm rõ trong việc sửa đổi Nghị định 132/16. Ngoài ra, Chính phủ cần khuyến khích đấu thầu trước khi phê duyệt/ký thỏa thuận vay.
Đối với kế hoạch đầu tư công trung hạn (MTIP) cần đơn giản hóa các thủ tục, phê duyệt chủ trương đầu tư, đưa dự án vào MTIP và giao kế hoạch vốn hàng năm. Hàng năm cần cập nhật MTIP hoặc có thể là MTIP quay vòng. Chính phủ cần chỉ đạo Bộ Kế hoạch & Đầu tư và Bộ Tài chính tham vấn ý kiến của các đối tác phát triển khi xây dựng MTIP giai đoạn 2021 – 2025.
Đối với phân bổ ngân sách hàng năm cần giao kế hoạch vốn hàng năm phải được thực hiện vào tháng 1, bao gồm cả trong TABMIS và phù hợp với nhu cầu của Dự án. Tái phân bổ và phân bổ bổ sung vốn nhanh hơn, quy trình đơn giản hơn để phản ánh nhu cầu giải ngân của dự án. Thực hiện phê duyệt MTIP với quy trình một bước để phân bổ ngân sách hàng năm. Cần đảm bảo phê duyệt ngay toàn bộ kế hoạch ngân sách năm 2019 cho các dự án. Nội dung phân bổ vốn hỗ trợ ngân sách cần được làm rõ.
Đối với thủ tục và thẩm định cho vay lại: Bộ Tài chính chỉ tiến hành quy trình thẩm định đối với hoạt động cho vay lại một lần trong quá trình chuẩn bị Dự án. Bên cạnh đó, Bộ Tài chính cần tăng cường năng lực cho các tỉnh và các đơn vị sự nghiệp bằng cách ban hành hướng dẫn hoặc danh sách kiểm tra hồ sơ tài liệu cần thiết và thường xuyên tập huấn để đáp ứng các yêu cầu thẩm định. Việc thực hiện Nghị định 197 nên được áp dụng cho các dự án mới và các thỏa thuận đang được thực hiện phải được miễn áp dụng, hoặc ít nhất là áp dụng mà không làm gián đoạn các dự án đang được thực hiện. Bên cạnh đó, Bộ Tài chính cần chỉ đạo và hướng dẫn cơ quan cho vay lại với các nhiệm vụ và kế hoạch thời gian rõ ràng.
Đối với quy trình và yêu cầu giải ngân: Bộ Tài chính cần đưa ra định nghĩa rõ ràng về “chi thường xuyên” (trong Thông tư 111 sửa đổi); Bộ Tài chính cần xem xét nhu cầu giải ngân của Ban quản lý dự án và xem xét tăng trần biến đổi của Tài khoản đặc biệt từ 3 lên 6 tháng để đáp ứng kịp thời các tình huống trên thực tế trong quá trình thực hiện Dự án; Bộ Tài chính cần giảm thời gian xử lý các đơn rút vốn, sử dụng hoàn toàn giải ngân điện tử và đơn giản hóa các tài liệu cần thiết; Bộ Tư pháp cần đẩy nhanh quá trình ban hành các ý kiến pháp lý cần thiết.
Tại Hội nghị, các Bộ, ngành đều kiến nghị Bộ Kế hoạch & Đầu tư sớm báo cáo Thủ tướng Chính phủ sớm xem xét việc giao kế hoạch vốn trung hạn và hàng năm để các dự án sớm có nguồn vốn triển khai theo kế hoạch.
Ghi nhận những ý kiến đóng góp tại Hội nghị, Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Xuân Hà cho biết: Bộ Tài chính sẽ tiếp tục phối hợp với các Bộ, ngành để có báo cáo với Thủ tướng Chính phủ về nội dung của Hội nghị ngày hôm nay, trên cơ sở đó, sẽ có những chỉ đạo cần thiết. Hiện nay, Thủ tướng Chính phủ đã xem xét Chỉ thị của Thủ tướng công tác về vốn vay ODA và vay ưu đãi nước ngoài để tăng cường giải ngân, tăng cường hiệu quả vốn vay trong thời gian tới.
Thứ trưởng Bộ Giao thông vận tải Nguyễn Ngọc Đông cho biết Bộ GTVT sẽ tiếp tục quyết liệt chỉ đạo các chủ đầu tư, ban quản lý dự án phối hợp chặt chẽ với các địa phương trong công tác GPMB, đẩy nhanh tiến độ thực hiện, đẩy mạnh công tác nghiệm thu, thanh toán để đảm bảo giải ngân hết kế hoạch giao của từng dự án
Đại diện UBND TP. Hà Nội cho biết, UBND TP. Hà Nội đã có Văn bản số 2235/UBND-KH&ĐT ngày 30/5/2019 đề nghị Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì phối hợp với Bộ Tài chính báo cáo, đề xuất với Thủ tướng Chính phủ cho phép thành phố Hà Nội được áp dụng cơ chế giải ngân các dự án ODA của TP. Hà Nội theo tiến độ thực hiện và tiến độ cấp vốn của nhà tài trợ nước ngoài theo quy định tại Khoản 2 – Điều 76 của Luật Đầu tư công.
KIM CHUNG
Không chỉ tăng cường huy động vốn trong nước, các ngân hàng trong hai năm trở lại đây còn tích cực tìm kiếm nguồn vốn ngoại tệ từ nước ngoài. Đâu là động lực dẫn dắt xu hướng này và liệu có rủi ro nào đối với các ngân hàng từ chiến lược trên?
Làn sóng tìm vốn ngoại tệ nước ngoài
Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) mới đây thông báo lấy ý kiến cổ đông bằng văn bản về việc phát hành và niêm yết trái phiếu quốc tế. Theo đó, phương án 1 sẽ phát hành 1 tỉ đô la Mỹ trái phiếu kỳ hạn 3-5 năm trong năm nay và năm 2020, phương án 2 phát hành 120 triệu đô la trái phiếu doanh nghiệp xanh kỳ hạn ba năm với mục đích tài trợ cho danh mục xanh/khoản vay đáp ứng tiêu chí xanh.
Vào đầu tháng 6 này, Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TPBank) cũng lên kế hoạch phát hành 200 triệu đô la trái phiếu quốc tế, với thời gian phát hành dự kiến từ ngày 28-6 đến 12-7-2019. Hay như trước đó vào cuối tháng 9-2018, HDBank cũng đã xin ý kiến cổ đông về việc phát hành 300 triệu đô la trái phiếu chuyển đổi kỳ hạn 5 năm 1 ngày với lãi suất cố định cho dưới 100 nhà đầu tư.
Không chỉ phát hành trái phiếu ngoại tệ, các ngân hàng còn tích cực tìm kiếm vốn nước ngoài thông qua các hợp đồng tín dụng hay tài trợ thương mại trong hai năm trở lại đây. Đơn cử như vào cuối tháng 8 năm ngoái, LienVietPostBank đã ký hợp đồng tín dụng trị giá 50 triệu đô la, kỳ hạn ba năm với JPMorgan Chase Bank, N.A., chi nhánh Singapore. Tiếp đến, vào tháng 9 cùng năm, đến lượt SHB ký kết khoản vay 20 triệu đô la với Ngân hàng Đầu tư quốc tế Nga (IIB) và 20 triệu euro với Ngân hàng Hợp tác kinh tế quốc tế Nga (IBEC).
Công ty Tài chính quốc tế (IFC) cũng là tên tuổi quen thuộc thường xuyên cung cấp các gói tài trợ thương mại hoặc cho vay ngoại tệ đối với các ngân hàng trong nước. Trong năm 2018, IFC đã cho OCB vay 100 triệu đô la, cho TPBank vay 100 triệu đô la sau khi đã rót 405 tỉ đồng vào TPBank để sở hữu 5% vốn của ngân hàng này từ năm 2016. Trước đó, trong năm 2017, ABBank cũng đã được nhận khoản vay hợp vốn 150 triệu đô la từ IFC và VIB nhận gói tài trợ 185 triệu từ IFC và ba ngân hàng ngoại với kỳ hạn năm năm.
Nhận diện rủi ro
Việc phát hành trái phiếu kỳ hạn dài đầu tiên sẽ nhằm mục tiêu tăng vốn tự có và cải thiện hệ số an toàn vốn (CAR). Theo quy định hiện tại, các giấy tờ có giá (GTCG) kỳ hạn từ năm năm trở lên sẽ được tính vào vốn cấp 2 của tổ chức tín dụng (TCTD). Do đó, thời gian qua các ngân hàng đã tích cực phát hành trái phiếu bằng tiền đồng cũng như ngoại tệ, như ACB gần đây đã phát hành 2.500 tỉ đồng trái phiếu kỳ hạn ba năm, VietinBank muốn phát hành 10.000 tỉ đồng trái phiếu trong năm nay.
Nếu như phát hành trái phiếu bằng nội tệ thường đòi hỏi lãi suất phải đủ cao để thu hút nhà đầu tư, do phải đảm bảo bù được lạm phát và hấp dẫn hơn lãi suất tiền gửi tiết kiệm kỳ hạn 12 tháng trở lên, thì phát hành trái phiếu ngoại tệ có thể được lãi suất “dễ chịu” hơn, từ đó tiết giảm chi phí tài chính cho các TCTD. Đối với các trái phiếu hoặc khoản vay có lãi suất thả nổi, với việc Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) được dự báo sẽ giảm lãi suất trở lại trong thời gian tới, thì rủi ro lãi suất hiện nay đã giảm đáng kể so với những năm trước.
Đáng lưu ý là đối với các khoản vay ngoại tệ, ngoài rủi ro lãi suất, rủi ro tỷ giá cũng quan trọng không kém, do các ngân hàng thường chuyển phần lớn nguồn vốn ngoại tệ này sang tiền đồng để cho vay nhằm có được biên độ lãi suất cao hơn, với điều kiện mức độ phá giá tiền đồng phải thấp hơn lợi ích đạt được từ việc chuyển đổi này. Cụ thể nếu ngân hàng bán ngoại tệ lấy tiền đồng cho vay với lãi suất cao hơn 4%/năm so với cho vay ngoại tệ, thì mức độ mất giá của tiền đồng so với đô la Mỹ phải dưới mức tối thiểu 4%, nếu không sẽ bị thiệt hại.
Trong những năm qua, tỷ giá đô la Mỹ/tiền đồng trong nước được kiểm soát khá ổn định, theo đó mức độ phá giá trên thị trường chính thức mỗi năm không quá 2%. Đây là điều kiện quan trọng để các doanh nghiệp cũng như ngân hàng mạnh dạn vay đô la Mỹ từ thị trường quốc tế. Diễn biến tỷ giá trong những năm gần đây cũng có thể dự báo được, khi nhà điều hành có những cam kết và chính sách can thiệp khi cần thiết.
Với triển vọng nguồn cung ngoại tệ từ dòng vốn đầu tư nước ngoài, kiều hối tiếp tục dồi dào, thì tiền đồng được dự báo sẽ tiếp tục xu hướng ổn định so với đô la Mỹ, nhất là khi đồng đô la Mỹ trên thị trường quốc tế đang có dấu hiệu đi xuống trở lại sau khi Fed bày tỏ khả năng đảo ngược chính sách.
Ngoài mục tiêu tăng vốn tự có, việc tìm kiếm nguồn vốn ngoại tệ kỳ hạn dài còn giúp các ngân hàng tăng được nguồn vốn trung và dài hạn, đảm bảo cho mục tiêu phát triển kinh doanh trong giai đoạn kế tiếp, nhất là trong bối cảnh nguồn lực tài chính của các nhà đầu tư trong nước vẫn còn hạn chế. Tỷ lệ sử dụng nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn dự kiến sẽ tiếp tục giảm về 30% trong giai đoạn 2021-2022, do đó nhu cầu vốn trung và dài hạn của các ngân hàng vẫn rất cấp thiết. Với những ngân hàng có thế mạnh về bán lẻ, cho vay tiêu dùng thì nhu cầu vốn trung và dài hạn là rất lớn.
Mặt khác, từ khi nhà điều hành đưa trần lãi suất huy động đô la Mỹ về 0% từ cuối năm 2015, nguồn vốn huy động ngoại tệ tại các ngân hàng sụt giảm, hoặc có xu hướng chảy về những ngân hàng lớn có thế mạnh về ngoại tệ như Vietcombank. Trong khi đó, nhu cầu vay ngoại tệ tại các ngân hàng vẫn rất lớn. Do đó, các ngân hàng nếu không có nguồn vốn ngoại tệ thì sẽ mất dần thị phần ở nhóm các doanh nghiệp xuất nhập khẩu.
Như tại VPBank, tiền gửi của khách hàng bằng ngoại tệ quy đổi sang tiền đồng đến cuối quí 1-2019 là gần 4.970 tỉ đồng, trong khi dư nợ cho vay khách hàng là gần 6.790 tỉ đồng. Đáng lưu ý là nếu so với cuối năm 2018, trong khi tiền gửi khách hàng bằng ngoại tệ giảm 15% thì dư nợ cho vay ngoại tệ lại tăng mạnh 41%. Còn nếu so với thời điểm cuối năm 2015, tiền gửi khách hàng bằng ngoại tệ của ngân hàng này cũng đã giảm đến 57%, theo xu hướng chung của cả thị trường.
Nói tóm lại, trong bối cảnh rủi ro lãi suất ngoại tệ và tỷ giá đô la Mỹ/tiền đồng hiện nay cũng như giai đoạn tới đã giảm xuống đáng kể, trong khi nhu cầu tăng vốn tự có, vốn trung và dài hạn của các ngân hàng vẫn tiếp tục rất lớn, nhưng nguồn lực tài chính trong nước có những hạn chế nhất định, thì con đường tìm kiếm vốn ngoại tệ ở nước ngoài dường như là chiến lược phù hợp nhất hiện nay.
Thụy Lê
Mới đây, MSCI thông báo sẽ chính thức nâng bậc xếp hạng của chỉ số MSCI Kuwait Index lên thị trường mới nổi, tùy theo việc cấu trúc của tài khoản tổng (omnibus account) và khả năng giao dịch chéo theo Mã số Nhà đầu tư Quốc gia (NIN) có được cung cấp cho nhà đầu tư tổ chức nước ngoài trước khi kết thúc tháng 11/2019 hay không. MSCI sẽ đưa ra quyết định cuối cùng vào ngày 31/12/2019.
>>>Xem thêm THÀNH LẬP CÔNG TY TẠI ĐÀ NẴNG<<
Hiện tại, tỷ trọng của Kuwait trong quỹ iShare MSCI Frontier 100 ETF đang là hơn 25% và kế đó là Việt Nam với tỷ trọng hơn 15%. Khi Kuwait được nâng hạng, tỷ trọng của Kuwait trong rổ thị trường cận biên sẽ trở về mức 0% và nhờ đó, tỷ trọng của Việt Nam trong danh mục sẽ tăng rất mạnh.
Ngoài ra, cũng có một yếu tố tác động tới danh mục của thị trường cận biên là khả năng Iceland được phân loại lại từ “thị trường độc lập” sang “thị trường cận biên”.
Tại đợt review lần này, với việc Kuwait được nâng hạng và Iceland có khả năng chuyển sang “thị trường cận biên”, MSCI cũng đưa ra một bảng mô phỏng tác động của việc này tới danh mục MSCI Frontier Markets 100 Index.
Như thể hiện ở bảng trên, tỷ trọng Việt Nam được tăng mạnh từ 15% lên 30% và số lượng cổ phiếu Việt tăng từ 28 lên 29 cổ phiếu.
Ngoài ra, MSCI cũng có đưa ra mô phỏng về top 10 cổ phiếu thành phần trong danh mục MSCI Frontier Markets 100 Index. Trong đó, có sự góp mặt của 3 cổ phiếu Việt Nam là VIC (5.6%), VNM (5%) và VHM (3.5%). Tại dữ liệu ngày ngày 24/06, 3 cổ phiếu Việt này có tỷ trọng trong iShares MSCI Frontier 100 ETF – quỹ bám theo chỉ số MSCI Frontier Markets 100 – lần lượt là 3.08%, 2.75% và 1.77%.
Kuwait được nâng hạng, Việt Nam được gì?
Trong trường hợp Kuwait được nâng hạng lên thị trường mới nổi, CTCK Rồng Việt (VDS) dự báo tỷ trọng của Việt Nam sẽ được tăng lên trong MSCI Frontier Market Index và MSCI Frontier Market 100 Index với tỷ lệ lần lượt là 25.8% và 30%. Trong đó, chỉ riêng quỹ bị động Ishares MSCI Frontier 100 ETF cũng có thể đầu tư thêm 65 triệu USD vào Việt Nam. Tiềm năng của các quỹ chủ động còn lớn hơn thế khi có ít nhất 3 tỷ USD đang "theo dõi" chỉ số MSCI Frontier Market Index. Trong đó có 800 triệu USD đang đầu tư vào Kuwait và Argentina.
Theo ông Lê Hoàng Phương, nếu Kuwait được MSCI chính thức nâng hạng lên thị trường mới nổi vào tháng 6/2019, tỷ trọng của Việt Nam trong rổ MSCI Frontier Markets 100 Index có thể tăng lên mức 30% và trong rổ MSCI Frontier Markets Index có thể tăng lên mức 25%. Theo đó, Việt Nam có thể sẽ thu hút khoảng 250 triệu USD đổ vào thị trường chứng khoán.
Theo khảo sát của BVSC, hiện tại có 10 quỹ lớn đang đầu tư vào thị trường chứng khoán Việt Nam sử dụng MSCI Frontier Markets 100 Index hoặc MSCI Frontier Markets để làm tracking index hoặc làm benchmark. Trong đó chỉ có duy nhất iShare MSCI Frontier Markets 100 ETF là quỹ ETF – quỹ đầu tư thụ động và cũng là là quỹ duy nhất trong 10 quỹ bám sát theo MSCI Frontier Markets 100 Index.
Điều gì cần lưu ý?
Ông Phương lưu ý rằng, nếu Kuwait được công bố nâng hạng trong kỳ review tháng 6/2019 thì nhanh nhất là đến tháng 5/2020 thì Kuwait mới chính thức rời khỏi rổ cổ phiếu của MSCI Frontier Markets 100 và MSCI Frontier Markets Index. Do vậy, phải đến khoảng thời gian đó iShare MSCI Frontier Markets 100 ETF mới rót thêm vốn vào thị trường chứng khoán Việt Nam. Tuy nhiên, đối với các quỹ chủ động, có thể dòng tiền sẽ chảy vào thị trường Việt Nam sớm hơn thời điểm Kuwait chính thức rời MSCI Frontier Markets 100 và MSCI Frontier Markets Index.
Chỉ số MSCI Frontier Market được xây dựng nhằm mục đích bám sát thay đổi của các nhóm cổ phiếu vốn hóa lớn mà nhà đầu tư nước ngoài có thể giao dịch được (investable). Do đó, ông Đào Phước Toàn Trưởng phòng Nghiên cứu của Bien An Toan Capital, cho rằng khi nhìn vào dòng tiền mô phỏng chỉ số thì sẽ thấy hiệu ứng giao dịch của khối ngoại rõ nhất ở các cổ phiếu vốn hóa lớn, có room ngoại trên 10%, tỷ lệ free-float cũng trên 10% và thanh khoản cao. Điển hình là các mã như VNM, VIC, VHM, MSN, HPG, VCB, POW, VJC…
Tuấn Kiệt
Nhà đầu tư Việt lại thêm một lần hụt hẫng khi Morgan Stanley Capital International (MSCI) vẫn chưa thêm thị trường chứng khoán Việt Nam vào danh sách theo dõi nâng hạng lên thị trường mới nổi.
Vào rạng sáng ngày thứ Tư (26/06), MSCI đã công bố kết quả phân loại thị trường định kỳ dành cho 84 thị trường chứng khoán trên thế giới. Theo kết quả vừa công bố, Việt Nam lại lỡ hẹn với danh sách xem xét để được nâng hạng từ thị trường cận biên (frontier market) sang thị trường mới nổi (emerging market).
Nhà đầu tư có thể không khỏi thất vọng với kết quả như thế này vì trước đó, trong một hội nghị đầu tư tại TP.HCM vào tháng 10/2018, ông Valentin Laiseca – Phụ trách thị trường Đông Nam Á của MSCI – dự báo, với trường hợp tốt nhất thì Việt Nam có thể được vào danh sách xem xét vào tháng 6/2019 và năm 2020 được nâng hạng lên thị trường mới nổi.
Tuy vậy, kịch bản Việt Nam chưa được thêm vào danh sách theo dõi nâng hạng đã được nhiều chuyên gia dự báo từ trước.
CTCP Chứng khoán Rồng Việt (HOSE: VDS) và ông Lê Hoàng Phương, Chuyên viên Vĩ Mô và Chiến lược Thị Trường của CTCP Chứng Khoán Bảo Việt (BVSC), cho biết khả năng Việt Nam được vào danh sách theo dõi trong năm nay hoặc được nâng hạng trong năm 2020 là rất thấp.
Theo VDS, các nhà đầu tư đang kỳ vọng luật chứng khoán sửa đổi sẽ là nền tảng để chứng chỉ lưu ký không có quyền biểu quyết (NVDR) ra đời, công cụ mà các nhà quản lý hy vọng giải quyết bài toán giới hạn sở hữu nước ngoài – một trong những trở ngại trên con đường nâng hạng của thị trường chứng khoán Việt Nam.
Thêm vào đó, giới hạn sở hữu nước ngoài chỉ là một trong những vướng mắc của Việt Nam. Trong 9 tiêu chí mà Việt Nam chưa đạt trong kỳ đánh giá năm 2018, có tới 6 tiêu chí không liên quan đến giới hạn sở hữu nước ngoài. Điều này cho thấy thị trường Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế.
Ông Lê Hoàng Phương, Chuyên viên Vĩ Mô và Chiến lược Thị Trường của CTCP Chứng Khoán Bảo Việt (BVSC), cũng chỉ ra hai trở ngại trong quá trình xem xét nâng hạng. Thứ nhất, Việt Nam cần phải thiết lập một trung tâm thanh toán bù trừ riêng biệt và độc lập. Hiện tại, chức năng này đang được Trung tâm lưu ký chứng khoán đảm nhiệm.
Theo Dự thảo Luật Chứng khoán sửa đổi, sau khi luật được Quốc hội thông qua, thì trung tâm lưu ký chứng khoán sẽ được tái tổ chức lại theo mô hình công ty mẹ-con. Trong đó sẽ thành lập Tổng công ty Lưu ký và Thanh Toán bù trừ Việt Nam, trong đó có 2 công ty thành viên là Trung tâm lưu ký chứng khoán Việt Nam và Trung tâm thanh toán bù trừ Việt Nam. Điều này được kỳ vọng sẽ khắc phục được thiếu sót này của thị trường chứng khoán Việt Nam.
Thứ hai là vấn đề liên quan đến giới hạn sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài, đồng thời đảm bảo tính nhanh gọn và đơn giản trong việc mở tài khoản của nhà đầu tư nước ngoài. Về vấn đề này, dự thảo Luật Chứng khoán sửa đổi có quy định tự động mở giới hạn sở hữu cho các doanh nghiệp không kinh doanh trong ngành nghề điều kiện lên 100%.
MSCI nâng hạng cho chứng khoán Kuwait
Đúng như kỳ vọng của thị trường, MSCI thông báo sẽ chính thức nâng bậc xếp hạng của chỉ số MSCI Kuwait Index lên thị trường mới nổi, tùy theo việc cấu trúc của tài khoản tổng (omnibus account) và khả năng giao dịch chéo theo Mã số Nhà đầu tư Quốc gia (NIN) có được cung cấp cho nhà đầu tư tổ chức nước ngoài trước khi kết thúc tháng 11/2019 hay không. MSCI sẽ đưa ra quyết định cuối cùng vào ngày 31/12/2019.
Việc Kuwait được MSCI thông báo nâng hạng lên thị trường mới nổi đã được các chuyên gia chứng khoán dự báo từ trước và cũng là một sự an ủi cho nhiều nhà đầu tư cho dù Việt Nam không được nâng hạng lên mới nổi, vì khi Kuwait được nâng hạng thì tỷ trọng cổ phiếu Việt trong rổ thị trường cận biên sẽ tăng rất mạnh.
“Dự án Phát triển Thị trường của Kuwait đã đặt ra lộ trình cho việc thực hiện liền mạch nhiều cải tiến về quy định và hoạt động trong thị trường chứng khoán Kuwait.
Những cải tiến này đã làm tăng đáng kể mức độ tiếp cận của thị trường vốn Kuwaiti dành cho các nhà đầu tư tổ chức quốc tế và từ đó, tạo ra những phản hồi tích cực từ các nhà đầu tư này về đề xuất phân loại lại bậc xếp hạng thị trường của chúng tôi”, ông Sebastien Lieblich, Trưởng phòng Giải pháp Công bằng Toàn cầu và là Chủ tịch của Ủy ban Chỉ số Công bằng tại MSCI, cho hay.
Ông Lieblich cho biết thêm: “Trong quá trình tham vấn, các nhà đầu tư tổ chức quốc tế nhấn mạnh sự quan trọng của cấu trúc tài khoản tổng và khả năng giao dịch chéo theo NIN để tránh sự mâu thuẫn trong quá trình đầu tư của họ. Chúng tôi hoan nghênh cam kết công khai của Cơ quan Thị trường Vốn Kuwait trong việc cung cấp các tính năng thị trường này vào tháng 11/2019. Chúng tôi sẽ giám sát chặt chẽ việc triển khai của họ trước khi đưa ra quyết định cuối cùng”.
Giả sử các tính năng thị trường được đề cập ở trên được triển khai trong tháng 11/2019, MSCI sẽ đưa chỉ số MSCI Kuwait vào MSCI Emerging Market Index trong một bước, trùng với đợt Đánh giá chỉ số bán niên vào tháng 5/2020. Điều này sẽ dẫn đến việc bao gồm 9 cổ phiếu Kuwait trong MSCI Emerging Market Index với tỷ trọng xấp xỉ 0.5%.
Ngoài ra, tại đợt review lần này, MSCI cũng khởi động quá trình tham vấn để phân loại lại chỉ số MSCI Iceland từ “thị trường độc lập” (Standalone Markets) sang “thị trường cận biên”. MSCI sẽ nhận các phản hồi từ các thành phần tham gia thị trường về đề xuất này trước ngày 31/10/2019 và sẽ công bố kết quả tham vấn vào hoặc trước ngày 29/11/2019.
Cuối cùng, MSCI thông báo nếu chỉ số MSCI Peru không thể đáp ứng yêu cầu về 3 thành phần bắt buộc cho rổ thị trường mới nổi, họ sẽ khởi động quá trình tham vấn để đưa chỉ số này từ “thị trường mới nổi” về “thị trường cận biên”.
Nhiều dự án điện mặt trời chạy đua phát điện trước ngày 30-6 để hưởng ưu đãi về giá điện, khiến cho việc vận hành hệ thống điện gặp khó, nhưng nếu chậm chân thì các dự án cũng gặp khó vì giá bán điện sẽ giảm mạnh...
Đây là những nội dung được các địa phương phát triển mạnh về năng lượng tái tạo, nhất là điện mặt trời, nêu ra tại hội thảo "Hiện trạng và tiềm năng phát triển các dự án năng lượng tái tạo tại một số tỉnh thành trọng điểm khu vực Nam Trung bộ và miền Nam", do Cục Ứng dụng và phát triển công nghệ phối hợp cùng các đơn vị tổ chức ngày 25-6.
Chạy đua đầu tư
Ông Đạo Văn Rớt - phó giám đốc Sở Công thương tỉnh Ninh Thuận - cho biết thời gian qua địa phương này đã thu hút được 19 dự án điện gió, với quy mô công suất lên đến hơn 1.000MW.
Trong số đó đã có 14 dự án được cấp quyết định đầu tư, 5 dự án đã khởi công và 3 dự án đang vận hành thương mại, với tổng công suất khoảng 117MW.
Ngoài ra, hiện có 54 dự án năng lượng mặt trời với tổng công suất khoảng 3.500MW đã được được địa phương này chấp thuận chủ trương để nhà đầu tư khảo sát, lập hồ sơ bổ sung vào quy hoạch phát triển điện quốc gia.
Đã có 31 dự án với tổng công suất 1.817 MW được cấp quyết định đầu tư, trong đó 10 dự án đã vận hành thương mại với tổng công suất 725 MW. Đến 30-6 sẽ có thêm 6 dự án nối lưới.
Ông Đỗ Minh Kính - giám đốc Sở Công thương tỉnh Bình Thuận - cũng cho biết trong số 20 dự án điện gió đăng ký, mới chỉ có 3 dự án đi vào hoạt động và 1 dự án đang thi công.
Ngoài ra, có đến 95 dự án điện mặt trời đăng ký đầu tư với tổng công suất hơn 6.000 MW, nhưng đến nay chỉ mới có 12 nhà máy điện mặt trời đưa vào hoạt động và 8 dự án dự kiến phát điện trong quý II.
Tại Tây Ninh cũng có 19 dự án điện mặt trời đang triển khai, trong đó 7 dự án sẽ đóng điện trước 30-6.
Bình Phước cũng đã trình 40 dự án với công suất 3.509 MWp nhưng chỉ có 5 dự án được Thủ tướng phê duyệt và 1 dự án được Bộ Công thương phê duyệt bổ sung quy hoạch, 20 dự án chưa được Bộ Công thương lấy ý kiến thẩm định.
Phải giảm phát điện lên lưới
Ông Đạo Văn Rớt cho biết phần lớn các dự án năng lượng tái tạo đều tập trung hoàn thành vào cuối tháng 5 và tháng 6 để kịp hưởng mức giá bán điện ưu đãi, khiến cho đơn vị quản lý và vận hành hệ thống điện gặp khó.
Nhiều dự án trên địa bàn phải giảm phát điện lên lưới, chưa kể nhiều dự án đã có thể phát điện nhưng không được cấp chứng nhận vận hành thương mại (COD), gây thiệt hại rất lớn cho nhà đầu tư .
Do đó, Ninh Thuận đề xuất cho phép các chủ dự án đầu tư hệ thống lưới điện truyền tải, sau đó chuyển giao lại cho EVN quản lý và khai thác, thay vì chỉ có EVN đầu tư hệ thống này.
Trong khi đó, theo ông Đỗ Minh Kính, nếu giá mua điện mặt trời giảm xuống mức thấp nhất (6,67 cent/kWh) từ sau ngày 30-6 theo dự thảo đã công bố, sẽ không khuyến khích nhà đầu tư khai thác tiềm năng điện mặt trời dù giá thành đã giảm so với trước đây.
Ngoài việc báo cáo Thủ tướng để được hưởng chính sách ưu đãi về giá đến hết năm 2020, Ninh Thuận cũng đề xuất ngành điện phối hợp với các nhà đầu tư nghiên cứu phương án đầu tư các công trình lưới điện bằng hình thức cho ngành điện ứng vốn hoặc cho mượn không tính lãi suất để xây dựng lưới điện.
Một số địa phương cũng kiến nghị Bộ Công thương sớm triển khai xây dựng hệ thống truyền tải phân vùng hợp lý.
Hàn Quốc khuyến khích phát triển năng lượng tái tạo
Tại hội thảo "Hệ thống chính sách và quy hoạch phát triển ngành năng lượng Việt Nam" diễn ra vào sáng cùng ngày, ông Seok Jai Choi (Cục Năng lượng Hàn Quốc) - cho biết Hàn Quốc đã khuyến khích lắp đặt pin mặt trời trên các công trình tư nhân như nhà riêng, cao ốc...
Theo đó, Chính phủ hỗ trợ 30% chi phí lắp đặt cho hộ gia đình. Ngoài ra, chính phủ nước này cũng sẽ hỗ trợ chi phí lắp đặt và bắt buộc lắp đặt, sử dụng năng lượng tái tạo ở các tòa nhà xây mới thuộc các cơ quan nhà nước.
Ngọc Hiển
Đó là nhận định của Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng tại Hội nghị trực tuyến “Thúc đẩy giải ngân nguồn vốn ODA và vay ưu đãi nước ngoài năm 2019” được Bộ Tài chính tổ chức sáng ngày 26/6.
Tham dự hội nghị có
Cùng đại diện Văn phòng Chính phủ, Bộ Y tế, Ngân hàng Phát triển Việt Nam, UBND một số tỉnh, thành và các tập đoàn và tổng công ty và các sở, ban, ngành và 62 điểm cầu tại Kho bạc Nhà nước các tỉnh, thành phố. Về phía đại biểu quốc tế có đại diện 6 nhà tài trợ là Giám đốc quốc gia của các ngân hàng và tổ chức tài chính quốc tế gồm: ADB, WB, AFD (Pháp), JICA (Nhật Bản), KFW (Đức), K-EXIM (Hàn Quốc).
Phát biểu khai mạc hội thảo, Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng cho biết, nếu năm 2018 là năm bản lề, thì 2019 là năm bứt phá để bảo đảm thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2016-2020.
Để đạt được mục tiêu đó, các cấp ngành, địa phương và Chính phủ đã có các nghị quyết, kế hoạch triển khai nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội, dự toán NSNN 2019.
Một trong những nhiệm vụ cơ bản đó là giải ngân nhanh, có hiệu quả nguồn vốn đầu tư công, bao gồm cả nguồn vốn ODA và vay ưu đãi nước ngoài. Đây là một trong những động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội trong trung và dài hạn.
Tuy nhiên, theo số liệu của Bộ Tài chính, số liệu giải ngân vốn ODA từ năm 2016 đều không đạt dự toán. Trong đó, riêng năm 2019 dự toán Quốc hội giao 60.000 tỷ đồng, trong đó đã giao 47.000 tỷ đồng; giải ngân 5 tháng mới đạt trên 1.000 tỷ đồng, bằng 5,6% kế hoạch Thủ tướng giao.
Đến hết tháng 5/2019, công tác giải ngân chưa đảm bảo giải ngân theo kế hoạch… Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng cho rằng đây là con số rất đáng báo động, cấp bách.
Cụ thể, trong kế hoạch vốn đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016-2020, nguồn vốn ODA và vay ưu đãi là 360.000 tỷ đồng. Tuy nhiên, đến năm 2019, con số giao từ dự toán ngân sách nhà nước giai đoạn 2016-2019 là 244.000 tỷ đồng, số còn lại chưa giao hơn 115.000 tỷ động và chỉ tương đương gần 70% kế hoạch điều chỉnh cả giải đoạn.
Năm 2016, dự toán Quốc hội giao là 50.000 tỷ đồng nhưng giải ngân chỉ được 42.000 tỷ đồng, đạt 81%; năm 2017 dự toán 74.000 tỷ đồng, giải ngân đạt 56.000 tỷ đồng, đạt 74% dự toán; năm 2018, dự toán là 60.000 tỷ đồng, giải ngân 32.000 tỷ đồng giải ngân 53%. Lũy kế hết tháng 5, chưa giải ngân so với kế hoạch ban đầu 166.000 tỷ đồng.
Theo Bộ trưởng, nhằm hỗ trợ giải ngân ODA và vay ưu đãi nước ngoài, với vai trò là cơ quan được Chính phủ giao, Bộ Tài chính tổ chức hội nghị lần này với sự tham dự của các bộ, ngành chủ dự án và các đối tác phát triển nhằm bàn giải pháp hữu hiệu để giải ngân.
Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng khẳng định, muốn thúc đẩy tiến độ giải ngân của các dự án, các bộ, ngành chủ đầu tư không thể không có sự chung tay vào công tác giải ngân nguồn vốn ODA.
Báo cáo tại Hội nghị, Cục Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại (Bộ Tài chính) cho biết một số nội dung và nguyên nhân cơ bản dẫn đến việc chậm trễ trong công tác giải ngân vốn ODA:
Kế hoạch đầu tư công trung hạn bố trí thiếu so với nhu cầu: Tổng kế hoạch vốn đầu tư công trung hạn nguồn vốn vay nước ngoài đã được Quốc hội thông qua là 360 nghìn tỷ đồng (bao gồm cả quyết định bổ sung 60 nghìn tỷ đồng theo Nghị quyết 71 của Quốc hội).
Theo thống kê của Bộ Tài chính, hiện có 26 khoản vay với tổng trị giá là 3.463 triệu USD ký mới từ năm 2016 đến nay, có nhu cầu giải ngân nhưng chưa được đưa vào Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016-2020.
Kế hoạch đầu tư công 2019 phân bổ chậm: Việc thông báo kế hoạch vốn năm 2019 của các Bộ ngành và địa phương hiện đang triển khai rất chậm. Đến nay, Bộ Kế hoạch và Đầu tư mới giao kế hoạch bằng 48% kế hoạch vốn Quốc hội giao. Tình trạng này dẫn đến việc rất nhiều Bộ ngành và địa phương không có nguồn vốn để giải ngân, trong khi nhu cầu thực hiện các dự án là rất cấp bách.
Bên cạnh đó, việc đưa vào Tabmis để Bộ Tài chính thực hiện kiểm soát chi ở các bộ ngành địa phương cũng vẫn còn chậm. Cá biệt có tới 5 địa phương vẫn chưa thực hiện việc nhập Tabmis là Hưng Yên, Thái Bình, Long An, Tây Ninh và Cao Bằng.
Việc bố trí vốn thiếu so với kế hoạch và tiến độ triển khai cũng như so với cam kết của các hiệp định vay đang là mối quan tâm của cả chủ dự án và các nhà tài trợ. Chỉ tính riêng nhóm các dự án của 6 nhà tài trợ phát triển đã có trên 60 dự án chưa được bố trí đủ kế hoạch vốn năm 2019 theo đúng nhu cầu, với nhu cầu vốn cần bổ sung là trên 34 ngàn tỷ đồng.
Tình trạng giao kế hoạch kế hoạch vốn chưa đúng, chưa đủ vẫn còn tồn tại cá biệt có một số dự án đã hết thời hạn giải ngân nhưng vấn được bố trí kế hoạch vốn.... Ví dụ Dự án Xây dựng Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội; Dự án Tăng cường hệ thống y tế tuyến tỉnh - tỉnh Thanh Hóa; Chương trình đào tạo nghề 2008 (Đức).
Điều chỉnh kế hoạch vốn đầu tư công chậm: Việc điều chỉnh kế hoạch vốn ở các dự án và các tiểu dự án diễn ra thường xuyên và liên tục ở tất cả Bộ ngành và địa phương.
Tuy nhiên, thủ tục điều chỉnh kế hoạch vốn theo quy định là rất phức tạp qua nhiều cấp, dẫn đến thủ tục điều chỉnh bị kéo rất dài. Nhiều trường hợp dự án đến khi được điều chỉnh thì đã hết thời hạn giải ngân và lại phải xin gia hạn dự án, gia hạn giải ngân kéo theo nhiều thủ tục pháp lý rất phức tạp.
(Ví dụ dự án Nâng cấp đô thị đồng bằng sông Cửu Long, dự án Phát triển đô thị loại vừa vay vốn WB, dự án Đường hành lang ven biển phía Nam, dự án Phát triển nông thôn tổng hợp miền Trung vay vốn ADB, Dự án Thu gom, xử lý nước thải TP Vũng Tàu vay vốn Chính phủ Pháp...).
Trong khi đó, việc điều chỉnh kế hoạch tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư được thực hiện theo từng đợt. Từ đầu năm đến nay đã có 3 đợt đề xuất điều chỉnh với 350 dự án, nhưng đến nay các đề xuất này vẫn chưa được các cấp có thẩm quyền phê duyệt. Trong nhiều năm nay, việc rà soát, tổng hợp trình Chính phủ, Quốc hội và hoàn thành thủ tục điều chỉnh thường đến gần cuối năm mới hoàn thành dẫn đến dự án không còn thời gian triển khai.
Qua theo dõi, Bộ Tài chính nhận thấy việc chuẩn bị các thủ tục đầu tư của dự án thường kéo dài, trong một số trường hợp việc chuẩn bị đầu tư kéo dài dẫn đến thời gian triển khai dự án là không đủ và chủ dự án buộc phải làm thủ tục xin gia hạn thời gian thực hiện dự án. Từ đầu năm đến nay, đã có 37 Hiệp định vay đã phải làm thủ tục gia hạn với nhà tài trợ.
Mọi thay đổi về quy mô, phạm vi, nội dung và sử dụng vốn dư đều cần phải thực hiện thủ tục điều chỉnh chủ trương đầu tư dẫn đến kéo dài thời gian thực hiện dự án. Số dự án phải làm thủ tục điều chỉnh chủ trương đầu tư trong nửa đầu năm 2019 là 26 chương trình, dự án.
Điển hình là các dự án đường sắt đô thị với tổng vốn đã ký kết gần 4,5 tỷ USD trong đó 4/7 dự án đang trong giai đoạn thực hiện điều chỉnh tổng mức đầu tư. Việc bố trí nguồn vào giải ngân cho các dự án này đến nay vẫn đang đình trệ.
Thiếu vốn đối ứng: Để có thể nhanh chóng ký kết dự án, nhiều bộ ngành và địa phương đã cam kết bố trí đủ vốn đối ứng để thực hiện dự án. Tuy nhiên, trên thực tế có rất nhiều dự án chưa được bố trí hoặc bố trí không đủ vốn đối ứng dẫn đến việc triển khai các dự án là rất chậm.
Tính sẵn sàng của dự án còn thấp: Trong nhiều trường hợp, các dự án mặc dù được bố trí đủ kế hoạch vốn nhưng công tác triển khai rất chậm.
Điều này cho thấy, công tác chuẩn bị dự án còn nhiều bất cập. Đặc biệt là các vấn đề liên quan đến tư vấn thiết kế dự án, việc triển khai công tác giải phóng mặt bằng, tái định cư... thường là nguyên nhân chính dẫn đến việc chậm triển khai dự án (Dự án nâng cấp Quốc lộ 217 vay vốn ADB; Dự án Y tế tuyến tỉnh vốn vay KFW).
Theo quy định của Luật Quản lý nợ công, việc cho vay lại theo cơ chế cơ quan cho vay lại không chịu rủi ro tín dụng chủ yếu được thực hiện qua Ngân hàng Phát triển Việt Nam. Tuy nhiên, công tác thẩm định tài chính, thẩm định tài sản đảm bảo, ký kết và quản lý hợp đồng ủy quyền cho vay lại thường chậm. Ví dụ: Dự án khoản vay truyền tải điện 3 vay vốn ADB, Dự án nâng cao chất lượng đại học vay vốn WB...
Vướng mắc khi thẩm định cho vay lại địa phương: Chủ yếu do các địa phương không đáp ứng được các điều kiện được vay lại nguồn vốn ODA và vay ưu đãi của Chính phủ như:
Thứ nhất, dự án chưa có kế hoạch đầu tư công trung hạn vốn Ngân sách Trung ương được giao trong giai đoạn thực hiện (Thẩm định dự án của 18 tỉnh thì có 16 tỉnh không có kế hoạch đầu tư công trung hạn).
Thứ hai, địa phương có nợ vay lại vốn vay ODA, vay ưu đãi nước ngoài quá hạn trên 180 ngày (có 2/18 tỉnh).
Thứ ba, ngoài ra, công tác thẩm định Cho vay lại của địa phương đôi khi bị kéo dài do phải chờ địa phương bổ sung, hoàn chỉnh hồ sơ thẩm định theo qui định.
Số đơn vị gửi hồ sơ làm thủ tục rút vốn niên độ 2019 thấp: Tính đến nay, có 4 cơ quan trung ương, và 38 địa phương vẫn chưa làm thủ tục giải ngân với Bộ Tài chính. Hiện tại, mới có 6 cơ quan trung ương và 22 địa phương đã là thủ tục giải ngân trong 6 tháng đầu năm. Trong đó, các cơ quan có tỷ lệ giải ngân cao nhất là Bộ Giao thông vận tải và Bộ Văn hóa Thể thao du lịch, thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Bình Dương.
Tình trạng hồ sơ rút vốn sai, thiếu thủ tục vẫn còn phát sinh, điển hình như đơn đề nghị rút vốn các khoản chi không đúng chế độ; chi tư vấn quản lý dự án, thực hiện dự án; chi mua ô tô khi chưa được Thủ tướng Chính phủ cho phép; tạm ứng khi chưa có quyết định giao dự toán vốn..v.v.
Thời gian xử lý kéo dài: Do các vướng mắc về hồ sơ rút vốn, nhiều trường hợp các chủ dự án phải bổ sung, giải trình hồ sơ dẫn đến thời gian xử lý đơn rút vốn bị kéo dài.
Đối với một số dự án có thời gian tiếp nhận, xử lý hồ sơ kéo dài, thông báo nhận nợ chưa kịp thời, gây ra độ trễ về thông tin, ảnh hưởng đến các thủ tục hạch toán NSNN của các chủ dự án như các dự án vay vốn Italia, Kuwait...
Quy định về chuyển nguồn, hạch toán GTGC, tài khoản tạm ứng: Chủ dự án chậm làm thủ tục GTGC, làm ảnh hưởng đến việc tổng hợp số liệu báo cáo và duyệt đơn rút vốn. Chủ dự án chậm báo cáo tất toán các khoản tạm ứng từ tài khoản đặc biệt với nhà tài trợ, ảnh hưởng đến chỉ số giải ngân chung.
Tiến độ giải ngân các dự án ODA chậm, không chỉ các khoản vốn ODA mà ngay cả ngân sách của Nhà nước cũng chậm, gây tác động không tích cực tới phát triển.
Các cổ đông của 6 nhà tài trợ luôn quan ngại các dự án phải được giải ngân nhanh, để đưa ra các mặt tích cực về phát triển. Thời gian qua, Việt Nam có tốc độ giải ngân nhanh và đạt được nhiều thành tựu, tuy nhiên, trong mấy năm qua tốc độ bị chậm lại, trung bình chỉ bằng ½ so với giai đoạn trước và ½ so với các quốc gia khác đang nhận tài trợ của chúng tôi.
Đây là vấn đề quan ngại lớn. Chúng tôi đã trao đổi với ủy ban quản lý vốn ODA của Việt Nam và Bộ Tài chính".
Ông Eric Sidgwick – Giám đốc Quốc gia ADB tại Việt Nam đại diện cho 6 nhà tài trợ phát biểu.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế ở hầu hết các quốc gia, trong đó có Việt Nam.
có nhiều loại công cụ chính sách được sử dụng, trong đó có chính sách thuế.
Bài viết đánh giá thực trạng chính sách thuế nhằm thu hút doanh nghiệp có vốn FDI tại Việt Nam. Qua đó, chỉ ra những vấn đề đối với chính sách thuế trong điều kiện mới và đề xuất một số khuyến nghị về chính sách nhằm thu hút FDI hiệu quả.
Thu hút doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (DN FDI) đầu tư tại Việt Nam là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta trong suốt hơn 30 năm đổi mới. Cùng với các chính sách khác, chính sách thuế đã đóng góp tích cực trong thu hút DN FDI đầu tư vào Việt Nam và được điều chỉnh tùy theo điều kiện kinh tế - xã hội (KT-XH) cụ thể. Chính sách thuế tập trung chủ yếu vào thuế thu nhập DN (TNDN), thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và các khoản thu về đất. Có thể nhận diện những thay đổi về chính sách thuế theo 4 giai đoạn cải cách thuế sau:
Để hiện thực hóa chủ trương “phải tranh thủ các nguồn vốn bên ngoài với mức cao nhất” của Đảng Cộng sản Việt Nam được thông qua tại Đại hội VI, Chính phủ, Quốc hội đã xây dựng và thông qua Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Theo đó, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được Quốc hội khoá VIII, kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 29/12/1987.
Luật này đã tạo khung pháp lý cơ bản để nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt Nam như: Bảo đảm quyền sở hữu đối với vốn đầu tư và các quyền lợi khác của các tổ chức, cá nhân nước ngoài; quy định về các hình thức đầu tư, thủ tục đầu tư, chuyển lợi nhuận ra nước ngoài…
Trong giai đoạn cải cách thuế bước 1 (bắt đầu từ cuối những năm 1980), DN FDI được áp dụng thuế suất thuế phổ thông của thuế lợi tức ở mức 25%. Trong khi đó, các DN trong nước áp dụng các mức thuế suất thuế lợi tức 30%, 40% và 50% tùy theo ngành nghề kinh doanh (Luật Thuế lợi tức năm 1990). Ngoài ra, DN FDI còn được hưởng các mức thuế suất ưu đãi 10%, 15% và 20% áp dụng đối với các dự án khuyến khích đầu tư; được miễn thuế lợi tức tối đa 4 năm kể từ khi bắt đầu kinh doanh, giảm 50% số thuế lợi tức phải nộp tối đa trong 4 năm tiếp theo, tùy theo ngành nghề đầu tư hoặc địa bàn hoạt động. Trường hợp DN sử dụng lợi nhuận thu được để tái đầu tư thì được hoàn lại số thuế lợi tức đã nộp cho phần lợi tức sử dụng để tái đầu tư.
Để thực hiện chính sách khuyến khích thu hút đầu tư nước ngoài, Luật Thuế Xuất khẩu, thuế nhập khẩu năm 1991 quy định một số trường hợp miễn thuế như: Tài sản cố định của DN FDI nhập khẩu; nguyên liệu nhập khẩu để gia công hàng xuất khẩu; hàng tạm nhập tái xuất để dự hội chợ triển lãm; hàng nhập khẩu chuyên dùng phục vụ khoa học, giáo dục, đào tạo... .
Từ năm 1995, Việt Nam thực hiện cải cách thuế bước 2 trong bối cảnh đã mở cửa nền kinh tế với việc tham gia một số hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương.
- Về thuế TNDN: Theo Luật Thuế TNDN năm 1997 có hiệu lực từ ngày 1/1/1999 đến hết năm 2003, DN FDI được áp dụng thuế suất phổ thông 25% trong khi các DN trong nước áp dụng thuế suất phổ thông 32%. Về ưu đãi thuế, DN FDI được miễn thuế 2 năm, giảm 50% số thuế phải nộp trong 2 năm tiếp theo và có thể lên đến 4 năm nếu đạt nhiều tiêu chuẩn khuyến khích đầu tư. Đối với trường hợp đặc biệt khuyến khích đầu tư, thời gian miễn thuế cho DN FDI lên đến 8 năm. Nhìn chung, mức độ ưu đãi thuế TNDN cho DN FDI trong giai đoạn này cao hơn DN trong nước.
- Về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu: Theo Luật Thuế Xuất khẩu, thuế nhập khẩu 2005, việc ưu đãi thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu cũng được thực hiện thống nhất giữa DN trong nước với DN FDI. Định hướng ưu đãi thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu của giai đoạn này là khuyến khích nhập khẩu máy móc thiết bị, vật tư, nguyên liệu phục vụ cho sản xuất hơn là hàng thuế TNDN; khuyến khích xuất khẩu hàng đã qua chế biến hơn là nguyên liệu thô.
- Về các khoản thu liên quan đến đất đai: Sự ra đời của Luật Đất đai năm 1993 đã đánh dấu bước phát triển quan trọng trong chính sách tài chính đất đai bằng hàng loạt các quy định tiến bộ, phù hợp với cơ chế thị trường. Các chính sách về thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, thuê mặt nước được hướng dẫn rõ ràng, đầy đủ; các quy định về miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, thuê mặt nước đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu tư của các DN nói chung và DN FDI nói riêng.
Theo Bộ Tài chính (2018), giai đoạn 2001-2010, nền kinh tế đã có những bước phát triển khá sau nhiều năm thu hút vốn FDI và áp dụng Luật Khuyến khích đầu tư trong nước. Trong giai đoạn này, Việt Nam đã tiến hành cải cách thuế giai đoạn 3 với trọng tâm của cải cách là hướng vào thực hiện 3 mục tiêu: Đơn giản, công bằng, hiệu quả.
Điều này có nghĩa là, việc thu hút vốn đầu tư nói chung và vốn FDI nói riêng, không chỉ dựa trên cơ sở ưu đãi thuế mà còn dựa trên cơ sở cải cách toàn diện hệ thống thuế để tạo môi trường đầu tư và kinh doanh thuận lợi và công bằng.
- Về thuế TNDN: Luật Thuế TNDN năm 2003, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2004, đã thống nhất nghĩa vụ thuế và ưu đãi thuế giữa DN trong nước với DN FDI. Theo đó, mức thuế suất thuế TNDN phổ thông áp dụng chung cho tất cả các loại hình DN là 28%. Mức thuế suất này được điều chỉnh giảm xuống 25% kể từ ngày 1/1/2009 theo Luật Thuế TNDN (sửa đổi) năm 2008.
Giai đoạn này, các DN thành lập mới tiếp tục được hưởng các mức thuế suất thuế TNDN ưu đãi 10%, 15% và 20% tùy theo lĩnh vực đầu tư hoặc địa bàn ưu đãi đầu tư. Ngoài ra, các DN còn được hưởng ưu đãi về thu nhập miễn thuế đối với một số khoản thu nhập do từ hợp đồng nghiên cứu khoa học, từ sản xuất sản phẩm thử nghiệm…
- Về quản lý thuế: Một điểm nhấn quan trọng trong chính sách thuế là việc lần đầu tiên ở Việt Nam một văn bản pháp lý chung về quản lý thuế được ban hành với sự ra đời của Luật Quản lý thuế 2006, áp dụng từ 1/7/2007. Sau đó là hàng loạt những thay đổi của chính sách và pháp luật thuế theo hướng công khai, đơn giản, minh bạch; hiện đại hóa hệ thống quản lý thuế; cải cách thủ tục hành chính thuế để cải thiện môi trường đầu tư và kinh doanh.
- Về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu: Trong giai đoạn này, chính sách ưu đãi về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu tiếp tục kế thừa các ưu đãi thuế của giai đoạn trước. Theo đó, việc miễn thuế nhập khẩu tiếp tục được duy trì đối với nguyên liệu, vật tư nhập khẩu để gia công hàng xuất khẩu; máy móc, thiết bị nhập khẩu để tạo tài sản cố định của dự án khuyến khích đầu tư; miễn thuế đối với hàng kinh doanh tạm nhập tái xuất; miễn thuế đối với hàng hóa nhập khẩu chuyên dùng cho nghiên cứu khoa học, giáo dục đào tạo…
Đặc biệt, trong giai đoạn này, Việt Nam tiếp tục hội nhập quốc tế sâu rộng với việc ký kết và thực hiện nhiều hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương, trở thành thành viên chính thức của WTO từ năm 2007… Đi cùng với quá trình đó là việc cắt giảm thuế nhập khẩu và hoàn thiện các chính sách ưu đãi xuất khẩu và thu hút đầu tư nước ngoài.
- Về các khoản thu liên quan đến đất đai: Thực hiện Luật Đất đai năm 2003, Chính phủ đã ban hành các nghị định quy định về tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, thuế mặt nước nhằm hỗ trợ DN đầu tư và kinh doanh. Trong các nghị định này, Chính phủ đã quy định các chính sách miễn tiền thuê đất, thuê mặt nước với các dự án khuyến khích đầu tư theo lĩnh vực hoặc địa bàn đầu tư, lĩnh vực xã hội hóa…
Các chính sách ưu đãi và thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của nước ta hiện nay nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cấp công nghệ, tạo việc làm, giảm bớt bất bình đẳng và các mục tiêu xã hội khác.
Để tận dụng tốt hơn dòng vốn FDI cho phát triển kinh tế, tạo ra sự liên kết với các doanh nghiệp trong nước, tác động lan tỏa tích cực hơn và nâng cao giá trị gia tăng cho khu vực kinh tế trong nước, Việt Nam cần hoạch định chính sách ưu đãi thu hút FDI vào Việt Nam trong bối cảnh mới.
Đánh giá thực trạng chính sách ưu đãi thu hút FDI
Các chính sách ưu đãi thu hút đầu tư
Các chính sách ưu đãi và thu hút vốn FDI nhằm khuyến khích đầu tư vào địa bàn hoặc lĩnh vực mà Chính phủ định hướng hoạt động đầu tư. Do Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường nên môi trường đầu tư vẫn còn nhiều hạn chế như: Kết cấu hạ tầng kém phát triển, thiếu đồng bộ về khung khổ pháp lý, tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo còn ở mức cao. Bởi vậy, việc ban hành và áp dụng chính sách ưu đãi thu hút đầu tư là cần thiết để bù đắp những hạn chế còn tồn tại, đặc biệt là trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh thu hút FDI.
Luật Đầu tư năm 2014 đã quy định 13 nhóm lĩnh vực và 3 loại địa bàn khuyến khích đầu tư và giao cho Chính phủ quy định cụ thể các lĩnh vực, địa bàn được hưởng chính sách ưu đãi thuế. Theo đó, mức độ ưu đãi về thuế cụ thể được quy định trong pháp luật thuế. Các quy định về ưu đãi thu hút FDI được cụ thể hóa tại các văn bản pháp luật sau: Luật Đầu tư 2014, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp (DN) sửa đổi 2013, Luật Thuế xuất khẩu, nhập khẩu 2016, Nghị định số 118/2015/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư; Nghị định số 123/2017/NĐ-CP sửa đổi một số điều quy định về thu tiền sử dụng đất, thu tiền thuê đất, thuê mặt nước; Nghị định số 57/2018/NĐ-CP về cơ chế, chính sách khuyến khích DN đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn; Luật Sử dụng đất phi nông nghiệp 2010...
Thông thường, các DN tại Việt Nam được hưởng chính sách ưu đãi cả về thuế và tài chính. Các ưu đãi phổ biến đó là miễn hoặc giảm thuế; miễn giảm thuế nhập khẩu; miễn giảm thuế thu nhập DN; cho thuê đất với mức giá ưu đãi. Những tiêu chí quan trọng để xác định loại hình và quy mô ưu đãi bao gồm: (i) Địa điểm đầu tư (Dự án diễn ra ở địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn hay đặc biệt khó khăn, một số khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao); (ii) Lĩnh vực đầu tư (Đầu tư trong lĩnh vực và ngành nghề được hưởng ưu đãi đầu tư hoặc đặc biệt ưu đãi đầu tư). (iii) Số lượng việc làm tạo ra (Dự án đầu tư tại vùng nông thôn sử dụng từ 500 lao động trở lên); (iv) Ưu đãi theo tổng mức đầu tư (Đầu tư vào các dự án sản xuất lớn với tổng vốn đầu tư từ 6 nghìn tỷ đồng trở lên và đáp ứng một số điều kiện khác).
Tóm lại, mục tiêu của các chính sách ưu đãi và thu hút đầu tư của nước ta hiện nay là nhằm tăng thu hút nguồn vốn FDI, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cấp công nghệ, tạo việc làm, giảm bớt bất bình đẳng và các mục tiêu xã hội khác. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy rằng, mục tiêu của các loại chính sách ưu đãi thu hút đầu tư của Việt Nam còn mang tính chất khá đa dạng, dàn trải và đôi khi các mục tiêu của chính sách còn chưa rõ ràng, chồng chéo.
Những kết quả của chính sách ưu đãi thu hút FDI
Trong những năm qua, việc giảm gánh nặng thuế và đa dạng hóa các hình thức ưu đãi thuế đã góp phần tạo ra môi trường đầu tư thuận lợi để thu hút vốn FDI. Nhờ đó, dòng vốn FDI vào Việt Nam liên tục tăng qua các năm. Đến hết năm 2018, Việt Nam đã thu hút được 29792 dự án với tổng số vốn đăng ký lũy kế khoảng 400 tỷ USD. Riêng năm 2018, vốn FDI ước thực hiện đạt 19,1 tỷ USD, tăng 9,1% so với năm 2017.
Trong ba thập kỷ qua, khu vực FDI đóng vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam. Năm 2018, khu vực FDI chiếm 23,4% tổng vốn đầu tư của cả nước. Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu năm 2018 ước tính đạt 244,7 tỷ USD, tăng 13,8% so với năm 2017, trong đó, khu vực FDI (kể cả dầu thô) đạt 175,5 tỷ USD, tăng 12,9% so với 2017.
Độ mở của nền kinh tế ngày càng lớn, năm 2018, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ so với GDP đạt 208,6%, điều này chứng tỏ Việt Nam khai thác được thế mạnh của kinh tế trong nước; đồng thời, tranh thủ được thị trường thế giới. Tỷ trọng đóng góp của khu vực FDI trong GDP tăng lên đã góp phần thay đổi cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa. Giai đoạn 2010 - 2018, lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ đã tăng bình quân 6,9% và 6,3%. Tỷ trọng lĩnh vực nông nghiệp giảm từ 21,6% năm 2005 xuống 16,7% (năm 2017); tỷ trọng dịch vụ trong GDP tăng từ 40,3% (năm 2005) lên 43,8% (năm 2017) và tỷ trọng công nghiệp trong GDP tăng từ 38% (năm 2005) lên 39,5% (năm 2017).
Khu vực FDI không chỉ tạo động lực tăng trưởng kinh tế mà còn góp phần tạo việc làm cho người lao động. Số lượng lao động làm việc trong khu vực FDI đã tăng từ 358.500 người năm 2000 lên 4.207.400 người vào năm 2017. Tỷ lệ lao động làm việc trong khu vực FDI so với tổng số lao động của toàn bộ nền kinh tế đã tăng từ 1% (năm 2000) lên 7,8% (năm 2017).
Một số hạn chế trong thu hút FDI
Việt Nam hiện đang áp dụng các chính sách ưu đãi cao, thu hút các dự án đầu tư vào một số lĩnh vực như: Nông nghiệp, chế biến nông sản, thủy sản, sản xuất phần mềm và năng lượng tái tạo. Tuy nhiên, đến nay, tỷ trọng thu hút FDI vào lĩnh vực nông nghiệp còn khá thấp. Nông nghiệp chiếm khoảng 15,34% GDP cả nước (năm 2017), nhưng tỷ trọng đầu tư vào ngành Nông nghiệp chỉ chiếm gần 6% tổng vốn đầu tư toàn xã hội (Tổng cục Thống kê, 2019). Tỷ trọng vốn FDI đầu tư trong ngành Nông nghiệp còn hạn chế, chỉ chiếm gần 1,1% tổng số vốn FDI đăng ký năm 2017. Hầu hết vốn FDI tập trung vào lĩnh vực chế biến, chế tạo và kinh doanh bất động sản. Năm 2017, hai lĩnh vực này thu hút được 75% vốn FDI đăng ký.
Để thu hút đầu tư vào các địa bàn kém phát triển, các chính sách ưu đãi thuế ở mức cao đang được áp dụng đối với DN tại các địa bàn này. Tuy nhiên, số liệu thực tế cho thấy, hiệu quả thu hút đầu tư vào các khu vực này là rất thấp. Các địa bàn kém phát triển gặp nhiều khó khăn trong thu hút đầu tư do những hạn chế về vị trí địa lý, kết cấu hạ tầng và chất lượng nguồn nhân lực. Ngược lại, các địa phương thu hút được nhiều dự án đầu tư chủ yếu là các tỉnh, thành phố có hệ thống kết cấu hạ tầng tốt, vị trí địa lý gần các thành phố lớn, thuận tiện về giao thông, gần cảng biển, đường cao tốc và có tỉ lệ lao động đã qua đào tạo cao hơn mức trung bình cả nước.
Trong khi đó, nhiều khu kinh tế, khu công nghiệp tại địa bàn kém phát triển có tỷ lệ bỏ trống vẫn còn cao và thu hút được ít vốn, mặc dù được hưởng ưu đãi thuế ở mức cao. Cụ thể, tỷ lệ lấp đầy các khu công nghiệp đã đi vào hoạt động của nước ta đến hết 2018 là khoảng 73%. Tuy nhiên, tỷ lệ này tại nhiều tỉnh miền núi phía Bắc, Tây Nguyên thấp hơn rất nhiều so với mức trung bình của cả nước (khoảng trên dưới 30%).
Các vùng có kết cấu hạ tầng tốt, có tỷ lệ lao động được đào tạo cao vẫn tiếp tục là những địa phương có tỷ trọng thu hút vốn FDI cao nhất ở Việt Nam. Cụ thể, có khoảng 27,7% vốn FDI đăng ký năm 2017 tại vùng Đồng bằng sông Hồng. Vùng Đông Nam Bộ thu hút được 42,4% tổng số vốn FDI đăng ký.
Để thu hút vốn FDI vào các vùng sâu, vùng xa, Đảng, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách ưu đãi, tuy nhiên, tỷ trọng thu hút FDI vào các địa bàn này vẫn còn rất thấp. Đến hết năm 2017, chỉ có 4,7% vốn FDI đăng ký đầu tư tại vùng Miền núi và Trung du Bắc Bộ (Tổng cục Thống kê, 2019).
Sự chuyển giao công nghệ giữa các DN FDI và các DN trong nước chưa như kỳ vọng. Có DN Nhật Bản khi đầu tư tại Việt Nam phải nhập khẩu nguồn nguyên liệu đầu vào cho sản xuất lên tới 95% tổng số nguyên liệu. Lý do là không có DN nội địa Việt Nam nào đáp ứng đủ được điều kiện đầu vào do DN FDI đặt ra. Điều này được lý giải bởi các DN FDI thường có các nhà cung cấp truyền thống trước khi tham gia thị trường Việt Nam.
Hiện nay, tại Việt Nam vẫn còn tình trạng chuyển giá, báo lỗ của các DN FDI. Mặc dù, các DN FDI liên tục báo lỗ nhưng vẫn tiếp tục đầu tư mở rộng sản xuất. Tình trạng trục lợi từ chính sách ưu đãi thu hút FDI vẫn diễn ra là do Chính sách ưu đãi thuế có thời hạn, ưu đãi về thời gian miễn giảm thuế có xu hướng thu hút các dự án đầu tư ngắn hạn, thay vì các dự án đầu tư dài hạn và sau khi hết kỳ hạn ưu đãi thuế, DN FDI có xu hướng thay đổi dự án đầu tư hiện tại thành dự án mới về mặt pháp lý, để tiếp tục được hưởng ưu đãi thuế.
Mặc dù, chiếm tỷ lệ không nhiều liên quan đến các vấn đề môi trường, nhưng các vi phạm của các DN FDI bị phát hiện lại có tác động rất lớn đến đời sống nhân dân và môi trường. Các vụ vi phạm này cũng bộc lộ sự thiếu trách nhiệm trong quản lý của các cơ quan chức năng có liên quan.
Nguyên nhân của những hạn chế và tồn tại
Có thể phân chia nguyên nhân của những hạn chế về chính sách ưu đãi thu hút đầu tư FDI theo 2 nhóm sau: Nhóm liên quan đến quá trình thiết kế chính sách và nhóm liên quan đến quá trình thực thi chính sách.
Các nguyên nhân đến từ quá trình thiết kế chính sách
Thứ nhất, chưa nhất quán giữa các mục tiêu của chính sách ưu đãi thu hút FDI. Ví dụ như đồng thời thu hút đầu tư vào địa bàn khó khăn và vào khu công nghiệp, khu chế xuất; đồng thời, ưu đãi thu hút đầu tư dự án công nghệ cao và các dự án sử dụng nhiều lao động thường có công nghệ không cao.
Thứ hai, chưa nhất quán giữa mục tiêu và biện pháp thực hiện: Một trong những mục tiêu của chính sách ưu đãi thu hút là thu hút các DN FDI sử dụng công nghệ cao, tuy nhiên, việc ưu đãi lại bằng thuế, tiền thuê đất hoặc dựa trên số lao động mà không dựa trên các tiêu chí về công nghệ được sử dụng.
Thứ ba, các chính sách ưu đãi thu hút được áp dụng chung cho toàn bộ các tỉnh thành, chưa dựa trên lợi thế cạnh tranh, đặc thù của mỗi địa phương. Thực tế trên đã dẫn tới tình trạng cạnh tranh về thu hút FDI giữa các địa phương.
Thứ tư, các chính sách ưu đãi thu hút còn phức tạp, chồng chéo, nằm rải rác ở nhiều văn bản luật pháp khác nhau.
Các nguyên nhân đến từ quá trình thực thi chính sách
Thứ nhất, không theo dõi quá trình thực hiện chính sách: Các chính sách ưu đãi thu hút FDI được đưa ra, nhưng hiện vẫn chưa có một báo cáo chi tiết nào tổng kết đánh giá về kết quả quá trình thực hiện các chính sách ưu đãi thu hút FDI.
Thứ hai, chưa thực hiện đánh giá tác động đầy đủ của chính sách và chi phí lợi ích mà chính sách đạt được. Bất kỳ một chính sách nào khi đưa ra cũng cần phải thực hiện đánh giá chi phí lợi ích của chính sách nhằm đảm bảo rằng, chính sách ban hành có tác động tổng thể tích cực đến sự phát triển kinh tế - xã hội.
Thứ ba, các thủ tục để được nhận ưu đãi chưa minh bạch, vẫn còn cơ chế xin cho, một số chính sách ưu đãi được ban hành nhưng không có quy định về điều kiện và thủ tục để được hưởng ưu đãi. Điều này dẫn đến tình trạng DN gặp khó khăn vướng mắc trong việc xin xác nhận đối tượng được hưởng ưu đãi bởi cơ quan nhà nước.
Bối cảnh mới và những đòi hỏi thay đổi về chính sách ưu đãi thu hút FDI
Cách mạng công nghiệp 4.0 mang đến các cơ hội và thách thức mới cho toàn bộ nền kinh tế, trong đó có đầu tư FDI. Các nhà máy thông minh, công nghệ Internet vạn vật, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo sẽ tác động mạnh mẽ và làm thay đổi phương thức sản xuất hiện có. Cuộc cách mạng này sẽ kéo theo những thay đổi sâu sắc về thị trường sản xuất, lao động và cách thức sử dụng tài nguyên.
Tái cơ cấu nền kinh tế, trong đó đặt mục tiêu phát triển cao, nhưng tăng trưởng còn chưa ổn định và kém bền vững; nguồn lực phân bổ còn chưa vào nơi có hiệu quả cao nhất. Trong khi, mục tiêu đến năm 2035 trở thành nước có thu nhập trung bình cao và tới năm 2045 là nước thu nhập cao. Đây là một mục tiêu rất tham vọng và đòi hỏi nỗ lực rất cao của toàn hệ thống.
Bẫy thu nhập trung bình đặt ra không ít thách thức đối với Việt Nam; đặc biệt, nhiệm vụ là phải đưa đất nước vượt từ nước thu nhập trung bình thấp hiện nay sang nước thu nhập trung bình cao và trở thành nước thu nhập cao như mục tiêu đã đề ra vào năm 2045. Trong đó, việc thu hút FDI phù hợp với nhu cầu phát triển của đất nước được coi là một cách thức quan trọng để tránh được bẫy thu nhập trung bình.
Việt Nam tham gia ngày càng nhiều các FTA và các hiệp ước quốc tế về kinh tế, do đó cơ hội để đón nhận nguồn vốn đầu tư FDI cũng tăng mạnh hơn. Trong bối cảnh căng thẳng thương mại Mỹ - Trung Quốc vẫn đang tiếp tục diễn ra, dòng vốn của các tập đoàn nước ngoài tại Trung Quốc đang dần chuyển hướng sang các nước ASEAN, trong đó có Việt Nam. Trong đó, có những dòng vốn FDI phù hợp với định hướng phát triển của đất nước và cả những dòng vốn FDI không phù hợp với định hướng phát triển. Bởi vậy, vấn đề làm thế nào để thu hút và lựa chọn được các nhà đầu tư nước ngoài phù hợp với định hướng phát triển kinh tế của Việt Nam trong thời gian tới là rất quan trọng.
Chiến lược FDI thế hệ mới đang được xây dựng nhằm đáp ứng đòi hỏi phát triển của đất nước. Chiến lược này đưa ra là phải khắc phục những nhược điểm của FDI trong thời gian vừa qua, phát huy ưu điểm và tiếp tục thu hút FDI cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong thời gian tới. Các chính sách ưu đãi thu hút đầu tư FDI hiện hành cần phải được đánh giá lại về mục tiêu, về tác động, về chi phí và lợi ích để cải thiện và tăng cường hiệu quả của các chính sách này. Để làm được điều này, cần phải chú trọng các nội dung sau:
Thứ nhất, xác định các ngành, lĩnh vực ưu tiên, mục tiêu nhằm định hướng thu hút đầu tư một cách chủ động; đảm bảo sự nhất quán giữa mục tiêu thu hút đầu tư, thiết kế chính sách và việc thực thi chính sách.
Thứ hai, giảm ưu đãi dư thừa, giảm sự chồng chéo giữa các văn bản pháp luật về ưu đãi và thu hút đầu tư. Bởi ưu đãi thuế và tài chính có tác dụng không rõ rệt lên thu hút đầu tư bằng việc cải thiện môi trường kinh doanh và chất lượng hạ tầng.
Thứ ba, giảm thực hiện chính sách xã hội thông qua ưu đãi thuế mà thực hiện trực tiếp qua chính sách chi ngân sách. Các mục tiêu xóa đói, giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống người dân tại các khu vực nông thôn nên được thực hiện trực tiếp từ ngân sách, thay vì việc thông qua ưu đãi thu hút đầu tư
Thứ tư, tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế một cách mạnh mẽ và quyết liệt.
Thứ năm, thực hiện chính sách hỗ trợ "người thắng cuộc", tức là các chính sách ưu đãi và thu hút đầu tư dựa trên hiệu quả sản xuất kinh doanh của DN (chỉ các DN sản xuất kinh doanh có lãi mới được nhận các ưu đãi). Ví dụ, DN càng đạt lợi nhuận cao thì càng được ưu đãi hơn về miễn giảm thuế.
Thứ sáu, tạo khung ưu đãi chính sách chung cho phép các địa phương chủ động hơn trong các chính sách ưu đãi phù hợp với nhu cầu và mong muốn của địa phương. Tạo thương hiệu cho địa phương nhằm thu hút đầu tư chủ động.
Thứ bảy, cải cách hệ thống đào tạo nghề và hệ thống giáo dục đào tạo nói chung nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho toàn bộ nền kinh tế nói chung, trong đó đáp ứng đòi hỏi của các DN FDI.
Thứ tám, thống kê toàn diện, toàn bộ các chính sách ưu đãi thu hút FDI về thủ tục pháp lý và trên thực tế để thống kê, đơn giản hóa quá trình thực hiện; đo lường tác động chính sách và triển khai hệ thống giám sát, đánh giá. Hệ thống giám sát đánh giá với mục tiêu chính sách rõ ràng sẽ giúp đo lường hiệu quả của chính sách.
Theo kết quả khảo sát của Tổ chức Phát thực hiện vào năm 2011 đối với 1.426 DN công nghiệp tại 4 địa phương lớn của Việt Nam, gồm cả khu vực FDI và DN tư nhân trong nước, các yếu tố quan trọng nhất mà các nhà đầu tư quan tâm khi thực hiện đầu tư được sắp xếp theo các thứ tự sau: (1) Sự ổn định về kinh tế và chính trị, (2) Chi phí lao động, (3) Chính sách thuế, (4) Khung pháp lý và (5) Chất lượng kết cấu hạ tầng. Như vậy, bên cạnh việc điều chỉnh và cải thiện các chính sách ưu đãi thu hút đầu tư, Việt Nam cần tiếp tục nâng cao chất lượng và hiệu quả của các yếu tố đã nêu trên để hướng tới sự phát triển bền vững, thịnh vượng.
Cách mạng công nghiệp 4.0 (CMCN 4.0) đang tạo ra những biến chuyển mạnh mẽ trong đời sống kinh tế - xã hội, làm nảy sinh những vấn đề mới về pháp lý. Do đó, CMCN 4.0 đang đặt ra nhiều yêu cầu cấp bách về xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật của nước ta.
Đây là chủ đề chính của hội thảo khoa học quốc gia “CMCN lần thứ tư và những vấn đề pháp lý đặt ra cho việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam”, do Bộ Tư pháp chủ trì tổ chức chiều ngày 24/6.
Cơ hội và thách thức đan xen
Ông Nguyễn Hồng Tuyến – Vụ trưởng Vụ Các vấn đề chung về xây dựng pháp luật, Bộ Tư pháp cho rằng, Việt Nam đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, do đó, cuộc CMCN 4.0 mở ra nhiều cơ hội trong việc nâng cao trình độ công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất và cạnh tranh trong chuỗi sản phẩm. Bên cạnh đó, CMCN 4.0 cũng tạo ra sự thay đổi lớn về hình thái kinh doanh dịch vụ, tạo ra nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, giảm đáng kể chi phí giao dịch, vận chuyển, đồng thời cũng là cơ hội lớn cho sản xuất công nghiệp với trình độ khoa học và công nghệ tiên tiến.
Tuy nhiên, theo ông Tuyến, nếu không bắt kịp nhịp độ phát triển của thế giới và khu vực, đi chung trên “chuyến tàu CMCN 4.0”, Việt Nam sẽ phải đối mặt với những thách thức, tác động tiêu cực không mong muốn như tụt hậu về khoa học và công nghệ, suy giảm sản xuất, kinh doanh, dư thừa lao động có kỹ năng và trình độ thấp gây phá vỡ thị trường lao động truyền thống, ảnh hưởng tới tình hình kinh tế xã hội đất nước. Ngoài ra, có thể gây mất an toàn, an ninh thông tin, xâm phạm bản quyền, hay khả năng xuất hiện làn sóng đẩy công nghệ lạc hậu từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển và chậm phát triển…
Đồng quan điểm trên, ông Nguyễn Chí Dũng – Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết, tại Việt Nam trong vài năm gần đây, một số mô hình kinh doanh mới trong bối cảnh cuộc CMCN 4.0 đã hình thành, điển hình nhất là mô hình kinh tế chia sẻ. Trong đó, nổi lên 3 loại hình kinh tế chia sẻ gồm dịch vụ chia sẻ phương tiện giao thông (như Grab, dichung, fastgo…), dịch vụ lưu trú (như Airbnb, Travelmob…) và dịch vụ cho vay ngang hàng (chủ yếu tập trung vào các doanh nghiệp fintech)…
“Kinh tế chia sẻ sẽ giúp thị trường cạnh tranh hơn và loại hình dịch vụ đa dạng hơn, mang lại lợi ích cho người tiêu dùng, mở ra cơ hội đầu tư, tạo việc làm, tăng thêm thu nhập cho người lao động. Kinh tế chia sẻ cũng sẽ giúp tiết kiệm tài nguyên, tận dụng tối đa công suất tài sản dư thừa, cũng như thúc đẩy phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp ở Việt Nam...” – ông Dũng nói.
Cần đẩy nhanh tốc độ thiết kế và thực thi hiệu quả các chính sách
Phát biểu chỉ đạo tại hội thảo, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc cho rằng, Việt Nam đang đứng trước cơ hội rất lớn để thực hiện khát vọng xây dựng quốc gia thịnh vượng, hùng cường nếu có thể ứng dụng hiệu quả công nghệ lõi cách mạng 4.0 như trí tuệ nhân tạo, internet kết nối vạn vật, dữ liệu lớn, công nghệ chuỗi khối, điện toán đám mây… Chính công nghệ tiên tiến, chất lượng nguồn nhân lực và năng lực thể chế quyết định tăng trưởng trong dài hạn, là chìa khóa để đột phá vượt qua bẫy thu nhập trung bình.
Tuy nhiên, theo Thủ tướng, Việt Nam chưa tìm ra cách tiếp cận hiệu quả, chưa xây dựng được môi trường chính sách, pháp luật phù hợp để huy động nguồn lực tận dụng cơ hội đến từ CMCN 4.0. “Sự chậm trễ này đôi khi còn là rào cản, làm nhụt nhuệ khí đổi mới sáng tạo, làm nản tâm huyết cống hiến trí tuệ của lực lượng doanh nghiệp công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao, khiến chúng ta không thể đột phá mà còn tụt lại phía sau. Rõ ràng, một trong những yêu cầu cấp bách trong bối cảnh CMCN 4.0 là xây dựng, đổi mới và hoàn thiện thể chế, chính sách, pháp luật” – Thủ tướng nhấn mạnh.
Trước thực tế đó, Thủ tướng yêu cầu các bộ, ngành, địa phương cần đẩy nhanh tốc độ thiết kế và thực thi hiệu quả các chính sách, quy định pháp luật. Có thế mới phát huy được năng lực sáng tạo, chủ động của người dân, doanh nghiệp và các chủ thể xã hội khác trong kinh tế số và xã hội số. Đây chính là cơ hội lịch sử mà những người làm công tác pháp luật cần tích cực dấn thân, còn không đó là sự cản trở.
“Một điều quan trọng khác là tư duy làm chính sách, pháp luật trong CMCN 4.0 là xử lý các vấn đề mới cần những giải pháp vượt ra ngoài tư duy truyền thống. Muốn thúc đẩy đổi mới sáng tạo thì bản thân chính sách, cơ chế cũng phải thoáng, mở và sáng tạo. Cần ủng hộ về nguyên tắc việc triển khai các mô hình kinh doanh mới. Không vì lý do không quản được về công nghệ mà cản trở việc ứng dụng công nghệ mới mà phải kịp thời nâng cao năng lực quản lý, theo kịp với những biến chuyển rất nhanh của tình hình mới” – Thủ tướng nhấn mạnh./.
Để phục vụ việc xây dựng Chiến lược Phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2021 – 2030, sáng 24/6, Viện Kinh tế Việt Nam đã tổ chức hội thảo “Các giải pháp đột phá về thể chế nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam trong bối cảnh phát triển mới”.
Chủ nghĩa thành tích là một động lực tăng trưởng
Theo PGS.TS Trần Đình Thiên, nhìn tổng thể 30 năm đổi mới vừa qua, thành tích tăng trưởng và phát triển kinh tế của Việt Nam là rất tích cực. Tuy nhiên, song song với đó, nền kinh tế cũng xuất hiện những trở lực phát triển, làm triệt tiêu hoặc “chệch hướng” các động lực phát triển mới và ngày càng trở nên khó khắc phục.
Phân tích thực trạng các động lực tăng trưởng, PGS.TS Trần Đình Thiên chỉ ra rằng động lực tăng trưởng kinh tế của Việt Nam suy giảm liên tục kể từ sau giai đoạn đổi mới ngoạn mục. Điều này gợi lên nguyên nhân thuộc về cơ cấu nội tại của nền kinh tế chứ không phải là do sai sót chính sách nhất thời hay yếu kém riêng lẻ của bộ máy điều hành. Trong khi đó, một diễn biến nổi bật của tăng trưởng GDP là chúng ta luôn hoàn thành kế hoạch tăng trưởng hàng năm, luôn nỗ lực tối đa để đạt thành tích tăng trưởng ngắn hạn trong khi tăng trưởng dài hạn đang có vấn đề.
“Không nghi ngờ gì nữa, “chủ nghĩa thành tích” là một thứ động lực tăng trưởng rất mạnh của kinh tế Việt Nam, ít nhất cũng là trong thời gian kéo dài cho đến năm 2017” - nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam nhận định. Tính ngắn hạn này của tăng trưởng đã gây những méo mó về cơ chế và kìm giữ mô hình tăng trưởng kinh tế không còn phù hợp.
Tại cuộc hội thảo, các chuyên gia đã phân tích, mổ xẻ những “căn bệnh trầm kha” của nền kinh tế chưa được xử lý thời gian qua. Theo TS Lê Xuân Sang, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, có nhiều điểm nghẽn của nền kinh tế có thể kể đến như là: vấn đề bình đẳng giữa các thành phần kinh tế chậm được xử lý, doanh nghiệp nhà nước (DNNN) kém hiệu quả dù được ưu ái, trong khi DN tư nhân chậm phát triển và DN FDI ngày càng lớn mạnh; công nghiệp hỗ trợ yếu kém; các thể chế thúc đẩy tăng trưởng kinh tế có chất lượng bị lấn át bởi các hành vi trục lợi, móc ngoặc, thậm chí chiếm đoạt; chất lượng nguồn nhân lực, nhất là công chức, viên chức chậm cải thiện; tình trạng lãng phí, tham nhũng, sai phạm trong quản lý nhà nước, mua sắm công, đầu tư công còn kéo dài, chậm được xử lý…
Chính phủ kiến tạo đứng trước nhiều thách thức
Để giải quyết những điểm nghẽn, thúc đẩy tăng trưởng bền vững, từ năm 2014, Thủ tướng Chính phủ đã đưa ra thông điệp về một chính phủ kiến tạo phát triển. Tuy nhiên, theo TS Phạm Sỹ An, Viện Kinh tế Việt Nam, có rất nhiều chông gai, thách thức trong quá trình xây dựng chính phủ kiến tạo.
Khó khăn đầu tiên là xuất phát điểm của nền kinh tế khi xây dựng chính phủ kiến tạo ở mức rất thấp, nguồn lực có hạn, bội chi ở mức cao. Trong khi đó, tham nhũng là vấn nạn của nền kinh tế, làm tăng chi phí đầu tư, sản xuất và làm giảm động lực đầu tư vào công nghệ mới, sản phẩm mới. Một số khó khăn đáng kể nữa là lợi ích nhóm cản trở DN, cản trở sự cạnh tranh và giảm sức ép đổi mới; việc bảo vệ quyền tài sản cả hữu hình và vô hình còn yếu…
Trong giai đoạn tới, để tháo gỡ các nút thắt nói trên, TS Phạm Sỹ An cho rằng Chính phủ cần tập trung thực hiện một số giải pháp quan trọng. Đó là thúc đẩy mở cửa thương mại thông qua các hiệp định thương mại tự do. Hội nhập kinh tế quốc tế thông qua các hiệp định thương mại đòi hỏi phải thực hiện các cam kết mang tính thị trường nhiều hơn như giảm hỗ trợ của Nhà nước trong hoạt động sản xuất, giảm hàng rào thuế quan và phi thuế quan, đấu thầu công khai minh bạch, thực hiện quyền bảo hộ sở hữu trí tuệ… Các cam kết nếu được thực hiện nghiêm túc hoặc giám sát thực hiện nghiêm túc có thể tạo nên các ràng buộc “tự động” làm giảm các rào cản cản trở cạnh tranh và khuyến khích ứng dụng công nghệ trong quá trình sản xuất và kinh doanh.
Đồng thời, để thúc đẩy cạnh tranh, cần xóa bỏ chính sách bảo hộ độc quyền, đẩy nhanh quá trình cổ phần hóa DNNN. Thực hiện phối hợp hiệu quả giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ để nền kinh tế vĩ mô vận hành ổn định. Cần có lộ trình tiến tới tự do hóa giá cả và đi cùng với đó là thiết lập thị trường cạnh tranh bình đẳng.
Nhấn mạnh giải pháp phát triển thị trường, PGS.TS Trần Đình Thiên cho rằng cần xây dựng chiến lược phát triển đồng bộ các thị trường đầu vào, đặc biệt chú ý chiến lược phát triển thị trường đất đai theo tinh thần thừa nhận chế độ đa sở hữu, xây dựng hệ thống pháp luật thừa nhận, tôn trọng và bảo vệ các quyền tài sản của các chủ thể kinh tế, coi việc phát triển các thị trường đầu vào là nền tảng để tái cơ cấu kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng thành công.
Về phía bộ máy nhà nước, cần tích cực cải cách với hai nội dung lớn là xây dựng một nhà nước phục vụ phát triển và xây dựng một nhà nước thông minh, trong đó một nội hàm quan trọng là xây dựng “chính phủ số” và “đô thị thông minh”.
“Việt Nam là nền kinh tế có độ mở cửa cao. Để “bước vào” mà không bị “kéo lê” theo thời đại, Việt Nam cần một hệ động lực phát triển mới chứ không chỉ là hệ động lực cũ được đổi mới. Chỉ đổi mới hệ động lực cũ là không đủ bởi như vậy sẽ đẩy nền kinh tế vào thế tụt hậu xa hơn” - ông Trần Đình Thiên kết luận./.
Page 5 of 10